DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,379,048

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

Monday, April 25, 201612:00 AM(View: 5967)
‘Con nhớ Mẹ quá chừng’ (Viết về The Sympathizer) - Cam Ly

‘Con nhớ Mẹ quá chừng’

(Viết về The Sympathizer)

 

Giá trị của một cuốn sách, với tôi, nằm ở chất lượng và chiều sâu của những đối thoại mà cuốn sách có thể khơi gợi lên cho độc giả.



blank

The Sympathizer đã có hợp đồng bản quyền với một nhà xuất bản ở Việt Nam và đang trong quá trình dịch cuốn tiểu thuyết này.



Trong mấy năm gần đây, tôi để ý tìm đọc để xây dựng một tủ sách cho trẻ con trong nhà. Sách có nội dung liên quan đến Việt Nam là một phần trong tủ sách đó. Đối thoại về đề tài Việt Nam là một trong những cuộc đối thoại với trẻ con trong nhà mà tôi rất mong được có. Con gái gần 10 tuổi bắt đầu tò mò về lai lịch gia đình, và về bản sắc cá nhân. Con đến từ đâu, điều gì đã xảy ra trước đó để lúc này con ở vị trí mà con đang ở? Dù con không có đủ ngôn ngữ để diễn đạt những câu hỏi một cách rõ ràng, nhưng những thắc mắc nho nhỏ càng ngày càng trở nên hóc búa hơn, và tôi nhận ra mình đã bắt đầu lúng túng không trả lời được.

Tôi đọc cuốn The Sympathizer trong tâm thế đó, và thấy cuốn sách là một tiền đề cho những cuộc đối thoại (nếu diễn ra) rất khó chịu. Nhiều sách khác – cả văn và thơ – của người Mỹ gốc Việt mà tôi từng đọc là những tiền đề hoặc “mềm” hoặc “khó ưa” (chứ không phải “khó chịu”). Những chủ đề như tìm về cội nguồn, văn hoá gốc, ngôn ngữ, mối dây vô hình giữa họ hàng xa nhau vạn dặm… là chủ đề “mềm” mà các câu trả lời mang nhiều cảm tính. Những chủ đề “khó ưa” theo kiểu chửi bới thẳng thừng hoặc kết tội rành rành thì luôn có thể tìm một đối trọng tương đương và tính thuyết phục cũng tương đương.

 

Trong bối cảnh đó, điều mà The Sympathizer đặt ra gai góc hơn rất nhiều. Nếu một ngày con gái đọc xong rồi hỏi tôi, thế ông bà ngoại nghĩ gì về câu hỏi “Điều gì quí hơn độc lập tự do?”, và mẹ nghĩ gì về tính song nghĩa của cái chữ “không có gì” đó, tôi biết mình không có câu trả lời cụ thể. Nhưng tôi cũng hình dung, khi đọc sách và đối thoại cùng tôi, con bé sẽ phải đào bới trong mớ cảm xúc và suy nghĩ của nó để tự tìm cho ra câu trả lời cho câu hỏi mà hồi mới lớn tôi vẫn hỏi ba mẹ, là “tất cả những điều đó có đáng không?” (điều đó chứa đựng mọi điều trong lịch sử mà ba mẹ chứng kiến, trải nghiệm, và tham gia).

Theo góc nhìn của tôi về cuốn sách, dường như tác giả đến gần với chấp nhận số phận lịch sử, và nhận ra rằng cuối cùng những điều đó là đáng hoặc là có thể chịu đựng được, vì bằng một cách nào đó, những người đã trải nghiệm lịch sử cuối cùng đã tồn tại được. Hoặc là thế, hoặc là mặc dù trải qua mọi thứ đó, họ vẫn tồn tại được, và đó là “chiến thắng cuối cùng” của sức sống con người. Đọc xong mấy trăm trang sách, cuối cùng tôi tìm được cách hiểu đó để bấu víu vào khi đối thoại với con — với cá nhân tôi, một phần giá trị cuốn sách nằm ở đây. Không giống như nhiều cuốn sách “gốc Việt” khác hoặc là cố đẩy cho được ai đúng-ai sai, hoặc là cố đi đường vòng qua con voi trong phòng để “về nguồn” theo chiều văn hoá, cuốn sách này đặt câu hỏi khác và dường như khơi gợi câu trả lời khác.

Nói như thế không có nghĩa là cuốn sách không có “tính hiện thực phê phán” (ai đã sống qua thời học bình văn ở nhà chắc sẽ mỉm cười về cụm từ thông dụng trong công thức bình văn này). Người đọc trên thế giới nói chung sẽ rất khoái góc nhìn Ruồi trâu của tác giả (tinh thần “phản hệ thống” và tự trào chuyện thiên tả của chính mình của tác giả mang nhiều dấu ấn của thành phố và đại học Berkeley, môi trường học đường mà tác giả trải qua nhiều năm từ lúc đại học đến khi lấy bằng tiến sĩ). Người Việt hải ngoại vùng Tiểu Sài Gòn thế hệ trước có lẽ sẽ ức vì tác giả mang nhiều chuyện trong nhà ra khoe ngoài ngõ, nhất là những chi tiết về tha hoá nhân cách mà (theo như sách giải thích) là nhiều người trong cộng đồng cho rằng hoặc không phải lỗi của họ, hoặc họ có quyền làm thế vì những gì họ đã phải chịu đựng trước đó.


blank

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt- tác giả The Sympathizer vừa đoạt giải Pulitzer 2016, hạng mục tiểu thuyết.




Trong những “cú đấm” mang tính hiện thực phê phán đó, nặng ký nhất là so sánh mang tính biểu tượng giữa chuyện tra tấn kiểu Chiến dịch Phượng Hoàng, thậm chí cưỡng hiếp thể xác tù nhân, mà tác giả viết rõ ràng là có sự chứng kiến của đại diện cho CIA của Mỹ, với chuyện “cưỡng hiếp” trí não, tinh thần, và lương tâm của tù nhân (trong mấy chương cuối cùng) của chương trình cải tạo.

Người đọc không thể đọc xong chương sách này mà không tự hỏi, suy cho cùng, cái nào man rợ hơn?

Để gây ấn tượng cho so sánh biểu tượng này, tác giả dùng đối trọng rất “độc” (độc đây không có nghĩa xấu) – đối trọng đặc tả hài nhi nhiễm chất độc Da cam với đặc tả tình trạng trí não và tâm thần của nhân vật trong quá trình “cải tạo” đã bị vặn xoắn méo mó không khác gì hài nhi, đến mức không còn biết thật-giả, đúng-sai là đâu nữa.

Tác giả miêu tả nhân vật bị cưỡng hiếp thể xác cuối cùng vẫn cực kỳ tỉnh táo vì biết mình là ai và mục đích của mình là gì, vẫn dùng đôi mắt đốt cháy người đối diện. Trong khi đó, nhân vật bị cải tạo tinh thần cuối cùng gần như rơi vào trạng thái méo mó vĩnh viễn. So với biểu tượng này, nằm ở cuối cuốn sách, những biểu tượng trước đó về tính hai mặt của giá trị Mỹ hoặc sự nhập nhằng về đạo đức của cả hai phía trong một cuộc chiến chỉ là mấy cái tát yêu cho vui mà thôi.

Có lẽ nhiều người Việt Nam sẽ đọc cuốn sách này với cặp mắt tương tự như những người đi qua thế chiến hoặc sống sót qua thời Hitler hay thời Khmer đỏ, và chuyện săm soi các tiểu tiết lịch sử là không tránh khỏi. Tuy nhiên, không tác giả nào dù siêu đến đâu có thể làm vừa lòng mọi người đọc có biết (hoặc nghĩ là mình biết nhiều) về sự thật lịch sử. Nếu đọc cuốn sách để tìm đến mục đích cuối cùng, tức thông điệp của cuốn sách là gì, tôi tin nhiều người sẽ đồng ý đây là cuốn sách nặng ký hơn rất nhiều cuốn sách khác về đề tài Việt Nam. Tôi cũng đánh giá cao khi tác giả không cố tình “quốc tế hoá” những chi tiết liên quan đến cộng đồng người Việt để khoác cho cuốn sách tấm áo mang tính phổ quát cao hơn. Những đoạn tả về một số người Việt hải ngoại trong các quán bia, quán phở, đi làm lấy tiền mặt, đi xe cà tàng, tụ tập ca hát hút thuốc phì phèo, mặc đồ “hàng chợ”, nói tiếng bồi, những người đàn ông từng hét ra lửa giờ cay đắng vì không còn uy với con cái, … chắc chắn làm nhiều người Việt mình đọc mà đau điếng.

Sợi dây mềm mại và ngọt ngào duy nhất – mà tôi tin là chứa đúng cốt lõi “thiện” của tác giả, và khiến tôi mềm lòng nhất – là những đoạn miêu tả về người mẹ Việt Nam. Đây là những miêu tả mang tính biểu tượng cho một Việt Nam thật sự nếu loại bỏ hết được những bi kịch xung quanh. Ngôn ngữ của tác giả khi đặc tả quan hệ giữa “mẹ Việt Nam” và “đứa con Việt chưa từng thuần Việt” mang đầy tình mẫu tử và lòng chở che vô điều kiện hoàn toàn khác ngôn ngữ sắc, đắng, cay, chua, và thông minh trải dài trong sách.

Chi tiết người dẫn chuyện làm bia mộ giả cho người mẹ Việt của mình – đặt trong nghĩa địa do Hollywood dựng làm phim trường như một dấu nhấn bi hài – rồi lặng lẽ ngồi xuống và “Mơi, tôi gi, da trán mình vào bia m. Mơi, con nh m quá chng” là chi tiết nhân bản và trong veo mà tôi giữ lại như ký ức cuối cùng về cuốn sách.

 

Cam Ly
(từ: VV)






*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 46)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 307)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 231)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 674)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 429)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.