DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,374,921

Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Friday, May 6, 201612:00 AM(View: 7422)
Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Nét Sổ Ngang Hung Bạo




Image result for nhà thơ huy tưởng
nhà thơ huy tưởng



30 Tháng Tư


Đó là thời điểm không thể nào phai mờ trong tâm trí của những người Việt Nam, mà còn là vết thương hay phát súng kết liễu rạng ngời, tùy theo cách nhìn của mỗi phía, thắng hay bại cuộc. Nói khác hơn, đó là bước thay biến lớn lao trong dòng sử lịch của đất nước, trong đó có lịch sử của học thuật, của văn chương…

30 Tháng Tư, đó là nét sổ ngang hung bạo và cay nghiệt. Áp dồn nhau sát chân tường, sát biển cả! Hai bên đều có những “cố gắng” gượng gạo để tạm khống chế và sinh tồn, để cùng cố bước qua lằn ranh vô hình kỳ thị và ngờ vực. Nhưng vô vọng: bước hoài vẫn không sao vượt qua!

Sự bùng vỡ (thầm lặng) tất yếu phải có để giữ gìn và tự vệ, để ngăn chặn sự bức hại nham nhở do thời khí chính trị gây nên. Những trận gió mùa có pha trộn chất độc hại cũ càng, ngày một nhợt nhạt mất hiệu quả, thì trái lại, sự trong lành dần dà được hiển lộ, được phục sinh dù chưa tươi tắn, vẫn còn chút ủ ê vì năm tháng nhiều bụi bặm, nhiều phế nhiễu khó lòng tránh khỏi.

Nêu câu hỏi về những khác biệt và ranh giới giữa trước và sau 1975, hoặc trong và ngoài nước trước thời và không gian, thật ra đây chỉ là vấn đề giả vấn đề, bởi chưng đã có quá nhiều tổng hợp, phân tách và so sánh trước nay rồi, chúng ta không phải nhọc công trở lại.

Biến cố cũng chỉ là biến cố đối với những bản lĩnh vững vàng, kiên định. Ràng buộc, có chăng cũng chỉ là những ràng buộc cá nhân, ước thuận theo nhu cầu riêng tư hẹp hòi, theo từng thời điểm cần thiết (…) Nhưng những phong trào, những tuyên hô cũng khiến cho đôi bên thăm dò, học hỏi và nghe ngóng từ nhiều phía, ra công tìm hiểu và thử nghiệm. Công việc này gây khó khăn cho những cây bút trong nước. Trước, họ phải vận dụng hai tai để nghe ngóng từ nhiều phía; sau, họ vấp phải những thói quen đã được lập trình đến nỗi thấm thậm vào trong máu tự bao đời, cảm xúc về cái mới khiến họ bỡ ngỡ, lạ lẫm, dẫn đến những bất cập thô tháp hoăc bùng vỡ giả tạo, tình trạng của 2 thập niên sau biến cố. Người viết ở ngoài nước thì, vướng bận với hội nhập, với mưu sinh. Khi trở về với văn chương, dồn nhiều thời gian cho sao lục, phục hồi những giá trị cũ tản mạn, rải rác khắp nơi vô cùng cam khó, sáng tác thì hầu như chỉ đọng lại với đề tài thuyền nhân và khóc thương cho quá khứ oai hùng đằng đẵng hờn oán, dành một quãng dài cho quá khứ. Song hành theo đó, lác đác những tác giả sinh sau “biến cố” cất tiếng nói lấp lánh như tiếng hạc trong trăng. Chúng ta ngước lên và khấp khởi niềm vui thoáng chốc !

Trong nước, cũng có những vùng vẫy đáng trân trọng, những cá nhân hay tập thể có bản lĩnh, tự tin và can đảm rất đáng được chờ đợi. Nhưng ồn ào là những tác phẩm dễ dãi được viết bởi những người rất trẻ, nhanh và nghiêng về giải trí, nhẹ hẫng. Tôi thật không thích thú gì trong việc tóm tắt tình hình sách vở, như thế.

Giữa một gò đống lợn cợn đầy hồ nghi như thế, dòng chữ của câu hỏi: “Biến cố này đã(và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam?”Tôi e rằng to tát quá, và khiên cưỡng sao ấy, hoăc tôi tay không đủ rộng để ôm hết vào cho trả lời thích đáng (?).

Nhìn lại mình, tôi tự cảm thấy thật sự bất lực, đôi khi hèn yếu, nên đó cũng là một trong nguyên do khiến tôi bỏ viết mấy mươi năm, và có ý định từ biệt cõi văn chương. Tôi thấy mình, và cả Thơ Ca quá yếu ớt, thiếu trọng lượng trước một thời thế kiềm hãm đầy ách tắc, tai ương.

Tôi thà cam phận sống lặng lẽ mà sạch sẽ, vẫn hơn.

Và, làm sao trả lời cho thỏa câu hỏi “NẾU…” của Bạn ?

Đời sống, rồi lịch sử luôn cho thấy, từng trang sử lịch của mỗi thời đại, theo đó, sẽ sản sinh ra những nghệ sĩ, những nhà học thuật, những nhà Thơ… của chính thời đại ấy, cất tiếng nói và trượt trên dòng chảy cùng trào lưu tiến hóa phía trước…

Văn học miền Nam Việt Nam chỉ thực sự khởi động từ những năm của thập niên 60. Và chỉ 15 năm ngắn ngủi thôi, đã đem về một gia tài đáng kể, trong khi phải lầm lụi xây dựng, phải chinh chiến liên hồi.

Chúng ta hôm nay, có đến 40 năm, bốn mươi năm… hoang vắng, nghèo nàn và gỉ sét như những chiếc loa phường cũ kỹ mưa nắng dãi dầu!

Tiếp nối bốn mươi năm “hòa bình” như thế, tôi thực khó hình dung được những bước đi vạm vỡ mà vững chắc có nền tảng của lớp lớp những nhà học thuật miền Nam, vừa thu nhiếp vừa hòa nhập, sáng tạo với thế giới…

Còn về tôi ư?

Bốn mươi năm trước khóc hết nước mắt cho bao người thân bỏ xác trên biển cả!

Bây giờ, Bốn mươi năm sau, khóc vì cá, vì chim, vì biển chết theo!

Và cái gì sẽ chết nữa?

Chắc chắn “NẾU…”, thay vì những bài Thơ đẹp, sẽ chẳng phải viết những dòng đầy nước mắt, thắt lòng cho đất nước, cho đồng bào, cho… như vừa mới:

Tháng Tư!

Tháng Tư rơi như nước mắt

Tháng Tư đọng khô khuôn mặt điệu-buồn-phương-nam

Chúng tôi sẽ lớn lên

Chúng tôi sẽ già cỗi

Chúng tôi chết mất tăm tro bụi

Chúng tôi tan hình trên cõi thế quạnh hiu…

Nhưng điệu buồn và nước mắt tình yêu

Còn lăn và còn lăn mãi

Và vết thương thì lớn dần. lớn dần theo sử lịch

Lớn dần theo ngữ điệu rồng tiên

Vết thương cất cao lời tống tiễn

Một cơ đồ thống thiết gọi nhau đi…!



Huy Tưởng
(từ: damau)





*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 171)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 174)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 435)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 373)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 293)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,