DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,482,716

Bữa Ăn - Trần Doãn Nho

Saturday, July 23, 201112:00 AM(View: 14196)
Bữa Ăn - Trần Doãn Nho

Trần Doãn Nho

tran_d_nho

Nhà văn Trần Doãn Nho sinh năm 1945 tại Huế, Cử Nhân Triết Học năm 1968, vào Sài Gòn học tiếp Cao Học tại Đại Học Văn Khoa, sắp trình luận án thì Miền Nam sụp đổ, phải vào tù nhà nước CSVN mất 6 năm. Ông đến Boston định cư từ năm 1993 và cầm bút lại sau 18 năm im lặng. Ông viết đã nhiều thập niên, trước 1975 viết cho Bách Khoa, Văn, Tân Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Đối Diện... Tại hải ngoại viết trên Văn Học, Hợp Lưu, Diễn Đàn Tự Do, Thế Kỷ 21, talawas... và nhiều websites văn học cũng trích đăng bài viết của anh.

Mặc dù viết về một thời đại đầy nhiễu nhương sóng gió, viết như một nhân chứng của lịch sử trong rất nhiều truyện và ký, văn của Trần Doãn Nho lại đượm đầy chất nhân đạo, điềm tĩnh, không hậm hực, thù hận quá đáng nhưng người đọc vẫn cảm nhận được những sai trái của chế độ độc tài và hiểu được vì sao người Việt bỏ nước mà đi.


Bữa Ăn

 

1.

Chiếc đồng hồ bên nhà ông Bá phát ra điệu nhạc thường lệ chuẩn bị điểm giờ. Ông Tám Toàn lắng nghe. Một, hai, ba...mười một. Mới mười một giờ, ông nghĩ. Ông ngoái nhìn ra phía cửa, lấy tay che ánh sáng ngọn đèn. Không có tiếng động. Chưa đứa nào về giờ này cả. Ông quay đầu lại lẩm bẩm:

- Có đứa về thì chắc chó xóm ngoài đã sủa. Mình rõ lẩm cẩm.

Ông vặn ngọn đèn lu lại. Trong góc phía đầu kia của căn nhà, bà Tám Toàn ngồi bất động, trông như một cái bóng mờ. Bà vẫn ngồi như thế hàng đêm, im lặng trong góc tối. Bà ưa bóng tối. Riêng ông, ông thích ánh sáng. Càng sáng càng tốt, để ông nhìn quanh, nhìn hoài nhìn mãi những vật quen thuộc trong căn nhà, dường như để có chất liệu mà nghĩ quanh nghĩ quẩn. Ông thích suy nghĩ. Thường chỉ nghĩ vẩn vơ, chẳng đâu vào đâu. Suy nghĩ làm người ta đỡ buồn. Một cách tập thể dục nội tâm, như một tờ tạp chí nào đó có đề cập. Vả lại, ông đâu có việc gì làm ngoài chuyện ngồi một chỗ và suy nghĩ. Ban ngày, ông ngồi phía bên kia, nhìn ra con hẻm nhỏ trước nhà, nơi diễn ra đủ thứ sinh hoạt hàng ngày. Ban đêm, ông đổi hướng, ngồi phía bên này, nhìn ra sau nhà , nơi tiếp giáp với chiếc hồ sen khá rộng. Khung cảnh hoang vu. Quanh hồ, các lùm tre, cây dại, lau sậy rủ xuống. Toàn cây và cây. Những đêm sáng trăng, khung cảnh sau nhà hiện ra mơ mơ hồ hồ, ma quái như trong chuyện liêu trai. Ông ngất ngây nhìn ngắm, tưởng tượng. Ông yêu thích cái hoang vắng, cô liêu, tịch mịch này. Không có người. Không có ai. Ông nhìn chúng, tự do, thoải mái, không băn khoăn, thắc mắc.

Đêm nay, trời không trăng. Cả vùng hồ đen thẩm hẳn. Mặt hồ chao động, lấp loáng phản chiếu những mảng sáng nhờ nhờ từ bầu trời sao. Ông Tám Toàn vẫn ngồi nhìn ra. Như mọi đêm. Luôn luôn như vậy. Bao năm, bao tháng đã trôi qua, ông cũng chẳng cần để ý. Y như công việc của ông là phải ngồi như thế. Chiếc bàn vuông, thấp, dựa vào tường, kế cửa sổ. Một bóng điện. Chiếc đèn dầu nhỏ. Một chồng sách cũ nhầu nát gồm có bộ Đông Châu Liệt Quốc, vài tập Tiếu Ngạo Giang Hồ, một cuốn Nhập Môn Triết Học , vài ba tờ báo Tuổi Trẻ, Công An Nhân Dân cũ. Hầu hết sách đều do Loan, đứa con gái đầu tìm mua đâu trong các chợ sách cũ ở Sài Gòn. Ông đọc đi, đọc lại, nghiền ngẫm và tự thưởng thức một mình. Thỉnh thoảng, ông đem vài mẫu chuyện ra kể cho cả nhà nghe như một đóng góp nghĩa vụ nhỏ nhoi cho gia đình, lấp đi một khoảng trống vắng vô tích sự mà một người cha như ông để lại. Có ai hiểu ông nói gì không, không cần thiết. Khi ông nói, bà Tám Toàn nhìn ông, chỉ nghe những chữ mà không nghe nghĩa, hoặc cũng chẳng buồn hiểu nghĩa để làm gì. Trong mấy đứa con, chỉ có Loan chia xẻ với ông một đôi điều. Ba đứa kia lơ đãng lắng nghe, đợi ông dứt câu để bàn tiếp câu chuyện của chúng.

Chó sủa xóm ngoài. Tất phải có một đứa về. Ông vặn ngọn đèn sáng lên một chút, đứng dậy, đi ra phía cửa lớn. Vài con khác sủa phụ họa. Tiếng động lớn dần. Ông nghe tiếng xe đạp lẻng kẻng. Cả xóm tối om. Mọi người ngủ kỹ. Một người đạp xe đi vào. Đi xe đạp thì không phải là con ông. Qua chút ánh sáng dọi từ nhà ra, ông nhận ra đó là một thanh niên. Lại là khách. Thấy ông, anh ta lên tiếng, giọng cụt ngủn:

- Nhà Loan ?

Ông Tám Toàn dè dặt:

- Vâng. Chú hỏi có chuyện gì?

- Ờ, thì ...hỏi cô Loan. Mà cô Loan có nhà không ?

- Tôi nói rồi: không. Chú quen ?

Giọng khách ngập ngừng:

- Không. Một người quen chỉ đến. Thế còn Lài, Dục ?

- Đi vắng hết. Nếu cần thì mai trở lại.

Trong bóng tối, không nhìn rõ khuôn mặt, nhưng ông cũng đoán được anh ta thất vọng như thế nào. Anh ta chần chừ một lát rồi quay xe, đạp đi. Ông trở vào. Tụi nó về sớm hơn thì có thêm một mối, ông nghĩ. Ông đụng bà Tám ngay cửa khi bước vào. Bà hỏi, giọng khẽ như hơi thở:

- Khách ?

- Có lẽ.

- Biết đâu, ai khác ?

Giọng ông gắt một cách hờ hững:

- Ai khác thì sao nào ?

- Tôi ngại...

- Ừ, thì ngại...

Cuộc đối thoại chấm dứt lặng lẽ. Bà Tám bước như cái bóng về lại góc nhà, ngồi xuống. Ông đóng cửa, gài chốt cẩn thận rồi cũng trở lại chỗ của ông, tiếp tục nhìn mông lung ra phía sau nhà. Lần này, đột nhiên trong trí tưởng ông bỗng hiện ra vô số những khuôn mặt người lạ xuất hiện trong căn nhà này. Tất cả đều lạ, hay nói cho đúng, ông đều cố tình cho là lạ, cho dù đôi khi , ông thấy có ai đó trông quen quen. Thỉnh thoảng đụng phải nhau, khách cũng như ông đều cố tình làm lơ. Chào hỏi nhau thôi đã thấy không tiện, phương chi lại phải nói chuyện với nhau. Khách đủ hạng đủ loại. Người đi xe đạp, người honda, người xe con Liên Xô, người đi bộ. Tuổi bằng ông hay có khi già hơn ông. Trẻ hơn con ông cũng không thiếu. Thỉnh thoảng có cả "tây", "tây" Liên Xô, "tây" Ba Lan, "tây" Tiệp. Rộn ràng vào đầu hôm, hoặc ngày cuối tuần. Có kẻ đến lúc tảng sáng. Cũng có kẻ gõ cửa vào giữa khuya, như anh chàng vừa rồi. Khách đông. Con ít. Đôi khi, ông tự nhủ: "Biết thế này, đẻ thêm chục đứa nữa để đáp ứng nhu cầu". Ông đem ý nghĩ này nói với bà Tám. Bà chua chát: "Ừ, cỡ chục đứa con gái nữa" . Ông cười phá lên: "Mẹ kiếp ! Nếu có thêm chục đứa nữa thì chắc bà và tôi sẽ có nhà lầu, chứ không đến nỗi ở nhà gỗ như thế này".

Chó lại sủa. Lần này, ông ngồi yên một chỗ, chờ đợi.

Vụ về. Bà Tám Toàn mở cửa, hắn lướt nhẹ vào như gió, vứt cái xách đâu đó rồi đi tắm. Tắm xong, trở ra, hắn bưng đèn đến góc nhà soạn đồ đạc. Bà Tám ngồi yên nhìn. Đủ thứ đồ lỉnh kỉnh: vải, đồng hồ, bút, thuốc, tiền lẻ...Hắn đưa một xấp vải bông cho bà Tám:

- Mẹ may áo.

Hắn mang tới cho ông cái hộp quẹt:

- Ba thích cái này không ? Bộ đội thích lắm.

Ông cầm cái hộp quẹt ga vuông, bật thử. Tiếng ga kêu xè xè. Ngọn lửa xanh phựt lên:

- Hộp quẹt Zippo. Đồ này trước thiếu gì. Vứt lăn vứt lóc.

Ông đậy hộp quẹt lại, đọc giòng chữ khắc, sơn đỏ ngay giữa: "Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu thân tặng".

- Bộ đội khoái hàng chữ đó, Vụ nói.

- Ừ, tao cũng khoái. Tao lấy cái này.

Ông lấy thuốc lá , bật quẹt, châm lửa hút, rồi cầm hộp quẹt xoay qua xoay lại, ngắm nghía.

Đồng hồ nhà bên điểm mười hai tiếng.



*****




Sau Vụ, lần lượt ba cô con gái về. Trước hết là Dục, cô giữa, về lúc gần một giờ. Kế đến là Loan, chừng nửa giờ sau. Và cuối cùng là Lài, hơn hai giờ một chút. Không kể những dịch vụ qua đêm, đêm nay thế là mọi người về có hơi trễ. Thường thì khoảng sau một giờ là cả nhà sum họp. Trong ba cô thì Dục có Honda riêng, chiếc "cúp" đời 81, loại xe bãi do một tay thủy thủ đi tàu viễn dương Hải Phòng bán rẻ lại, sau một xuất bao đêm. Hai cô kia có người rước. Riêng Vụ, hắn chuyên đi bộ. Lý do: đi bộ thì có được nhiều cơ hội hơn, và gặp chuyện gì dễ xoay sở.

Bà Tám xuống bếp lo sửa soạn bữa ăn, trong lúc mấy cô con gái, kẻ trước người sau lần lượt tắm gội, rửa ráy. Mỗi người lo phần việc của mình, chẳng ai nói gì với ai. Đêm khuya, xóm vắng, nhà nhà đều ngủ kỹ. Dù căn nhà nằm ngang cuối xóm, tách riêng hẳn khỏi khu xóm, nhưng như thói quen, chẳng ai trong nhà muốn ồn ào. Mọi người yêu thích sự yên lặng. Mọi trò chuyện cần thiết thường để dành vào bữa ăn.

Tiếng nước dội, tiếng thay áo quần sột soạt khiến ông Tám Toàn liên tưởng đến những nhọc nhằn mà mấy cô con gái của ông đang tìm cách rủ bỏ. Nhọc nhằn ! Ừ, thì tất là phải nhọc nhằn. Cuộc mưu sinh nào chẳng đổi lấy bằng những nhọc nhằn, cách này hay cách khác. Đôi khi, ông vẫn có cảm giác chúng nó trở về từ những nhà máy hay hãng xưởng nào đó. Ca hai, ca ba chẳng hạn. Hoặc ông quên, cố quên. Những cắn đắn, đau khổ lúc đầu, chịu riết rồi cũng nguôi ngoai. Mọi cái trước mắt, chung quanh, ông đã quen mắt. Từ chuyện ăn, chuyện uống, chuyện căn nhà, chuyện hàng xóm, cả xóm trước lẫn xóm sau. Ông quan sát mọi sự như coi một vở kịch hay coi một buổi trình diễn đại nhạc hội. Phù du. Chúng không có thật. Không hề có thật. Tất cả chỉ là một hoạt cảnh, một màn hóa trang. Vợ ông đó, ngày hai buổi đi vô đi ra, đi lên đi xuống. Thỉnh thoảng, bà ngồi nơi chiếc máy may, đạp lịch kịch. Bà không đi đâu xa, kể cả đi chợ. Bà rất ngại phải đi ngang qua một cái xóm dài với một rừng mắt vây quanh. Người ta nhìn, ngắm, chỉ trỏ. Họ không hề chán. Đồ ăn thì mấy đứa con bà mua về từ những chợ xa. Bà ít nói, hay không muốn nói. Thường thì bà chỉ gật đầu, lắc đầu, thở dài rất nhẹ. Bà ẩn nhẫn , nhịn nhục. Vụ, thằng con trai, tảng sáng là thức dậy đi. Với đôi dép nhựa cáu bẩn, đứt quai, bộ đồ lính bạc màu, chiếc mũ lưỡi trai, hắn lang thang đâu đó suốt ngày trên các chợ, bến xe, con đường, khi thì giả què, khi thì giả bệnh để xin xỏ, và tìm mọi sơ hở của người ta để chụp giựt, chôm chỉa. Ba cô con gái thì suốt ngày chỉ lo chuyện phấn son, lụa là. Các cô tỉa lông mày, nhổ lông nách, hoặc chăm chút hết bộ áo quần này này sang bộ khác. Khi áo dài, khi áo đầm, khi đồ bộ. Đủ dạng, đủ loại. Khách vào, khách ra. Những ỏng ẹo, gạ gẫm, trả giá, vỗ mông, sờ ngực, cười cợt. Từ chiếc bàn của ông, ông yên lặng lắng nghe, quan sát. Sáng thì trà, trưa thì nước chanh, tối thì xị rượu. Người cựu giáo viên ấp tân sinh cứ thế, nhìn mọi sự diễn ra trong nhà mình hàng ngày như xem những màn biểu diễn trên sân khấu. Tất cả chỉ là tuồng ảo hóa, chỉ là những hóa trang, theo như triết lý sống của ông bây giờ .

Với ông, từ lâu rồi, cái có thật nằm trong quá khứ. Hồi đó, từ một anh nông dân, ông trở thành ông giáo làng, nhà trí thức duy nhất trong làng. Vợ ông lại đẻ cho ông được ba cô con gái sắc nước hương trời. Trong cái làng nhỏ heo hút cận chân đồi, gia đình ông trở thành một thứ danh gia vọng tộc. Vợ hiền (bà Tám Toàn hiền nhất xóm), con càng lớn càng xinh. Ông sung sướng, hạnh phúc. Mọi sự chỉ trở thành bi kịch (hay hài kịch) khi gia đình ông dời lên thành phố. Thằng con trai bỏ học vì theo hắn, "đi học mệt hơn đi chơi". Còn ba cô con gái thì không chịu lấy chồng vì chúng đều cho rằng "mình đẹp như thế này , tội gì chỉ cho một đứa hưởng". Các cô thích có nhiều người yêu để phân chia cái đẹp cho nhiều người hưởng. Và cứ thế, kịch bản viết tiếp, hết cảnh này đến cảnh khác. Từ chỗ có một người yêu, rồi hai, rồi ba, rồi bốn, đến chỗ ai cũng có thể là người yêu cả. Đi chơi với người yêu trở thành đi khách. Hết cô chị đầu, đến cô kế. Một thời gian sau, cô thứ ba cũng nối gót. Được một cái là, cả bốn đứa con đều có hiếu với cha mẹ. Chúng nuôi ông như nuôi chim cu. Chúng xây nhà dựng cửa, sắm sửa đồ đạc không thiếu thứ gì. Ông thường đùa với bà : "Cũng là phúc nhà đấy chứ, phải không bà ?". " Ừ, thì phúc, quá phúc. Phúc hay nghiệp ?", bà thường lẩm bẩm.

Bà Tám dọn cơm tươm tất lên cái bàn, gọi mọi người ra ăn. Loan bỏ ra một bịch trứng lộn còn nóng, hỏi:

- Ba còn xị rượu nào không ?

TDN

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address