DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,147,412

Bán nguyệt san Mai (1960-1966) - TRẦN HOÀI THƯ

Thursday, May 5, 201612:00 AM(View: 7890)
Bán nguyệt san Mai (1960-1966) - TRẦN HOÀI THƯ

Bán nguyệt san Mai (1960-1966)


blank
 Bán Nguyệt san Mai

Mai là tạp chí phát hành mỗi tháng 2 kỳ, ra ngày 1 và 15. Chủ nhiệm: Hoàng Minh Tuynh. Giám đốc chính trị: Huỳnh Văn Lang. Tòa soạn 80 Hồng Thập Tự Sài Gòn. Báo có mặt 6 năm từ 1960 đến 1966. Từ tháng 7-1962 đến tháng 11- 1966, Mai bắt đầu đánh số trở lại, gọi là Mai bộ mới. Chủ nhiệm vẫn là Hoàng Minh Tuynh.


Báo khổ nửa giấy báo nhật trình, dày 40 trang, có trang quảng cáo. Chỉ bắt đầu từ tháng 12-1964, khổ giấy được đổi lại nhỏ hơn như khổ của tạp chí Văn, và cũng được đánh số trở lại. .. Số 16-17 phát hành ngày 1-8-1966 là số cuối cùng, với các bài của Lê văn Hảo, Vũ Đình Lưu, Hoàng Minh Tuynh, Père Jean Subra..


Có thể nói Mai là một Bách Khoa thứ hai. Chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh và giám đốc chính trị Huỳnh văn Lang là hai rường cột của tạp chí Bách Khoa. Tuy nhiên Bách Khoa là một tạp chí chỉ phổ biến tư tưởng, văn hóa, khoa học, chính trị, hầu giúp độc giả mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn về những vấn đề quan trọng của thời đại, còn chủ trương của Mai thì dấn thân tích cực, chú trọng vào việc xây dựng xã hội, nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên.


4

Riêng phần văn nghệ, có thể nói, Mai là tờ báo rất trân trọng với tác giả, dù người viết mới hay cũ. quen tên hay không quen tên. Ở Mai, tác giả được xem như bình đẳng, có nhiều cây bút trẻ, đặc biệt là từ miền Trung đóng góp. Một phần là nhờ dịch giả Bửu Ý – người chăm sóc về bài vở từ năm 1963, và một phần là do tánh tình cởi mở của chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh, mặc dù ông đã ở vào gần tuổi ngũ tuần. Ông luôn luôn đứng vào hàng ngũ thanh niên sinh viên, thay mặt nói giùm họ:

Đám thanh niên và sinh viên kêu gào thảm thiết đòi quyền sống, quyền làm người, họ nóng lòng muốn được đem toàn tâm toàn lực để cứu vãn một tình thế hầu như không còn cơ cứu vãn.


Song họ đã vấp, cái vấp đau khổ trước sự thiếu sáng kiến, thiếu cản đảm của lớp đàn anh muốn che giấu sự bất lực của mình dưới hình thức chẳng che giấu được ai: khiếp nhược mà bảo là thận trọng, hèn nhát mà bảo là khôn ngoan, lười làm lười nghĩ mà bảo chẳng nên hấp tấp vội vàng. (Mai số 36 &37)

Nhà nhận định văn học Đặng Tiến nhớ lại thời gian ông và bè bạn làm báo Mai như sau:

….Khoảng 1962-1963 gì đó, anh Hoàng Minh Tuynh làm chủ báo Mai, Sàigòn, bán nguyệt san. Anh Tuynh là người công giáo tiến bộ, có uy thế lúc ấy, và ưa giao thiệp với các bạn trẻ mà anh tin cậy, chung quanh Nguyễn Hữu Thái là sinh viên kiến trúc. Thái kéo bè với đám bạn trẻ như Phạm Công Thiện, Quỳnh Tân, Lê Hiếu Đằng, Bửu Ý và tôi. Có lúc anh Tuynh sang Đức vài tháng, giao phó tờ báo cho chúng tôi “muốn làm gì thì làm”. Thái và Thiện viết vung vít sao đó, tòa Tổng giám Mục có lưu ý và anh Tuynh kiểm soát lại tòa soạn. (Đặng Tiến: Nhớ thương Phạm Công Thiện – nguồn: Internet)

Riêng nhà văn và dịch giả Bửu Ý xem thời gian làm cho báo Mai là những ngày tháng khó quên nhất của đời ông;

Năm 1963 ở Sài Gòn không đủ ăn. Nhiều khi hai, ba ngày không có ăn, không có tiền đi xe buýt, phải đi bộ bốn cây số đến nhà in. Những đồng xu lẻ không đủ ăn 2 bữa/ngày. Sống cơ cực song bù lại đó là thời gian hào hùng của tôi, tôi được thỏa sự mê viết văn, mê viết báo, tôi thấy tôi sinh ra mình trên từng con chữ. Muốn viết được, phải sống thiếu đi một chút. Tôi không viết nhanh. Hồi đó sống thuê căn gác gỗ cùng với hai người con trai chủ nhà ở đầu cầu Trương Minh Giảng, kêu thêm bạn về ở chung để bạn khỏi trả tiền: đó là Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn. Sơn là một người viết rất nhanh. Bù lại, tôi viết rất khổ sở, như rặn đẻ, có khi cả tuần mới được một trang. Không nên viết đùa, đem giá trị ra mà bỡn cợt. Tôi viết không dám đùa bỡn bất cứ ai”. (Bửu Ý – hồi ký Ngày tháng thênh thang)

Nhìn tờ báo, dù không lòe loẹt như Nghệ Thuật nhưng chúng ta cảm thấy cả một sự trân trọng của Tòa soạn đối với người viết. Không có trang “dạy viết văn làm thơ”, không có trang cây bút mới cây bút cũ.. Lần đầu tiên chúng tôi mới đọc được kịch của Bửu Ý (lấy bút danh là Nguyễn Phước), truyện Bửu Ý (bút danh là Bửu Uyên) trong khi tôi chỉ biết Bửu Ý là dịch giả. Tôi cũng được đọc những bài của Nguyễn Đức Sơn viết nghiêm túc về tuổi trẻ, về tạp chí Sáng Tạo… và Nguyễn Xuân Hoàng trong những vở kịch vô tuyến truyền thanh, những bài viết nhận định về âm nhạc của Phạm Thế Mỹ hay hội họa của Đinh văn Cường (tức họa sĩ Đinh Cường), Lâm Triết, Nguyễn văn Liểu (tức họa sĩ Trịnh Cung), xen kẻ với những cây viết rất quen thuộc trên Bách Khoa về triết học như Cô Liêu, Vũ Đình Lưu, Phạm Công Thiện….


Đọc Mai, tôi tìm thấy những tiếng kêu trầm thống của tuổi trẻ trí thức miền Nam trước viễn ảnh đen tối của đất nước. Nó không phải là tờ báo khuynh tả như Trình Bày. Nó không phải là tờ báo thuần văn chương như Văn. Nó cũng không phải nghiêm túc không ồn ào như Bách Khoa. Nó là tổng hợp của ba tờ báo vừa kể. Vai trò của Hoàng Minh Tuynh với những cây viết cùng lứa của ông cọng vào vai trò của Nguyễn Hữu Thái là thanh niên sinh viên, và Bửu Ý là thành phần trẻ trí thức đặc biệt miền Trung.


Tháng 12-1964, báo đổi khổ. Việc đổi khổ này cũng mang theo sự thay đổi về nội dung bài vở. Rất ít sáng tác văn chương, không thấy sự xuất hiện của những cây bút trẻ từng cộng tác thường xuyên với MAI như Bửu Ý, Nguyễn Hữu Thái, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn , không còn mục Thanh niên sinh viên, hay Sổ Tay trái lại là nhiều bài khảo luận liên quan đến chính trị, tôn giáo, văn hóa…


Điều này Mai đặt nặng phần thời sự chính trị lên hàng đầu, như tiêu đề trên bìa: tạp chí Xây dựng Xã Hội Văn Nghệ.


Về Chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh


Trong văn học miền Nam hiện đại, chúng ta ít thấy có cảnh những nhà văn, triết gia hay nhà thơ nổi tiếng lại chịu ơn ai. Nhà thơ Bùi Giáng chỉ ca ngợi Ni cô Trí Hải qua cái nhìn chiếc áo tu hành khoác lên một người nữ, Phạm Công Thiện thì khỏi nói, bởi thần tượng của ông là Nietzsche, còn Nguyễn Đức Sơn thì càng khủng khiếp:

“Anh tin rằng tất cả những đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản).

Vậy mà cả ba đều một mực dành cho một người một sự nể vì và trân trọng. Người đó là Hoàng Minh Tuynh.


Bùi Giáng, trong phần mở đầu một chương của cuốn Tư tưởng hiện đại, viết:

“Bài này trước kia chúng tôi đăng ở tạp chí MAI, ký tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh đã có nhã ý muốn bày tỏ niềm thông cảm đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn chịu nhiều những hững hờ của độc giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông Tuynh đã chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là những tiếng tôi quen dùng”.

hay Phạm Công Thiện:

… Tôi và ông Hoàng Minh Tuynh khác nhau như Thiên đàng và Địa ngục. Ông Hoàng Minh Tuynh không có gì khả dĩ là tương hợp với tôi cả. Nhưng một điều lạ là nếu tôi không gặp ông Hoàng Minh Tuynh thì có lẽ tôi không bao giờ viết quyển này [1]. Hình như có những người sinh ra trên đời để làm đất cho cỏ mọc lên.

Riêng Nguyễn Đức Sơn đã dùng nhận xét của Hoàng Minh Tuynh về truyện ngắn Cái Chuồng Khỉ của ông đăng trên Mai số 31 & 32 để đăng lại trên trang bìa sau của tập truyện cùng tên do An Tiêm xuất bản vào năm 1969:

“Đây là truyện của một bạn trẻ thuộc thế hệ mới. Lời văn trẻ, hơi văn mạnh, cốt truyện bố trí chặt chẽ một cách tài tình, tư tưởng nhiều khi táo bạo đến nỗi làm cho người đọc bất bình […]. Một dấu hiệu của thời đại! Thảm thay! Mà cũng ghê thay!” (Hoàng Minh Tuynh viết riêng cho truyện ngắn “Cái chuồng khỉ” đăng trên Tạp chí Mai số 31 và 32 năm 1963)

Và nhà thơ Du Tử Lê xem Mai là trạm đầu cho cuộc hành trình thi ca của ông, khi ông nhắc đến cái bút hiệu Du Tử Lê được chính thức khai sinh bằng bài Bến Tâm Hồn được đăng trên tạp chí Mai vào năm 1958. (Sự thật là tạp chí Mai chỉ bắt đầu có mặt vào năm 1960 – chú thích của THT)


Riêng họa sĩ Đinh Cường, thời sinh tiền, luôn luôn nhắc đến tạp chí này như là nơi mà người bạn thiết của anh là Bửu Ý đã hợp tác trong một thời gian dài.


Sau 1975, Ông Hoàng Minh Tuynh về sống tại Bảo Lộc. Không hiểu sao ông lại về đây? Vì tự chọn hay vì ẩn tránh? Hai năm sau ông chết. Thọ 61 tuổi. Cái chết của ông được cuốn Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử VN của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế ghi là: Dư luận hồi đó cho rằng ông bị đầu độc. Tuy nhiên, rất ngạc nhiên là trong những ấn bản được tái bản sau này , chúng tôi không còn thấy phần tiểu sử của Hoàng Minh Tuynh nữa.


Hiện nay, chúng tôi có trong tay những chứng từ của thân nhân của học giả Nguyễn Bá Thế về sự mờ ám khi cuốn tự điển đồ sộ này được thực hiện. Khi có dịp chúng tôi sẽ phổ biến.


Đây là tiểu sử Hoàng Minh Tuynh được tìm thấy trên trang nhà http://vansu.vn trích từ ấn bản xuất bản đầu tiên:

Chuyên viên ngân hàng, nhà báo, sinh năm 1916 tại Nam Định, con ông Hoàng Văn Tuân và bà Lê Thị An (bà là nguời sinh ở Long An Nam Bộ), từ năm 1948-1950 định cư ở Sài Gòn.


Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội, đậu Tú tài rồi vào học Trường Đại học luật khoa Hà Nội, tốt nghiệp cử nhân luật chuyên về kinh tế, tài chính. Sau năm 1945 ông làm công chức trong ngành kinh tế ngân hàng, thường đi tu nghiệp ở các nước Tây phương (Pháp, Mĩ), sau năm 1950 định cư ở Sài Gòn, Bảo Lộc cho đến cuối đời.


Sau hiệp định Genève, ông giữ chức Phó Tổng giám đốc Viện Hối đoái Sài Gòn (Tổng giám đốc là ông Huỳnh Văn Lang).


Năm 1957 ông là một trong 3 người (Huỳnh Văn Lang, Lê Ngộ Châu và ông) sáng lập tạp chí Bách khoa ở Sài Gòn (1957-1975) giữ chức chủ bút tạp chí (1957-1963) rồi đến năm 1960 ông sáng lập tạp chí Mai giữ chân chủ nhiệm tạp chí này…..


Sau năm 1963, ông từ bỏ đời sống công chức, sống với nghề tự do, đến năm 1977 ông mất tại Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) thọ 61 tuổi.


Dư luận hồi đó cho rằng ông bị đầu độc. (Nguồn: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – Nguyễn Quang [2] Thắng, Nguyễn Bá Thế)

Riêng tạp chí Mai, sau 1975, dù toàn bộ của tạp chí này được lưu giữ tại thư viện tổng hợp TP HCM, nhưng muốn đọc nó phải có người hộ tống, không được phép copy, không được chụp hình (Xin mời đọc hồi ức của nhà văn Lữ Quỳnh trong số này)


Có thể nói, đây là tạp chí quý hiếm và giá trị nhất cho những ai muốn tìm hiểu về lịch sử miền Nam trong thời chiến (để chứng minh chúng tôi đăng lại Sổ tay – Nhật ký tháng 8-1964 ở phần sau) cũng như lý do tại sao những tác giả có tầm vóc như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn , Du Tử Lê, Bửu Ý, Đinh Cường… đã nhắc đến nó với tất cả sự trân trọng và tự hào.


Hiện tại thư viện đại học Michigan có lưu trữ Mai năm 1962, 1963, 1964, 1965, 1966 (thiếu năm 1960, 1961).


Riêng Thư viện đại học Cornell thì giữ ba năm: 1964, 1965 và 1966.


Riêng chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh, theo sự sưu tầm của chúng tôi, trong thời gian 1957 đến 1962, trên Bách Khoa có đến 109 bài viết của ông mà hầu hết thuộc đề tài chính trị biên khảo . Trên Mai chỉ thấy bài viết của ông xuất hiện nhiều vào hai năm 1965, 1966.


Trần Hoài Thư

Thư Quán Bản Thảo số 69, Tháng 4-2016
Giới thiệu Bán Nguyệt san Mai (1960-1966)

blank


[1] “Hình ảnh thanh niên thời đại trong tác phẩm Henry Miller”

[2] Sự thật là Quyết chứ không phải là Quang (TQBT)





 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, November 16, 20198:08 PM(View: 32)
Vào năm 1961 tôi bắt đầu nghe những luồng dư luận bất mãn đối với Tổng thống Diệm trong nhiều thành phần dân chúng. Ít ai dám chỉ trích lớn tiếng, nhưng nhiều lúc tôi nhận thấy nhiều người khi phải nghe ca tụng suy tôn đã lấy làm ngượng ngập, khó chịu. Sự bất mãn đó đã có cơ hội xuất hiện trong biến cố 1-1-1961. Vụ đảo chánh hụt năm đó không phải chỉ lôi cuốn được một số sĩ quan bất mãn mà thôi, mà còn kéo theo nhiều nhà trí thức, và giả sử trong thời gian cô lập được dinh Độc Lập, sử dụng được đài phát thanh, họ chỉ cần biết dùng đài này để đưa ra một vài đường lối xã hội thật táo bạo, thì tình thế đã có thể thay đổi ngay lúc bấy giờ không cần chờ đến 1963. Nhóm đảo chánh cũng không chú trọng đến công việc xách động quần chúng. Xách động quần chúng là một việc làm dễ nếu biết và dám làm, nhưng rất khó nếu không hiểu tâm lý và những phản ứng quần chúng. Hơn nữa thời bấy giờ dân chúng đang sống yên ổn, thịnh vượng cho nên ít ai muốn xáo trộn. Sự bất mãn chỉ mới bắt đầu trong
Tuesday, November 12, 20199:14 PM(View: 110)
Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một
Sunday, November 10, 20197:19 AM(View: 197)
Ông Ngô Đình Diệm muốn Thiên Chúa Giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục làm Hồng Y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật Giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật Giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật Giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên Chúa ra mà nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật Giáo. Chương trình tú tài C thì đổi toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm một bằng ban D với cổ ngữ La Tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan huy bỏ ngày Phật Đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên Chúa Giáo cũng gấp đôi Phật Giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối
Saturday, November 9, 201912:58 PM(View: 286)
Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ cha già của dân tộc. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Vào ngày 1-11-1963, khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc Cách Mạng, thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa năm thứ nhất, chuẩn bị thi lên năm thứ hai của Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa, khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa
Friday, November 8, 20199:29 PM(View: 155)
Đây là một đoạn thơ Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên báo giới Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh — và từ đó — làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm. Tâm trạng kia và chứng từ nọ đã được ghi lại trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi xuất bản năm 1972 thời đó đã ít người được đọc trực tiếp nguyên tác; bây giờ dĩ nhiên là tuyệt bản. Năm nay nhiều cơ quan tổ chức kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt chiến tranh, tưởng cũng nên đọc lại chứng từ Nguyễn Bắc Sơn. Thì may thay, các bạn ở nước ngoài đã sưu tầm và tái bản tập thơ để tặng biếu bạn bè. Đây là một việc làm cao đẹp, đi từ tình bằng hữu thủy chung và nồng