DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,142,439

Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 11, 12, 13)

Friday, May 13, 201612:00 AM(View: 3232)
Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 11, 12, 13)


Chốn Vắng




Image result for chốn vắng dương thu hương
nhà văn dương thu hương




Chương 11



Xá đang chuẩn bị đồ lề cùng đám thợ sơn tràng lên rú. Anh ta mặc mỗi chiếc quần đùi lại săn hai ống lên tận bẹn ngồi rửa cưa. Tấm lưng trần nhễ nhại mồ hôi vắt chiếc khăn mặt bông nhọ nhem. Lúc Bôn đứng trước ngõ Xá vẫn cắm cúi miết con giũa, tiếng thép cọ vào thép nghe ghê tai. Anh phải gọi bốn năm tiếng liền Xá mới dừng tay lại:
- Chờ tôi ra mở cổng.
Đặt chiếc giũa vào hộp dụng cụ, Xá rút khăn lau ngực lau lưng rồi mới ra mở cổng cho Bôn:
- Cô Soan này lạ thật... Đã bảo sáng nay người ta ở nhà, đừng khóa cổng, vậy mà nhót một cái đã bấm luôn ổ khóa vào... Rõ đúng là cái giống đàn bà đái không qua ngọn cỏ, nghĩ không dài hơn sợi tóc...
- Sinh ra cái khóa là để đi khóa về mở, anh nói gì lạ thế?
- Nhưng sáng nay đứng lên ngồi xuống cả thảy năm lần rồi, hết mẹ nó thời gian. Đầu tiên thằng cu lớn quay về lấy cuốn vở bỏ quên. Lần thứ hai ông tướng lại quay về xin tiền góp cho nhà trường tổ chức đi tham quan thành phố. Lần thứ ba thứ tư hai ông hàng xóm sang xin đinh với xin vịt dầu thắp. Lần thứ năm là Bình kều...
- Bình kều hả? Đã mấy lần tôi định sang cậu ta chơi mà chưa đi nổi... Bình khỏe không?
- Vẫn nhì nhằng.
- Nghe đâu cậu ta làm ăn khấm khá lắm...
- Cũng khá hơn tôi đôi chút. Nhưng từ Tết đến giờ toàn gặp rủi ro, tích được đồng nào cũng tẩu tán hết rồi. Trước hết ông bố vợ bỗng dưng lăn đùng ra chết. Cô Lãm là con một, Bình lại ở rể nên phải cõng toàn bộ chi phí đám tang. Họ nhà ấy to nhất làng, nên cậu ta phải làm trên một trăm hai mươi mâm mới đủ. Rồi bây giờ cô vợ lại sưng lách. Vừa sưng lách vừa mang thai tháng thứ năm. Bình lo méo mặt. Sáng nay nó mò đến đây, tôi cạn tiền phải bảo cô Soan cho nó mượn cái nhẫn cưới đem bán đưa cô Lãm xuống viện thành phố...
Bôn tái tê. Con tàu hy vọng của anh chìm xuống. Đêm qua anh dự tính vay một mớ tiền của Bình. Tuy lâu ngày không gặp nhau nhưng Bôn biết tình bạn của họ không lay chuyển. Hai người cùng học một lớp suốt sáu năm trung học, cùng là vần B, họ được xếp chung một bàn và hầu như ở bên nhau trong mọi công việc của nhà trường. Nếu đi cắm trại, họ cùng ở ban tổ chức. Có sinh hoạt ngoại khóa, hai người cùng ở tổ Vật Lý và tổ hướng dẫn sinh trong phòng thí nghiệm. Những đêm liên hoan văn nghệ, cả hai cùng ở nhóm ngâm thơ, Bình có giọng ngâm ngọt ngào, còn anh đệm đàn bầu hoặc thổi sáo theo... Vào cái thời mộng mơ ấy, cả hai đều quyết chí thi cho được tấm bằng đại học và làm cuộc đổi đời dời chốn sơn dã về thành phố. Với họ, điều ấy cũng không quá xa vời, hai người cùng là học sinh loại giỏi. Bình chỉ kém riêng môn Văn, thường nhờ anh chữa bài giúp. Biết bao kỷ niệm se sắt đã gắn bó tuổi thiếu niên của họ. Bình thường chia cho anh nắm xôi buổi sáng, hoặc những đùm khoai dẻo mà chị ruột gói ghém cho. Bôn không quên vị khoai ngọt bùi ấy, vào những năm niên thiếu khốn khó của anh, không có Bình chưa chắc anh đã theo nổi ngần ấy năm ăn học. Tiền của anh kiếm được chỉ đủ mua giấy bút và những món chi dùng tối thiểu.
Anh không đủ gạo nấu ăn sáng, cũng không đủ sức mua cá mắm hoặc các thức ăn khác cho bữa cơm học trò nghèo... Tất thảy những thứ đó do Bình bù đắp. Cái gã cao kều ấy là kẻ hảo tâm bẩm sinh, cậu ta giúp tất cả những ai có thể giúp được với vẻ an nhiên không tính toán dường như đó là phận sự của kẻ làm người. Đám học trò giàu sang trong huyện do đó phải nể vì. Hai kẻ mơ mộng ấy đã bỏ giấc mơ dở dang cùng một ngày, cùng một ngày tòng quân nhưng lại phiên chế về hai đơn vị. Bình ở cùng đơn vị với Xá. Dạo anh về, Bình nhắn Xá nói với anh rằng cậu ta đang bấn bíu, ngày nào đó rảnh rỗi sẽ sang thăm và sắm bữa tiệc mừng... Anh những tưởng Bình mắc công việc dở dang, ai dè cậu ta đang lâm vào cơn khốn khó:
Ta vẫn ngỡ có thể níu lấy áo trang nghĩa hiệp thuở xưa. Ai ngờ cậu ta cũng sảy chân vào cảnh đắm tầu... Đây mới chính là ngõ cụt.
Bôn thấy cơn gió lạnh chạy dọc sống lưng anh, dù trời đang nóng. Trên tấm ngực trần của Xá, những giọt mồ hôi lớn bằng hạt đỗ đen đầy quanh hai núm vú. Có một cái tên nảy lên: Già Đọt... Nhưng anh nhìn thấy trước cái quả hy vọng cuối cùng kia cũng thối. Người đàn bà xuân sắc từ hơn năm mươi năm trước chẳng thể nào có một kho vàng để cất giấu đến giờ. Bà cưu mang mẹ con Tá, những người có liên quan huyết mạch vì đám trẻ ấy chỉ cần miếng ăn cho qua ngày, hạt cơm cõng củ khoai, gắp rau kèm lát sắn. Vậy mà anh đã mơ tưởng gây dựng cơ đồ nhờ những đồng tiền của bà lão gần đất xa trời...
Ta là kẻ mơ mộng hão huyền vô tích sự.
Xá chột ngẩng mặt lên, con mắt lành xoi mói:
- Ngồi xuống đi... Làm gì mà đứng đần thối ra như vậy?
Bôn giật thót, nhưng tâm trí vẫn còn tê dại. Anh vơ chiếc ghế đẩu ở góc sân ngồi. Nhà Xá có đến hàng chục chiếc ghế đẩu các cỡ và các kiểu. Đúng như người ta bảo: Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ. Kẻ làm nghề sơn tràng và nghề mộc chỉ lãi ở những mảnh gỗ thừa thẹo.
- Ngồi đấy...
Xá nói tiếp, giọng to như quát vào tai anh:
- Ngồi đấy... Tôi phải rửa nốt con cưa mẹ...
Bôn chưa kịp nói gì Xá bỗng dừng tay nhìn chòng chọc vào mặt anh.
Lần này cái nhìn đó kéo dài, khoan xoáy vào một điểm nào đó trên mặt Bôn khiến anh bỗng dưng nóng bừng hai tai. Con mắt lành của Xá hấp háy, hấp háy rồi đột nhiên Xá hạ giọng thì thào:
- Sao?.. Ấy rồi phải không?
Bôn hiểu ý Xá, nhưng chưa biết trả lời ra sao. Hai thái dương anh cũng nóng rực lên.
Xá lại hỏi tiếp:
- Có làm ăn được không?
- Cũng tàm tạm.
- Tàm tạm là thế nào. Tôi với cậu là chỗ mặn tình, tôi mới hỏi.
- Nó có lên được không?
- Được vừa phải.
- Kim trỏ số 3 à?
- Không hẳn thế.
- Thì sao?
- Tôi cũng chẳng hiểu.
Xá trợn mắt, không còn thì thầm mà quát toang toác lên:
- Vớ vẩn... Đừng ú ớ con mẹ... Trông điệu bộ của cậu tôi biết là hỏng rồi.
Đôi mày anh ta cau lại. Rồi cũng chẳng rửa nốt con cưa mẹ, Xá quẳng chiếc dũa vào hòm dụng cụ, đứng lên:
- Này, chuyện nghiêm chỉnh đấy, không đùa được đâu... Tôi nói vậy cậu có hiểu không đấy?
Nói xong, không chờ Bôn trả lời, Xá đi tới góc nhà, móc túi áo lấy hộp thuốc lá sợi đem vấn. Anh tìm một chiếc ghế khác, ngồi đối diện với Bôn:
- Cậu có hút không?
- Có.
Xá đưa hộp thuốc cho Bôn rồi cúi xuống, lăn điếu thuốc của mình:
- Tôi đã nói với cậu rồi... Cái nghề đàn ông đàn bà, phải mê nhau mới ăn ở được với nhau.
- Tôi yêu Miên... Tôi không yêu ai ngoài người đàn bà ấy.
- Phải. Nhưng còn cô Miên... Vấn đề là ở chỗ ấy. Có tình yêu hai phía mới thành vợ thành chồng. Tôi nói thế này cậu đừng giận. Ngủ với con đàn bà chẳng yêu mình thì thà cứ tìm lỗ né cáy còn hơn.
- Chúng tôi đã từng là vợ chồng. Mối tình đầu của tôi cũng là tình đầu của Miên... Cần phải có thời gian để tìm lại...
Xá rít mấy hơi thuốc liền, rồi hỏi:
- Cậu đã gặp tay Hoan chưa?
- Chưa. Anh ta xuống thành phố. Chủ Nhật mới lên nhà bà Huyên thăm con chốc lát rồi lại đi...
- Cậu không đến nhà bà dì Miên hay sao?
- Trừ phi Miên có việc bảo tôi phải đến.
- Thế thì cũng phải... Bà ta chẳng ưa cậu... Mà cậu cũng chẳng mến chuộng gì bà lão đỏng đảnh ấy... Nhưng theo tôi, ít nhất cũng một lần cậu nên gặp tay Hoan.
- Tại sao tôi phải gặp anh ta? Chẳng để làm gì hết... Anh ta có phần anh ta và tôi có phần tôi.
Trán Xá nhăn lại. Anh ta ném đầu mẩu thuốc ra vườn rồi lại vớ hộp thuốc cuốn luôn điếu khác.
- Này Bôn, lời nói thẳng vốn khó nghe nhưng hôm nay cậu hãy gắng mà nghe cho đến đầu đến đũa. Tôi với cậu chẳng phải anh em họ mạc nhưng chúng ta có cái tình gắn bó còn mặn mà hơn thế. Bởi vậy tôi thấy có trách nhiệm phải nói cho cậu biết rõ mọi ngả nông sâu của cuộc đời. Ngày xưa đi học, cậu vẫn thường giải toán cho tôi, sao
bây giờ cậu không biết cách giải bài toán chính của số phận?
Hiện tình, cậu đang cưỡi trên lưng cọp. Trèo lên lưng cọp không hẳn dễ, nhưng xuống đất còn khó gấp vạn lần... Thông minh như cậu hẳn biết vì lẽ gì cô Miên từ bỏ tòa ngang dãy dọc của cô ấy để về rúc trong gian buồng lợp gianh của cậu. Người đàn bà trọng danh dự lắm mới làm nổi cái sự ép mình như vậy. Gặp kẻ khác tôi đoan chắc cậu chỉ có nước xách bị rời khỏi cửa nhà cô ta... Nhưng mọi sự trên đời đều có giới hạn. Cô ta không thể vì nghĩa cử mà sống với cậu cho đến lúc tóc bạc răng long. Tôi nói rồi, chuyện gối chăn phải yêu mê nhau mới nên hồn... Muốn đánh trận phải nhìn rõ mặt đối thủ... Tại sao cậu không thử tìm cách gặp Hoan, dù chỉ một lần?
Mặt Bôn nóng bừng bừng, và anh nghe trong tai mình có tiếng ù ù như ai xay lúa:
- Tôi chẳng hoài hơi làm cái điều ngu ngốc ấy... Tôi không định đấu gươm với anh ta và bây giờ không còn là thế kỉ mười lăm, mười sáu...
- Vậy, cậu cứ nhắm mắt nhảy ào xuống sông, không lường nông sâu, chẳng dò nước ấm hay lạnh?
Bôn không trả lời.
Xá cũng không gặng thêm nữa. Hai người ngồi phun khói trong im lặng. Những mẩu đầu thuốc tiếp nối nhau quẳng ra vườn. Trời mỗi lúc càng thêm nóng và thi thoảng Xá lại vớ tấm khăn bông lau bộ ngực vạm vỡ lẫn tấm lưng trần của anh ta. Bôn không nhìn nhưng anh biết anh thèm muốn những bắp thịt nổi vồng trên khuôn ngực gã sơn tràng, thèm muốn gương mặt cười cợt chung thân như mặt thằng hề nhưng lúc nào cũng ngời lên ánh sáng của thiện tâm và hạnh phúc. Tiếng chim vườn chốc lát lại rót vào không gian, khiến vòm trời như cao hơn và màu lơ kia trong veo trong vắt. Bao nhiêu giây phút trôi qua, Bôn không nhớ. Nhưng sau đó rất lâu Xá cất tiếng thở dài và hỏi:
- Này Bôn, cậu biết tỉnh ta vừa thành lập nông trường chứ?
- Không, tôi không đọc báo.
- Nông trường đó ở cách đây ngót một trăm cây, tên gọi Bình Minh.
Nó được lập ra để hứng đám con gái phục vụ chiến tranh giờ đã quá lứa không còn tuổi lấy chồng, trở lại quê hương cũng bẽ bàng mà tìm công việc nơi thành phố càng khó khăn. Ở đó, họ trồng dứa và trồng tiêu như quê ta... Tay Liệu bạn hẩu của tôi chuyên ngành về làm trưởng phòng hành chính. Cậu có thể đến đó, sinh sống sẽ dễ dàng hơn tự kiếm vốn vỡ khu đồi xã chia cho cậu ở đây. Nông trường này vẫn còn được nhà nước bao cấp và đám cán bộ quản trị hưởng lương theo thang lương quy định... Đất ấy chắc hợp với cảnh neo đơn của cậu. Điều chủ yếu là ở Bình Minh cậu có thể chọn trong số hơn hai trăm cô thanh niên xung phong quá lứa một người vừa ý về làm vợ.
- Anh nói lạ lùng... Gia đình tôi ở đây... Quê hương tôi ở đây...
Xá cười khẩy, lắc đầu:
- Quê hương chỉ có ý nghĩa khi tìm được một mái ấm... Thế nên ở nơi nào ta tìm được một mái ấm, nơi ấy là quê hương... Còn gia đình cậu là bà Tá hay cô Miên?
Bôn không trả lời, Xá nói tiếp:
- Gia đình cậu nghĩa là cô Miên, tôi nói thế cậu không phản đối chứ? Hãy nghĩ cho cạn lẽ, đã chắc gì cô Miên yêu cậu, cảm thông với cậu hơn một cô thanh niên xung phong quá lứa lỡ thì đang ngong ngóng chờ một thằng đàn ông nào rờ mó tới? Chỉ những kẻ cùng cảnh ngộ mới có thể thương nhau đến đầu đến đũa. Chúng ta đã từng là lính. Tất thảy những thằng lính ra khỏi cuộc chiến tranh đều phải nộp thuế, đều phải để lại vật gì đó làm lễ tế thần... Như tôi chẳng hạn, mảnh bom nhỏ bằng mảy trấu cũng móc ra một con mắt. Như thế, tôi đã nộp xong xuất thuế của mình... Còn cậu...
- Tôi cũng ngần ấy năm lưu lạc, anh xem...
Xá lại lắc đầu:
- Chưa đủ đâu, người anh hùng ạ... Tôi thấy như là chưa đủ xuất...
- Dạo này anh ăn nói lạ lùng...
- Ờ... Cũng có thể tôi trở thành thằng gàn trước tuổi...
Lúc đó, Soan từ ngoài cổng đon đả bước vào. Chị cắp một thúng đầy những na lẫn ổi. Người đàn bà trẻ tuy không đẹp nhưng tươi tắn, mặn mà. Cũng như chồng gương mặt chị lúc nào cũng ngời lên ánh sáng của sự mãn nguyện lẫn thiện tâm:
- A, chào chú rể mới... Sao, anh đón nàng về dinh có vui không?
Bôn chưa kịp đáp Xá đã nạt nộ:
- Cái cô này đa sự... Đã bảo đừng khóa cổng mà cứ quen tay. Làm người ta đứng lên ngồi xuống gãy cả gối đây này...
- Đấy, anh Bôn xem... Ra trận là lính mà về với vợ con là tướng, hách chẳng ai bằng.
Nói xong chị cười. Chiếc răng khểnh làm nụ cười rạng rỡ hẳn lên. Chị ngước mắt nhìn chồng vừa thần phục vừa riễu cợt:
- Hung hăng thế mà hồi lên cái nhọt ở mông, em nặn cho kêu rống lên như con bò bị chọc tiết, quá đứa trẻ lên ba...
Xá bảo:
- Da thịt người chứ có phải sẹo gỗ đâu mà không đau? Thử rơi vào cô xem... Cô không khóc hu hu tôi cứ bé bằng con kiến.
Soan chọn mấy quả na chín cây và vài quả ổi bỏ vào đĩa:
- Thôi thôi, em chẳng hơi sức đâu mà đấu khẩu với anh. Từ thuở lọt lòng đến giờ anh có chịu thua ai nhời nào đâu? Chẳng cứ bạn hữu, xóm giềng mà ngay cả cô dì chú bác, những bậc bề trên trong họ... Nào, anh Bôn ăn đi. Xem ổi vườn nhà em có ngọt bằng ổi bên vườn nhà anh không?
Bôn cắn trái ổi, lưỡi ngọt dạ chẳng ngọt. Ổi nhà anh còi cọc không được trái chín nào. Quả mới ương ương lũ con Tá đã hái ăn sạch. Những đứa trẻ thả rông như loài thú hoang, không tới lớp mẫu giáo, cũng chẳng học vỡ lòng tha lôi nhau hết vườn nọ tới đồi kia, lăn lê từ lối mòn này sang ngả đường khác... Bao năm khu vườn bỏ mặc cho kiến bọ, các loài sâu và các loài chim. Từ khi anh về, anh đã trồng ở đó một luống cây hương nhu và vài khóm hoa riềng dại. Vì chúng là thứ cây không ăn được nên lũ con Tá để yên. Nhưng đất cằn, ngay những hương nhu cũng không lớn được, mấy khóm riềng dại không trổ hoa còn người đàn bà anh yêu lạnh lùng như khí núi... Phải, Xá nói đúng, cái giống đàn ông đàn bà phải mê nhau mới ăn ở được. Cứ nhìn cảnh nhà Xá đủ biết, vợ anh ta mê anh ta đến thế nào. Mặc dù đã được nghe kể nhiều lần về cuộc tình
giữa Xá chột với cô Soan, Bôn vẫn không hình dung nổi người đàn bà hiền lành đon đả vừa lựa những trái ổi chín mời anh lại có thể táo tợn đến nhường ấy...
Dạo Xá phục viên, chẳng có trong tay thứ gì ngoài vài bộ quân phục và món tiền còm đủ làm vài mâm cơm rau dưa mừng ngày đoàn tụ. Cha mẹ Xá đã chết từ lâu những năm anh còn ở chiến trường ngôi nhà hương hỏa ông anh chiếm, thêm bà chị dâu mặt lúc nào cũng nặng như chì nên Xá ở nhờ nhà ông chú ruột, và bữa cơm đoàn tụ được làm tại nơi đó. Vài ngày sau, gã trai đã vác đồ nghề sơn tràng lên rú, bắt đầu lại cuộc sống sơn dân. Bất đồ, Xá gặp Soan hái củi. Họ yêu nhau tức khắc, theo đúng kiểu người đời vẫn gọi: Ái tình sét đánh. Thời con gái, Soan cũng không đẹp nhưng duyên
dáng, mặn mà, khối người để ý. Trong số đó, có gã anh trai họ đằng mẹ của cô. Anh ta không thật giàu nhưng cũng có ngôi nhà ba tầng dưới thành phố, dẫu một tầng chỉ rộng mười sáu thước vuông nhưng cũng đàng hoàng mở được cửa hàng đại lý ngũ cốc và nhờ đó lúc nào cũng rủng rỉnh tiền. Anh ta hơn Xá hai tuổi nhưng khôn ngoan từng trải, lại có cả một chiến thuật mua chuộc đám họ hàng, xóm giềng nên cầm chắc phần thắng trong tay. Cưỡi chiếc xe mới dán nguyên tem về làng, nhưng bất kỳ gặp ông già bà cả nào anh ta cũng xuống xe, cúi chào lễ độ. Sau đó anh ta tới hỏi thăm từng nhà, bắt đầu từ ông trưởng tộc xuống đến các ông trưởng chi, nội lẫn ngoại, không quên đem theo quà bánh để đặt lên bàn thờ, thắp nén hương khấn vái tổ tiên. Ông trưởng tộc được một gói trà ướp sen với hộp bánh nướng hảo hạng, ông trưởng chi được gói trà ướp nhài với phong bánh quy, rồi các bà láng giềng được khăn len quàng cổ, trẻ con được kẹo hồng và kẹo cam... Thứ nào cũng gói bọc tinh tươm bằng giấy bóng màu rực rỡ... Tiếng khen râm ran không ngớt từ trong nhà ra ngoài ngõ:
- Cô Soan vớ được tấm chồng, đáng công trang điểm má hồng răng đen... Sau này tha hồ nhờ cậy...
- Trai thời nay chẳng thấy ai thông thái như anh Khiền. Còn trẻ thế mà thuộc làu làu lịch sử... Bữa trước lại chơi, anh ta đọc vanh vách cụ tổ nhà tôi đỗ bảng nhỡn năm nào, tháng nào, cùng thời với ai... Mình bạc trắng đầu cũng không biết rõ tổ tiên mình
đến thế...
- Anh ta có chữ, lại sẵn tiền, hào hiệp với xóm giềng làng nước, con cái Soan lấy được tấm chồng như thế ngang lên cõi tiên...
Bố mẹ cô Soan, khỏi phải nói, sướng lăn lóc. Họ hớn hở chờ ngày "đám cưới to nhất làng nhì xứ" được thực hiện:
- Con xem xem, trong làng ngoài nước không ai không ca ngợi anh Khiền... Người đức hạnh như thế, nhất nhất sau này sẽ thủy chung. Con lấy anh ta sẽ được đổi đời, sau này ăn trắng mặc trơn chẳng đầu tắt mặt tối như dân xóm Núi...
Soan lắc đầu nguây nguẩy:
- Con không lấy ai cả, con không lấy ai hết... Con ở nhà với bố mẹ...
Nhưng không ngày nào cô không gặp Xá. Hai người chết mê chết mệt với nhau. Bố Soan bắt được họ ngồi tự tình ven đồi liền tát cho cô hai cái nảy đom đóm mắt rồi dẫn về, trói ở cột chuồng trâu một đêm một ngày liền cho biết phép nhà... Đám bạn Xá chạy tới, vừa an ủi vừa khuyên:
- Đối phương mạnh quá Xá ơi, cậu lấm lưng mất. Tính trước đi là vừa...
- Nếu quả tình không cứu vãn được, hãy ra tay trước. Cậu phải tuyên bố bỏ cô ta để khỏi mang tiếng là kẻ bị đá đít... Khiền tuy giàu sang, lắm tiền của lại nguyên vẹn cả hai con mắt nhưng hắn sẽ bị đo ván một khi cậu tuyên bố bỏ cô Soan. Như thế, trước mắt thiên hạ, hắn là kẻ hứng của thừa...
Xá bối rối. Anh chưa biết tính cách nào. Anh yêu Soan, nhưng xem ra đó là mối tình vô vọng. Cuộc so đo không ngang sức. Anh, gã lính về vườn, không cắc bạc trong tay, cửa nhà không, nương vườn chưa có. Xã cũng đã chia cho anh khu đồi nhưng chưa có tiền mướn thợ vỡ đất trồng cọc và mua giống tiêu. Anh dự tính phải sau hai
mùa sơn tràng mới lo nổi số tiền ấy...
Vào lúc anh bấn loạn Soan chạy đến, mặt mày sưng đỏ muỗi cắn, nước mắt lấm lem. Cô bảo anh rằng cô phải rống lên đến nỗi bố mẹ xấu hổ với láng giềng đành cởi trói. Rồi cô giục:
- Anh phải cưới em ngay... Phải cưới ngay tắp lự.
Xá gặng hỏi:
- Vậy... ra Soan không yêu anh ta chút nào chứ?
- Không... không...
Soan gào thật to đến nỗi ông chú ở trong nhà phải ló đầu ra nhìn.
Lúc ấy, hai người ngồi nói chuyện bên rặng dâm bụt trước ngõ.
Soan gào lên rồi quắc mắt nhìn Xá:
- Em đối với anh mặn tình như thế mà anh dám hỏi câu ấy... Vậy anh coi em là kẻ ăn ở hai lòng?
Xá sợ, vội thanh minh:
- Không, tôi không dám... Chẳng qua là vì...
Anh không dám nói với Soan một cách thành thật những ý nghĩa của mình, càng không dám nói tới những lời khuyên của đám bạn. Soan bảo:
- Em không bao giờ yêu cái lão hói đầu ấy, không bao giờ em ngủ với lão hói đầu ấy, dù nó giàu vô thiên lủng.
Xá hỏi:
- Nhưng anh biết làm sao bây giờ? Anh yêu em nhưng anh không dám cãi lộn hoặc đánh nhau với bố em vì làm như thế chúng ta sẽ trở thành những đứa con bất hiếu.
Soan đáp, không chút chần chừ:
- Chúng mình phải ngủ với nhau ngay, ngay tức khắc... Em mà chửa ra, bố mẹ mới hết ép gả cho lão Khiền. Thằng cha ấy đã chuẩn bị mười tám mâm ăn hỏi vào tháng sau...
Lúc đó, anh đang ở nhờ nhà ông chú ruột. Nhà rộng nhưng không có buồng riêng. Hai đứa con trai ông chú tuy trẻ đều đã cưới vợ, chiếm giữ hai căn buồng đầu hồi. Ông chú với anh ở ba gian nhà giữa. Gian chính đặt bàn thờ, ông và Xá mỗi người ngủ mỗi gian
bên. Ba gian đều rộng rênh nhưng nhìn thông thống sang nhau. Và họ chẳng thể làm ăn được trong cái không gian ấy:
- Khó quá...
Anh than thở:
- Anh định kiếm mớ tiền rồi mới dựng nhà... Đất xã đã chia nhưng phải có tiền mua gỗ mua gạch mới có thể tính chuyện...
Soan giãy nảy:
- Chờ đến lúc ấy thì hỏng hết chuyện... Mình phải ngủ với nhau ngay đêm nay, đêm mai, đêm ngày kia... Em nhất định phải có thai mới nên được duyên kiếp...
Hai người nghĩ ngợi một giây rồi Soan quyết định:
- Anh vào lấy vải nhựa ra đây.
Xá vào nhà và sau đó quay ra với chiếc ca-pốt của lính Mỹ, chiến lợi phẩm anh thường dùng những lúc lên rừng. Họ cùng nhau qua thung lũng, qua mấy dải đồi trồng dứa lên tới những con dốc mọc đầy cây dâm dương hoắc. Ở đó, họ ngồi chờ mặt trời lặn, chờ
khoảnh khắc thiêng liêng để bóng tối bao phủ rừng núi đồi nương làng xóm, thả thứ sương mù đen như mực cho ánh mắt tò mò tọc mạch của thế gian không thể rọi tới...
- Thế nào, ăn được chứ hả?
Xá cất tiếng.
Bôn giật mình vội đáp:
- Ngọt... Ngọt thật.
Xá bảo:
- Vườn của cậu phải cải tạo. Phải cải tạo hoàn toàn. Tôi nói vậy nghĩa là cậu phải đốn hết cây, đào hết gốc, đem làm củi tất tật. Rồi xới xáo lại, ủ phân trộn nhuyễn với đất và trong một thời gian dài cho đất nghỉ ngơi, bổ dưỡng mới được tính đến chuyện trồng cây khác.
- Tôi hiểu.
Bôn đáp. Trong lúc tim anh rên rỉ:
Gã đàn ông kia sung sướng thật... Gã tính mọi chuyện dễ ợt như vẽ lên lòng tay. Bởi gã có được một người đàn bà yêu gã đến thế, tận tình đến thế, hy sinh vì gã đến thế... Có được tình yêu, người đàn ông sẽ có cả thế gian.
Bôn biết rằng khởi đầu Xá cũng là kẻ trắng tay. Ngay đám cưới Soan anh ta cũng không làm nổi. Chính là Soan, người đàn bà táo tợn kia lo toan chuyện đó. Soan có thai, cô ra ngay trạm xá khám và tuyên bố với gia đình. Cô bảo bố mẹ rằng chính cô ta nhẹ dạ nên bây giờ họ phải đứng ra gánh vác chuyện cưới xin nếu không muốn mất mặt với láng giềng. Nếu ông bà đứng ra tác tạo cho đôi lứa, sẽ được thêm một đứa con. Xá là gã trai siêng năng tốt bụng, ăn ở hậu hĩ với anh cũng chẳng sợ thiệt thòi. Bằng không, cô vác bụng theo anh ta, ông bà sẽ mất đi chính đứa con ruột thịt, mất công mang nặng đẻ đau... Sau rốt, lời lẽ của đứa con gái táo tợn đã đánh ngã hai bậc phụ mẫu. Chính bố mẹ Soan đứng lên dựng rạp, lo hơn một trăm mâm cỗ cưới cho hai người. Soan đẻ con trai. Xá làm ăn khấm khá hẳn lên, số anh ta như diều gặp gió và rồi đúng như Soan dự đoán, anh ta trở thành đứa con rể hiếu thuận nhất làng...
- Thế nào, cậu vẫn giữ ý định làm nương tiêu chứ?
Xá lại hỏi.
- Phải, tôi muốn trồng tiêu, vì chẳng có nghề sơn tràng như anh.
Bôn trả lời.
- Không ít vốn đâu.
Xá bảo. Bôn im lặng. Anh lại thấy con tầu đang chìm xuống biển bùn và nỗi ê chề tràn ngập.
Xá gặng hỏi:
- Cậu nhất quyết ở lại Xóm Núi.
- Tôi ở lại.
Bôn đáp. Sau khi ngập ngừng vài giây, anh nói thêm:
- Tôi yêu Miên...
Anh biết rằng lẽ ra anh phải nói:
Tôi yêu người đàn bà đó dẫu cô ta không còn yêu tôi nữa.
Nhưng tôi đã đặt hết cuộc đời tôi vào mối duyên này giống con bạc khát nước cuộc toàn bộ gia sản vào ván bài sau chót... Tôi không thể ra đi. Tôi không còn hơi sức để ra đi. Người đàn bà đó hút hồn tôi. Chẳng ai thay thế được Miên. Chẳng da thịt nào trắng như da thịt ấy, chẳng đôi mắt nào long lanh hơn đôi mắt ấy, chẳng mái tóc nào óng ả hơn mái tóc ấy... Cô ta đã từng là của tôi... Rồi một ngày tôi sẽ tìm lại được hạnh phúc, miễn là tôi kiên nhẫn.
Nhưng anh không đủ can đảm nói thật, dù là đối với Xá, người bạn tận tụy, kẻ bảo trợ tự nguyện cho anh. Xá nín thinh. Anh ta vớ một quả na chín, bửa đôi, ăn hết sạch, đoạn buông tiếng thở dài:
- Thôi được... Nếu cậu đã quyết... Nhưng muốn thế, trước hết cậu phải đi chữa bệnh. Mồm cậu thối bỏ mẹ, tôi ngồi xa thế này còn không chịu được huống chi đàn bà?
Soan lườm chồng:
- Cái lão dở hơi này, ăn nói lỗ mãng thế hả?
Đoạn chị quay sang nói với Bôn:
- Anh đừng chấp... Chồng em lắm lúc y hệt thằng khùng... Chẳng cứ với anh, ngay với bố mẹ em nhiều khi ăn nói cũng láo liên như thế...
Nói xong, chị liền vội vã đi vào bếp, bỏ lại thúng na lẫn ổi chọn dở dang. Chờ Soan vào hẳn trong bếp, Xá nói tiếp:
- Nếu cậu quyết sống lâu dài với cô Miên, phải chữa bằng được bệnh hôi mồm, còn những việc khác sẽ tính sau. Mai, tôi đưa cậu xuống viện thành phố. Dưới đó, tôi cũng có ông bác làm nghề bốc thuốc bắc. Ta sẽ đến cả hai nơi xem sao... Có bệnh phải vái tứ phương. Giờ cậu về xoay lấy ít tiền, tôi chỉ còn hai ngày nữa thôi. Sáng sớm ngày mốt, đám sơn tràng chúng tôi làm lễ và ngược rú.



Chương 12


Thành phố không có trăng, hoặc nói đúng hơn, trăng thành phố bẽ bàng nhợt nhạt. Chìm lấp dưới các loại đèn mầu trăng biến thành xác ướp của chị Hằng treo lửng lơ giữa bầu trời đầy bụi và khói.
Nhưng ở đây, trên bãi biển vắng tanh vắng ngắt này, trăng ngự trị với vẻ đẹp vẹn toàn, kiêu hãnh. Không vời gọi, không huyền bí như trăng miền sơn dã nhưng lộng lẫy hơn, uy nghi hơn, hùng mạnh hơn.
Biển bờ, sóng nước, những vàng lưới giăng mắc trên bãi cát, đám thuyền nằm chờ đợi... tất thảy đều tôn vinh quyền uy vô song của nó. Không gợn mây vương. Gió chạy ù ù qua rừng phi lao, reo trên sóng nước. Mùi biển đẫm không gian như từng thớ gỗ thuyền, từng hạt cát, từng bông cỏ mặt trời, từng tế bào trên da thịt con người đều thấm đầy vị muối cùng mùi sóng, thứ mùi vị tẩm liệm tâm hồn bất cứ kẻ nào sinh ra và lớn lên ven biển.
Hoan rít liên tục hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Những đọt lọc thuốc ném rải rác trên mô cát trước mặt anh dưới ánh trăng vẫn nhìn rõ:
Một bao rưỡi, từ lúc ra đây mình đã hút hết bao rưỡi...
Anh thoáng nghĩ rồi tiếp tục châm nữa, hút mà không còn nhận ra mùi thơm, không còn ngửi thấy vị khói, rít liên hồi như thợ muối đẩy bàn trang trên mặt ruộng. Từ nơi anh ngồi tới mép sóng chừng dăm thước, nhìn rõ đường lươn dập dờn của làn nước, đám bọt mờ nơi đỉnh sóng lẫn những gợn cát khi chúng rút ra xa. Anh nghe rõ tiếng đổ ập của con sóng vào, nặng nề hối hả như nỗi cồn cào của kẻ đói yêu và lặng lờ khi sóng lui xa, bồng bềnh như tiếng thở dài vừa mãn nguyện vừa nuối tiếc. Biển tuổi thơ của anh giờ đổi khác: Nó là biển của kẻ đã từng trải và thôi không còn sung sướng... Đã một tháng. Trăng đêm nay không tròn hẳn mà ngả sang hạ tuần, giống như đêm trăng Xóm Núi.
Từ đêm anh dắt Miên lên sân thượng tới nay đã tròn một tháng.
Thời gian chẳng tiếc thương ai. Ngày lại đêm, trăng tròn rồi khuyết, Hoan không hiểu anh đã sống vật vờ qua ba mươi ngày ấy ra sao? Một hình nộm hay một bóng ma câm lặng? Không, có lẽ anh vẫn giữ được dáng vẻ đường hoàng chững chạc bên ngoài. Giữ tư thế của một người đàn ông đứng đắn, chừng mực, con nhà có cốt cách. Những quy chế đạo đức nghiêm nhặt của ông giáo Huy vẫn kiểm soát từng hành vi, từng lời ăn tiếng nói của anh. Anh vẫn làm việc một cách bình tĩnh sáng suốt, tính toán rạch ròi đâu ra đấy, thiết kế lại cửa hàng, thuê người thi công, chọn nhân viên mới, thay đổi mặt hàng tìm mối manh để kiếm thêm những mặt hàng ưu thế rồi thuê người áp tải từ Sàigòn và Đà Nẵng ra. Cửa hàng của anh giờ không còn bán tạp hóa mà chuyển sang các vật liệu nội thất, đồ điện đồ gỗ và một ít đồ trang trí loại đắt tiền. Công việc tiến triển như có phép tiên. Mới một tháng tròn mà sự thay đổi khiến cả thành phố trầm trồ.
Chị Châu bảo:
- Hóa ra chính cậu mới có tay buôn. Cậu làm một tháng bằng chị cầy cục mấy năm ròng. Lẽ ra cậu phải về thành phố từ ngày hòa bình mới phải.
Hoan không đáp.
Chị anh chợt nhận ra sự im lặng của đứa em trai, chị lúng túng nói:
- Ấy, là chị nói thế... Chị xin lỗi...
Và chị lẩn ngay đi nơi khác.
Giữa những quãng thời gian tính toán hoặc kiểm soát hàng hóa, Hoan thường ngồi nhìn đường phố. Dòng đời diễu qua như con nước chảy. Trước đây vài năm có ai ngờ phố xá sầm uất đến thế này.
Cũng chẳng ai tưởng tượng nổi ngôi nhà của ông bà nội anh bị trưng thu được trả lại đột ngột không kèn không trống. Lúc đó, Hoan còn ở Xóm Núi. Chị Châu, chị Nền cùng gia đình về thành phố.
Sau khi mẹ anh chết, chị Châu thế chân bà bán hàng trong cửa hành bách hóa tổng hợp thành phố, vẫn dưới quyền lãnh đạo của bà Kim Lan. Chị anh đã phải chịu mọi sự trả thù hèn hạ của người đàn bà đỏng đảnh lăng loàn sau khi cuộc hôn nhân giữa anh và cô Kim Liên tan vỡ. Bất ngờ một buổi, có chiếc xe hơi xịch đỗ trước cửa. Trên xe bước xuống hai người đàn ông. Một trong hai người ngó nghiêng cửa hàng bách hóa và hỏi:
- Đây có phải nhà anh giáo Huy không nhỉ?
Chị Châu bước ra đáp:
- Dạ thưa ông ba tôi đã mất. Nhà này trước đây của ông bà tôi.
Người khách đứng ngẩn ra nhìn chị hồi lâu rồi nói như quát:
- Con cái Châu hả? Mày lại dám xưng tôi với chú mày a? Mày biết tao là ai không?
Chị Châu hoảng hồn không biết ăn nói ra sao, ông khách lạ lùng kia đã kéo người bạn vào nhà:
- Vào trong này, tôi phải thắp hương cho ông anh tôi đã.
Đoạn ông quay sang bảo chị Châu:
- Tao là chú Huyến hiểu chưa? Tao bỏ quê đi mấy chục năm trời.
Ba mày có nhắc đến tao không đấy?
- Dạ, ba mẹ cháu có nhắc tên chú luôn.
- Phải, ngày xưa ba đứa chúng tao vẫn chơi tam cúc ăn tiền... Mẹ mày ra sao?
- Ba cháu mất năm trước mẹ cháu mất năm sau, vừa hết giỗ đầu ông cụ...
- Cũng phải vậy thôi... Cái đời này yêu nhau lắm, người dương kẻ âm sao được?
Nói xong ông cười sằng sặc nhưng nước mắt ràn rụa. Rút khăn lau mặt, ông bảo người đi cùng:
- Bây giờ già rồi, đâm ra hay khóc... Tôi xa quê lâu quá... Xa quê gần hết cuộc đời...
Nói rồi ông lại khóc. Vị khách đi cùng lẫn mọi người đều đứng yên chờ ông khóc cho hết cơn. Chị Châu đưa ông qua cửa hàng vào gian nhà trong, nơi đặt bàn thờ ông bà giáo. Ông khách thắp ba nén nhang cắm vào bát, gọi hồn người chết cũng ngỗ ngược, suồng sã như ông nói với người sống. Khấn vái, than thở xong ông rút ví đưa cho chị Châu nắm tiền:
- Ngày mai mua đồ lễ cúng ba mẹ mày.
- Thưa chú, mai chưa phải ngày kị...
- Tao đã khấn bất cứ ngày nào bố mẹ mày cũng phải đội mồ đi lên.
Ngày xưa, tao còn đưa thư tình cho anh chị ấy rồi mới bỏ nhà theo cách mạng... Trưa mai, họp xong chú sẽ về thắp hương cho ba mẹ cháu...
Nói đoạn ông Huyến kéo tay người đồng hành:
- Đi cậu.
Ra tới hè, khi lái xe đã mở cửa bỗng nhiên ông lôi ông ta quay lại:
- Cái nhà này là thế nào hở?
Vị khách ngượng ngùng đáp:
- Trưng dụng làm cửa hàng bách hóa từ năm 56... Thời đó, các anh ấy đã quyết định...
Ông Huyến trợn mắt lên:
- Trưng dụng... Nhà anh giáo Huy mà còn trưng dụng thì ăn ở đượcvới ai?
Ông kia đáp:
- Việc đó do lịch sử để lại.
Ông Huyến bảo:
- Lịch sử sai cũng phải sửa. Lịch sử là do mấy lão tiền bối của bọn ta làm, có lão tả khuynh, có lão hữu khuynh, có lão thích trò mị dân, có lão thích chơi chiêu của bọn quá khích và khủng bố... Phải xét cái gì đúng cái gì sai mà làm chứ? Không lẽ bây giờ trong đám dân chúng của cậu có đứa lỡ chửa hoang cậu cũng gọt đầu bôi vôi rồi bỏ rọ trôi sông như lịch sử ngày xưa?
Vị khách thấy ông Huyến tức giận lại to tiếng ngay trên hè phố vội kéo vào ô tô:
- Được rồi... Tôi biết rồi... Để tôi bảo chúng nó...
Xe chạy vụt đi.
Trưa sau, đúng ngọ ông Huyến quay lại. Đi theo ông là viên thư ký của bí thư tỉnh ủy, người hôm qua bị ông tấn công. Viên thư ký đem theo sắc lệnh tức khắc trả lại nhà cho gia đình ân nhân cách mạng, kèm theo khoản bồi thường. Bà Kim Lan và các nhân viên khác phải tức khắc chuyển hàng hóa về kho của Ty Thương Nghiệp để chờ phân công việc mới.
Chuyện xảy ra như mơ. Chị Châu lên Xóm Núi kể lại tường tận với Hoan và bảo anh đưa gia đình về phố. Nhưng Hoan đã giao cho chị toàn quyền quyết định. Anh không thiếu tiền, và đời sống miền sơn dã vẫn lôi cuốn anh hơn. Chị Châu về phố, cắt mảnh đất làm đôi xây hai ngôi nhà cùng kích thước, cùng kiểu mẫu bằng số tiền bà giáo quá cố giao phó và tiền riêng chị dành dụm được. Xây xong, chị dọn hai cửa hàng bách hóa, giao chị Nền trông coi cửa hàng của Hoan, tháng tháng kiểm kê thu chi và xếp những đồng tiền lời vào hộp, dành cho đứa em trai, kẻ nối dõi tông đường của ông bà
giáo...
Hôm Hoan từ Xóm Núi trở về, anh ứa nước mắt khi hai người đàn bà giao nộp tiền ấy cho anh cùng với chùm khóa. Anh hiểu những hạt giống cha anh gieo không mất. Anh quyết định phá vỡ bức tường ngăn hai cửa hiệu, làm thành cửa hàng thênh thanh nhất thành phố, trang trí nội thất lại và thay đổi mặt hàng. Anh muốn gầy dựng cho những người đã tận tụy với anh một cuộc sống phong lưu, giữ gìn mối tình cảm nồng ấm và nghiêm túc giữa các thành viên trong gia đình, theo đúng nguyên tắc của cha anh ngày trước. Hoan thành công mau lẹ. Một lực lượng thần bí đã phù trợ anh. Một ngón tay linh thiêng trỏ anh từng đường đi nước bước. Bất cứ mặt hàng hóa nào Hoan đụng tới đều mau lẹ trở thành hàng hóa thời thượng và chúng đem lại cho anh những món lãi khổng lồ. Mặt hàng này chưa vãn, Hoan đã thay mặt hàng khác và những kẻ chạy theo chân anh chỉ còn biết vuốt bụng thở dài:
- Thằng cha ấy vào vận đỏ... Trời phù hộ cho nó.
Phần Hoan, chính anh cũng không biết vì sao anh làm mọi chuyện dễ dàng đến thế. Việc buôn bán của anh giống trò đùa. Để quên mối sầu buồn anh đi liên tục. Hết Đà Nẵng vào Nha Trang, từ Nha Trang lên Đà Lạt. Từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Từ Sài Gòn lại quay ra Đà Nẵng. Trong những chuyến ngao du ấy anh nhận thấy người đời cần thứ này hoặc thứ kia, rằng hôm nay họ thích mốt này ngày mai họ thích cái khác. Những quyết định đến mau lẹ sau một vài giờ tính toán. Chuyến hàng nào của anh cũng chóng vánh theo kiểu người ta gọi: Đánh nhanh rút nhanh. Chưa lần nào thất bại. Công việc đã vào guồng tự nó cuốn theo. Hoan vẫn có thời gian rảnh rỗi. Anh nhờ người kiếm hồng tường vi và cây móng rồng trồng quanh vườn. Anh cho người đi mua bể cạn. Anh tái tạo lại cái khung cảnh thời thơ trẻ và đắm mình vào kỷ niệm, mường tượng những buổi chiều mẹ anh làm lễ vọng trời đất, mường tượng người đàn ông tao nhã dịu dàng thường vuốt mớ tóc trước trán anh, mường tượng chàng trai mười tám xưa trên sân bóng rổ...
Nhưng những điều ấy không làm anh được giải thoát. Quá vãng chỉ là quá vãng. Nhiều lắm nó cũng chỉ cho con người sự êm dịu và ảo ảnh về một sức mạnh. Nó không là cuộc sống. Cuộc sống của anh đã ở ngoài anh, ngoài gã đàn ông chĩnh chện giàu sang và nhàn nhã, thường ngồi sau ly cà phê ngắm phố phường với cặp mắt không ánh sáng, không niềm vui. Đôi khi, anh tự tách khỏi bản thân để nhìn ngắm mình như ngắm nghía một kẻ lạ lùng nào đó, một thương gia trẻ đang vào vận đỏ, kẻ được cả thành phố thán phục, kẻ làm mồi cho tất thảy những toan tính của đám đàn bà trẻ hoặc của đám gái đến tuổi kén chồng... Anh không lạ gì những ánh mắt ấy. Anh từng cười nói, chào hỏi, bắt tay người này rút thuốc lá mời người kia, lịch sự lui bước nhường đường cho một cô ả xinh đẹp õng ẹo mà anh thừa biết cô ả đang cố ý chìa cặp mông về phía anh, cố ngoáy đôi chân cho thật giống các nữ minh tinh màn bạc, cố vén đôi môi cười sao thật khêu gợi và toàn bộ cuộc chinh phạt đó nhắc anh tới ly rượu đỏ của bà Kim Lan thuở xưa...
Anh thấy mình khốn khổ.
Một nỗi khốn khổ không được thổ lộ cùng ai và khó bề giải thoát. Chị Châu và chị Nền thương anh, chăm chút anh nhưng họ kính sợ anh như kính sợ một vị chúa đất và vì quá giản đơn họ không thể chia sẻ được điều gì... Tuần một lần, anh về Xóm Núi thăm con, kiểm tra rương rẫy và bàn bạc với ông già Lư, người quản gia anh đã chọn từ vùng Quảng Trị. Con trai anh xinh xắn, thông minh, hiền lành... Vẻ đẹp của nó là vẻ đẹp của hai người hòa trộn nên mỗi lần nhìn nó một gương mặt khác lại hiện lên, một thân thể khác lại áp kề, một mùi da thịt khác kêu gọi... Nỗi mừng gặp con ngắn hơn nỗi đau một người thiếu vắng. Anh bị kéo căng ở hai đầu, như một kẻ tà đạo phải chịu hình phạt cho ngựa xé. Cuộc sống phố phường cuồn cuộn. Âm thanh, màu sắc, ánh sáng hòa trộn xáo động không ngưng nghỉ, cũng chỉ lôi cuốn được anh vài khoảnh khắc.
Sau rồi, anh không còn cảm giác gì nữa, như ngũ quan của anh đã mất, chẳng thấy ánh sáng nào, âm thanh nào, mùi vị nàocòn tác động nổi.
Tối nay Hoan trèo lên sân thượng, nhìn thành phố. Anh ngồi như thế giờ lâu rồi bỗng dưng anh thấy dưới kia không còn nhà cửa, phố xá đèn đường, xe ô-tô xe gắn máy, không người đi lại không biển quảng cáo và tiếng ồn của cuộc sống. Dưới kia, là sa mạc. Một chốn không người. Mình anh trơ trọi. Nỗi cô liêu là một vòm trời khác còn rộng rênh hơn bao trùm cà vòm trời trên đầu anh. Anh sợ. Anh nghĩ anh có thể là người cuối cùng còn lại sau cơn tai biến, một nạn hồng thủy hoặc trận bão bom nhiệt hạch. Anh vội xuống nhà, nhảy lên xe, phóng ra bờ biển...
Giờ biển ở trước mặt anh. Nó cứu anh khỏi cơn hoảng loạn. Đầu óc anh dần tĩnh lặng trong gió đêm. Anh nhìn những con sóng không ngừng xô giỡn và biết rằng chỉ cần rút đôi chân khỏi giầy, lột tất đi hơn chục bước, anh sẽ thấy sóng ngay trên chân mình, sóng sẽ liếm chân anh như hơn ba mươi năm trước nó đã từng liếm đôi chân bé nhỏ của cậu bé Hoan. Mỗi bận cha anh cho ra biển tắm, Hoan thường ngạc nhiên thích thú khi bọt nước bám vào chân lông và khi vỡ nó tạo nên cảm giác ngưa ngứa, nhồn nhột...
Nếu giờ đây ta lột áo quần, phóng vào làn thủy triều kia để toàn thân được ngọn sóng vuốt ve, trùm phủ?
Hoan nghĩ tới những vuốt ve nô dỡn của sóng nước khi anh còn thơ trẻ và nỗi khao khát được trở lại một lần hạnh phúc thời quá vãng khiến tim anh nao nức... Anh đứng dậy, cởi hàng nút áo trước ngực. Nhưng khi cởi tới chiếc nút thứ ba, bàn tay anh chạm vào rốn và nó bỗng rơi thõng xuống. Anh chợt hiểu rằng anh không còn là chú bé ngày xưa... Cậu bé Hoan ngày xưa vẫn được cha cho ngồi trên vai dạo chơi trên bãi cát... Cậu bé Hoan say mê tắm biển thấy chân trời cuộc sống nằm dưới đà bay của cú nhảy sóng, mọi bí ẩn của vũ trụ bừng sáng lên sau một hơi lặn dài và làn sóng nước bao la mặn mòi hơi biển cả là nguồn sung sướng vô biên chẳng bao giờ vơi cạn...
Anh đã qua tuổi... Tam thập nhi lập rồi. Anh đã ba mươi bảy. Một gã đàn ông xa con và mồ côi vợ không thể tự cứu mình bằng cái trò tồng ngồng nhảy sóng của hơn hai mươi năm trước. Trong hơn hai thập kỉ ấy, bao nhiêu dòng nước đã cuốn từ cửa sông ra biển, và biển đã luân chuyển các guột nước trong lòng sâu của nó bao nhiêu lần? Anh lại ngồi xuống cát, châm điếu thuốc khác...
Biển của anh giờ không còn ở nơi đây. Từ xa, một bóng người đang cắm cúi đi tới. Một cái bóng bé nhỏ, chúi về phía trước, bên tay cắp chiếc thúng con. Có lẽ là một đứa bé bán quà rong. Những người tắm biển đã về từ lúc lặn mặt trời, cớ sao nó còn chầu chực nơi đây? Có lẽ nó ế hàng nên phải rình những cặp trai gái đang tình tự để năn nỉ. Và bây giờ nó gặp gã khách côi cút là anh?
Hoan đoán đúng. Đứa bé cắp thúng hàng nhằm hướng anh ngồi đi miết. Chẳng mấy chốc nó tới nơi, quỳ gối trước mặt anh vừa thở hồng hộc vừa rút cây đèn pin soi những món hàng ế ẩm: - Chú ơi, mua giùm con ít đồ nhậu.
- Chú không uống rượu.
- Vậy chú ăn quà cho vui miệng.
- Nhưng cha chú bắt chú sau khi ăn quà phải xúc miệng bằng nước muối không sợ hư răng... Ở đây, cháu có nước muối không?
Hoan vừa nói vừa nhớ tới đứa con trai, nhớ vẻ mặt phụng phịu của nó mỗi lần phải thực thi cái nguyên tắc vệ sinh nghiêm nhặt đó. Đứa bé bán hàng ngắc ngứ, đần mặt nhìn anh. Nó không hiểu ông khách nói thật hay bỡn. Cây đèn pin trong tay nó vếch lên, soi một gương mặt đen đủi, ranh mãnh với cặp môi xinh nhỏ:
Nó còn bé quá... Nó đã phải rời học đường đi kiếm sống... Có lẽ cha mẹ nó chết sớm, như Miên ngày xưa...
- Nào, cháu có món gì, để chú mua về đãi hàng phố vậy.
- Dạ, con xin chú, chú mua giùm con...
Con bé nhanh nhảu van nài. Cây đèn pin quẹt qua quẹt lại trên mấy món đồ thảm hại: Một chồng bánh đa kẹp kẹo lạc đã chảy. Một bát lạc luộc. Vài quả ổi dập nát vẹo vọ, hẳn được mót từ mảnh vườn cằn cỗi nào đó đem mớ cho trẻ nghèo. Mấy con mực nướng trong túi ni-lông. Hai gói thuốc lá rẻ tiền đã móp vỏ.
- Cháu có đi học không?
- Dạ không.
- Cha mẹ cháu không cho đi học?
- Thưa không. Con phải bán hàng. Đi học lấy chi mà ăn.
- Cha mẹ cháu làm gì?
- Mẹ con bán ốc hương ở chợ, còn cha con bán tào-phớ-rong.
- Nhà cháu đông người không?
- Có cha mẹ với năm anh em con.
- Không đứa nào đi học cả?
- Thưa không.
- Cháu có thích học không?
- Thưa không. Có hồi cậu con đã dạy chữ cho tụi con nhưng chữ không vào. Cậu bảo óc đặc không học nổi. Đi bán hàng là sướng nhất. Vừa kiếm được tiền mua gạo vừa chơi rong...
À, ra thế... Hóa ra trên đời có những đứa bé không thích học. Chẳng phải ai cũng than vãn việc học hành lở dở như người đàn bà của ta. Ta biết Miên thông minh nhường nào...
- Thôi được, chú mua hết cho. Cả thảy bao nhiêu?
Cặp mắt đứa bé đảo nhanh như chớp và ngay tức khắc mặt nó hiện lên vẻ tinh ranh của đám dân thị thành. Hoan chăm chú nhìn nó tính toán từng món một, nâng giá món này lên vài hào hoặc tính gian món kia vài chiếc, cặp môi xinh nhỏ chụm lại và đôi mắt đong đưa trên cái vương quốc bần hàn.
Hoan bảo: - Thôi, không cần đếm đi đếm lại từng cái kẹo như vậy... Tất cả bao nhiêu, cứ gộp hết vào...
- Dạ. Cả thảy đáng lẽ mười một đồng nhưng vì chú mua cả mớ nên con bớt cho chú một đồng còn mười đồng chẵn.
Xuýt nữa Hoan phá ra cười:
Con cáo con, nó tưởng mình là người trên sao Hỏa vừa xuống... Nhưng nó tưởng thế cũng có lý, chẳng ai rồ dại ngồi một mình trên bãi biển đêm thế này...
- Con ranh, mày tính kiểu gì vậy? Cả mớ hàng cháu bán nhiều lắm cũng chỉ được bốn năm đồng... Lần sau muốn bịp thì phải chọn người khác nhé...
Đoạn anh móc túi lấy ra ba tờ bạc năm đồng:
- Này, chú cho mười lăm đồng, ôm mớ quà của cháu về luôn đi... Thôi, đi cho mau kẻo lạnh...
- Dạ, con xin cảm ơn chú, con xin đội ơn chú...
Đứa bé cầm tiền rạp đầu xuống chào anh rồi sau đó nó ôm thúng hàng lủi nhanh như sóc. Hoan nhìn theo cái bóng đen bé nhỏ hút xa dần, cồn cào gan ruột. Viền môi hồng nhỏ xíu của nó gợi cho anh một viền môi khác. Và từ điểm nhớ ấy, nỗi nhớ lan rộng, tăng trưởng, dựng nên một hình bóng thân quên.
Tại sao ta lại ngồi đây nhỉ?
Vào giờ này, lẽ ra anh đang ngồi trên sân thượng uống trà, tán gẫu với đám láng giềng Xóm Núi và vừa tiếp chuyện họ anh vừa lắng nghe tiếng đứa con trai bi bô với mẹ nó dưới sân. Gặp ngày vắng khách, cả ba người ngồi trước hiên hóng gió. Không gian vây bọc họ luôn tẩm ướp hương các loại hoa trong vườn, ấy là tiểu vũ trụ an bình và say đắm được tạo ra từ người đàn bà anh yêu và yêu anh. Cuộc đời anh đã định vị ở nơi đó, sao bỗng dưng bị đẩy ra ngoài, rơi vào khoảng chân không, một cõi lạnh lùng xa lạ nơi bất cứ vật gì cũng khiến anh ngờ vực.
Nhiều lần Hoan tự hỏi:
Vì sao nhỉ? Ta vốn là dân thành phố, sinh trưởng và lớn lên ở nơi đây, hít thở không khí nơi đây để trở thành người, vậy mà ta luôn có cảm giác mình là khách qua đường, là kẻ ăn nhờ ở đậu...
Nỗi bất an thường trực ở trong anh.
Mỗi khi tiếp chuyện những kẻ môi giới, các chủ hàng hoặc đám bạn buôn, anh thấy rõ mình chẳng còn là mình, chỉ là kẻ sắm vai, là hình nộm phải diễn. Một cái bắt tay sớm hay muộn, một tiếng thở dài buông ra đúng lúc hay không đúng lúc, một tiếng cười trật
khấc hoặc đáng giá ngàn vàng hoặc làm sụt lở một phần gia sản một cuộc trà dư tửu hậu có thể củng cố được các mối quan hệ hữu ích hoặc khai thác những sơ hở của đối phương... Những bài học của xã hội buôn bán cạnh tranh mà tất thảy những kẻ nhập cuộc phải thuộc lòng... Nhưng sắm vai trò ấy, anh luôn luôn thấy mình ngộp thở.
Hoan là kẻ thèm khí trời. Anh cần khoảng không gian bao la thanh sạch. Không gian ấy anh đã tìm và đã thấy ở nơi khác. Trong thành phố này, chỉ riêng khu vườn là nơi duy nhất anh có thể hít thở dễ dàng, tránh mọi cuộc tiếp xúc với ngoại giới và được quyền ném mặt nạ lại phía sau... Nhưng khu vườn quá nhỏ. Và mùi hoa móng rồng với tường vi chẳng lấp đầy nỗi thiếu vắng một mùi hương khác. Nỗi thiếu vắng ấy càng ngày càng nung đốt anh, từ không gian thấm sâu vào gân cốt máu thịt. Và tới lúc nó hòa nhập cùng cơn đói tình dục...
Lại có người đi tới. Lần này, không phải một mà là ba cái bóng cao lớn nghênh ngang, vẻ như ba gã trai. Họ tiến đến gần anh vừa đi vừa chuyện oang oang, giọng người chài lưới, át cả tiếng sóng:á
- Mi ưng con nớ hỉ?
- Kệ tau, mi hỏi làm chi?
- Nếu ưng nó tau thôi... Răng không, tau xáp vô liền.
- Thì mi cứ xáp vô.
- Mi thách hả?
- Tau chẳng thách.
- Đừng thách tau. Bộ mi xớ rớ cả tháng chưa mần ăn được chi, chớ tau cứ rờ tới con nào con nớ mềm nhũn ra ngay... Giờ trước giờ sau là tau quất...
- Đừng nói trạng... Chứ tau thách mi đó. Mi mần đi.
Giọng thứ ba cất lên:
- Thôi đi chúng bay... Thiếu chó gì gái mà phải mất nghĩa mất tình vậy? Người ta đổi gái chứ không ai đổi bạn từ thuở cởi truồng. Mà mắt tụi bay có vẩy ốc chớ tau nỏ thấy nó đẹp đẽ chi. Hai trái vú to như hai trái dừa mà mông thì lép kẹp. Thằng đàn ông nào mà lấy nó suốt đời phải cam phận nằm dưới, chẳng sung sướng chi.
Tiếng cười khằng khặc ầm ĩ. Ba gã trai vừa đi vừa đá sóng tung tóe. Nước vọt lên dưới những cú đá mạnh rồi rơi xuống rào rào:
- Ai kia?
Một gã cất lời, giọng bả lả. Gã thứ hai tiếp theo:
- Răng ngồi một mình buồn bã vậy? Đi với bọn tui không?
Hoan im lặng. Anh cố hình dung gương mặt những gã trai làng chài có giọng cười thật khả ố và thật sung sướng.
Gã thứ nhất lại lên tiếng:
- Bộ kia là bị người tình ruồng... Đừng bó gối cho tội thân. Đi chơi đi. Thiếu gì đàn bà trên đời, con nào cũng cái nớ cả...
Giọng thứ ba lại cất lên, can ngăn:
- Im đi chúng bay. Để yên cho người ta ngồi... Tổ cha mấy thằng chó dại, nốc có hai chén rượu mà sủa như lũ điên...
Rồi ba gã vượt qua mặt anh, đi tiếp về phía trước, nơi dãy lều chứa lưới in dãy bóng đen thù lù dọc theo bờ cát. Tiếng họ mỗi lúc mỗi hút dần trong gió biển. Càng đêm, gió càng dữ, càng lạnh. Trời như rộng thêm ra và chân trời tan biến trong mù sương, như không còn biển còn mây còn trăng, tất cả hòa thành một cõi huyền hoặc. Anh phóng tầm nhìn ra xa, cố tìm trong khoảng không bao la một chút gì thân thuộc: Tiếng còi báo giờ nơi người gác hải đăng, tiếng buồm reo phần phật trong gió đêm, tiếng hải âu lẻ bạn tình khắc khoải, bóng thuyền câu mực và ánh lấp lóa những ngọn đèn soi cá đêm... Nhưng tất thảy những ảnh hình, những âm thanh quen thuộc của tuổi thơ đã tắt. Biển cũng hoang hoải như thành phố, sa mạc như thành phố và anh chỉ còn lại một mình dù không có nạn hồng thủy hay bão bom nhiệt hạch.
Hoan đứng dậy.
Biển tuổi thơ của anh đã mất.
Và biển của anh bây giờ không còn ở nơi đây.
Anh nổ máy quay xe về thành phố. Quầng sáng hiện lên phía trước khiến anh chán chường, chân tay bải hoải. Nhưng khi nghe tiếng động cơ nổ thuần thục đã giảm dần âm thanh anh nghe rõ tiếng sóng ào ạt sau lưng. Tiếng sóng đuổi theo anh và mỗi lúc càng giống tiếng gọi mơ hồ nào vọng tới. Tiếng gọi của ngày đã qua hay ngày sắp tới? Hoặc đó chính là tiếng vọng nhịp đập của trái tim sầu muộn trong ngực anh, dưới tấm áo tẩm sương? Anh không biết và tiếp tục phóng xe đi, cảm thấy mình đang theo đuổi một mục tiêu vô hình vô thanh nhưng không sao cưỡng nổi...



Chương 13



Người ta vẫn bảo đàn bà xứ chài lưới dâm bởi họ ăn nhiều cá hơn cơm. Những mụ dân chài to vật vã, đen không kém đàn ông, tay chân nần nẫn như đẽo bằng gỗ tứ thiết, lấy chồng từ thuở mười lăm đến năm chẵn ba mươi ít nhất cũng có mười đứa con cả trai lẫn gái.
Rồi họ lại tiếp tục đẻ, thế là bà nội bà ngoại đến nhà hộ sinh cùng một lần với con dâu hoặc con gái và cảnh: em bú chị, cháu bú bà thường xảy như cơm bữa. Cảnh ấy đặc biệt phổ biến ở làng Bảo, cái làng ven sông Lệ Nhật, nửa làng đánh rớ lấy cá sông, nửa kia đi biển đánh cá nước mặn. Dường như không có người nghèo ở đây.
Khốn cùng nhất là lão Gộc, không vợ không con, cũng dựng được gian nhà gạch ngói mới xen ngói cũ. Buổi chiều, loa phóng thanh xã bắt oang oang đã đành, ra-đi-ô của mọi nhà không chịu thua cũng mở đinh tai nhức óc. Dân ăn cá, thần kinh vững sấm nổ bên tai vẫn ngủ say như đá cuội. Bên kia sông Lệ Nhật là thành phố nên đời sống đô thị đặt chân vào từng nhà dù nhà nào nhà nấy bốc mùi tanh kinh niên của hải sản. Trai gái làng những chiều rỗi rãi rủ nhau ra câu lạc bộ xã tập hát hoặc nhảy disco, đầu chải bóng, nước hoa xịt tắc mũi. Các cô cũng đi giày cao gót như ai bước lên sân khấu cầm micro đong đưa qua lại, hất tóc lên kiểu Thanh Lan để gương mặt mơ màng hoặc hạ thấp đôi mi kiểu Lệ Thu để dáng điệu thấm đẫm vẻ nhu mì thục nữ. Rồi lát nữa rời câu lạc bộ, các cô sẽ tụt giày cao gót cắp vào nách. Và các chàng cũng sẽ tụt giày xách theo các cô vì đi trên cát vẫn tiện lợi hơn. Trong lúc ánh đèn câu lạc bộ vẫn quét sáng một vùng, đám thiếu niên choai choai vừa tiếp quản sân khấu đang ra sức vật lộn với nghệ thuật ca hát, đàn anh của chúng đã tụ hợp tại một câu lạc bộ mê ly hơn nơi bãi biển, dưới các gốc phi lao hoặc trong các ngôi lều chứa lưới. Mùi biển đêm không chỉ còn là mùi nước mùi gió mùi rong rêu sóng tấp vô bờ mùi lũ cá óc-nóc trương phềnh trên cát mùi gỗ thuyền hong nắng đang nhả dần vị nắng khét đợi chờ mùi vỏ chanh đám người ăn sò huyết ném lại... mà còn một thứ mùi khác lạ hòa trộn với tất thảy những mùi quen thuộc trên khiến không khí đặc thành chất keo vô hình, và khi hít thở thứ không khí ấy, con người bị nhiễm cơn đói dục tình, ấy là mùi toát ra từ những cặp tình nhân đang quần thảo trong các kho chứa lưới, trên các cồn cát vắng và trong bóng tối rừng dương. Sóng vỗ không mệt mỏi không ngưng nghỉ như kẻ gác đêm trung thành để tiếng ào ạt ồn ĩ khỏa lấp tiếng thì thầm tiếng kêu rên của các cặp trai gái nhưng mùi biển không lấn áp được mùi các cuộc ái ân và vì thế không gian thấm đẫm nhục cảm đầu độc những kẻ đói khát ái tình không may lạc chân vào đó...
Khốn nạn, khốn nạn thật... Sao bỗng dưng ta đưa chân tới đây? Ma đưa lối quỷ dẫn đường, lẽ ra ta đã phải quay về khi phóng xe đến ngả rẽ...
Hoan tự nguyền rủa, nhưng chân anh vẫn tiếp tục bước trên bờ cát, và tai anh tiếp tục lắng nghe trong tiếng sóng ầm ĩ, tiếng rên rỉ của các cặp tình nhân, nhịp thở hào hển của những động tác làm tình mà anh quá thuộc. Những tiếng động ấy làm tái hiện rõ rệt hơn cảnh ái ân cũ, thân xác người đàn bà yêu dấu, hơi thở mùi tóc mùi mồ hôi những cử chỉ nhỏ nhặt và những dấu hiệu âm thầm chỉ riêng hai người nhận biết... Tất thảy, tất thảy... cho đến từng chi tiết nhỏ nhất cuộc sống gối chăn say đắm của anh...
Tại sao ta lại đến đây. Thật rồ dại, ngu xuẩn... Ta đúng là đồ quỷ tha ma bắt...
Nhưng chân anh vẫn bước, và mắt anh không ngừng săn lục những cặp trai gái, tai anh vẫn lọc tiếng sóng biển để đón nhận những tiếng động nhỏ nhặt phát ra từ những thân xác hừng hực lửa dục và thấm đẫm mồ hôi. Không khí đặc sánh nhục cảm vây bọc anh thúc vào tim anh như thúc ngựa, đốt lửa thân xác anh, dồn nén hơi thở của anh khiến chúng trở thành một cơn giông tích tụ đầy hai lá phổi mà không tìm được lối thoát...
- Lối này...
- Chờ em tí đã...
Một cặp tình nhân và từ rừng dương bước ra, sóng vai đi trước anh chừng mươi bước. Mùi mồ hôi trộn cùng mùi dầu chải tóc Hương Sen theo gió xộc vào mũi Hoan. Trước đây chị Châu buôn loại dầu rẻ tiền này nên anh biết. Người con gái bỗng vươn cánh tay quàng cổ tình nhân. Cô ta cao hơn anh chàng nửa cái đầu, đôi cẳng chân lêu nghêu, còn gã bạn tình to bè, lưng gấu, vai u bước khuệnh khoạng đầy tự ti và mãn nguyện.
- Về chưa?
Anh chàng lưng gấu hỏi.
- Chơi tí nữa đã.
Cô gái chân cò trả lời, vừa nói vừa lắc lắc mái tóc xõa ngang lưng.
- Em không sợ mẹ mắng à?
- Không?
- Ra Bãi Đá chớ?
- Ờ, ra Bãi Đá.
- Ở đó mát thiệt là mát. Chờ tối trăng ta mần lần nữa rồi về.
Cô gái im lặng ưng thuận. Và anh chàng lưng gấu phởn chí hát ư ử trong họng.
Hoan đi chậm lại, dép sục đầy cát. Anh nhìn hai kẻ sung sướng đi phía trước, thèm muốn điên cuồng:
Ước gì em ở đây, Miên ơi, ước gì em bước từ ngôi lều chứa lưới kia đi ra. Chúng ta sẽ lên thuyền, chúng ta sẽ bỏ lại sau lưng tất thảy, chúng ta sẽ sống cùng nhau trên hoang đảo, như những tiền nhân...
Vì sao không thể sống cuộc sống của những con người thời ăn lông ở lỗ? Họ tự do bởi không bị trói buộc bởi các định kiến, và chắc chắn họ cũng say đắm không kém cặp trai gái đang ôm lưng nhau đi trước mặt anh. Hoan đưa mắt nhìn dãy thuyền chênh vênh trên bãi cát. Liệu con thuyền nào trong số ấy có thể đưa anh cùng người đàn bà yêu dấu vượt biển ra đi? Anh nhớ những câu chuyện cổ tích, và anh nhớ chàng Robinson... Phải, anh có thể trở thành một Robinson hạnh phúc nhất địa cầu, với người anh yêu dấu...
- Coong coong... Coong.
Một cái vỏ hộp sữa bị Hoan đá bật tung lăn lông lốc. Tiếng động hiến cặp tình nhân kia quay lại. Và tiếng động cũng cắt đứt cơn mộng tưởng của Hoan. Anh thấy gã trai lưng gấu khuỳnh tay nhìn mình, vội đưa mắt nhìn theo chiếc vỏ hộp sữa. Nó đã lọt qua cặp đùi cò lêu nghêu của cô gái kia. Hoan nói:
- Xin lỗi, tôi không để ý...
Chừng như gã trai kia đã nhận ra anh là người đứng tuổi, và chẳng hề có ý định trêu ghẹo bạn tình nên lặng lẽ quay lưng đi. Cô nàng cười hi hí:
- Đứa mô tu hết sữa mà quăng ra bãi?
Câu hỏi làm đà, vô địa chỉ. Gã trai vòng cánh tay vâm vạp qua hông tình nhân và họ tiếp tục đi.
Hoan đứng lại.
Ta đi đâu bây giờ? Không lẽ ta theo họ ra Bãi Đá để xem trộm cảnh làm tình? Ta đã biến thành kẻ tâm thần từ lúc nào vậy?
Anh ngồi xuống bãi cát, xây mặt ra biển và thấy muối mặn trong gió chà xát tâm hồn
Hơn mười năm trước, sau đám cưới tai tiếng với cô Kim Liên, Hoan sang làng Bảo sống. Anh có người bạn cùng lớp, một gã trai lưng beo vai gấu từa tựa như gã trai vừa bước từ rừng dương ra nhưng cao lớn hơn. Họ cùng học với nhau suốt sáu năm trung học. Vì làng Bảo chỉ có trường tiểu học nên đến cấp trung học, học sinh phải qua sông sang thành phố. Suốt sáu năm họ ngồi cạnh nhau và bao giờ cũng là hàng ghế cuối vì cả hai cao to nhất khóa. Bạn anh không mơ ước một con tàu ngược lên phương Bắc. Cậu ta là con trưởng trong một gia đình chài lưới giàu. Người cha có tài đi biển. Thuyền nghề của ông trở về luôn đầy ắp tôm to cá lớn. Người mẹ chỉ ở nhà đẻ và ôm con. Tiền họ phải bỏ vào chum chôn trongcát. Bạn anh nối nghiệp cha nhưng anh ta không muốn đi biển bằng con thuyền cổ lỗ mà mua sắm tàu lớn ra khơi xa. Ấy là lý do duy nhất khiến chàng ta đeo đuổi mười năm đèn sách dù rằng suốt những năm ấy, anh ta bị những môn học ngớ ngẩn và vô dụng hành hạ đến nẫu nà: Nào văn nào sử nào địa nào chính trị nào thực vật... Sau rốt, chàng cũng đã lọt qua kì thi tốt nghiệp nắm mảnh bằng trở về làng. Đám cưới Hoan, anh chàng xách theo hơn mười cân vừa tôm hùm vừa tôm bạc má. Vào chính lúc Hoan đứng lên kể cho khách khứa biết chuyện anh bị lừa vào chiếc giường của cô Kim Liên và buộc phải làm đám cưới, anh chàng dân chài đứng dậy trước tiên:
- Trên đời này đức tính cao cả nhất là sự trung thực... Bạn Hoan của tôi là người số một trung thực trên dải đất Việt Nam này. Xin tất cả tràng vỗ tay tán thưởng...
Nói xong, anh ta tự vỗ tay bồm bộp trước tiên và hét đám trai tráng:
- Nào, các bạn trẻ, vỗ tay lên... Chúng ta còn trẻ, chúng ta hãy sống như bạn Hoan, chỉ nói điều mình nghĩ và sống như mình muốn.
Bọn trai thoạt đầu ngớ ra, sau khi hiểu nhất loạt rồ lên vỗ tay, gõ đũa gõ bát, đánh trống, đập phèng phèng... Đám cưới náo loạn.
Họ hàng nhà gái kéo nhau ra về. Họ hàng nhà trai kháo chuyện, người nọ hỏi người kia ồn ỉ. Rồi một ai đó hét lên trong đám đông:
- Xin mời thực khách nâng đũa nâng bát...
Thế là cuộc tấn công bắt đầu, và việc giải quyết những mâm cỗ tú ụ đã tháo gỡ tình thế gay cấn của tâm lý. Mọi chuyện tốt đẹp ấy đều khởi xướng từ gã dân chài tốt bụng.
Sau đám cưới cô dâu vẫn mang áo quần về nhà ông bà giáo Huy theo chiến lược: (Bám thắt lưng địch mà đánh) của bà mẹ. Chú rể xách mấy bộ quần áo sang làng Bảo. Ở đó, bạn anh cất cho anh một chiếc lều, dạy cho anh cách cất rớ. Lều sát mé sông Lệ Nhật, đêm lẫn ngày rười rượi gió. Thường Hoan ngủ ngay trong lều, chỉ ngày động trời hoặc mưa lớn mới vào nhà bạn. Bữa bữa, đứa em gái chín tuổi của anh ta đem cơm ra lều cho Hoan, ngó nghiêng đám cá anh kiếm được. Hôm nào, anh may mắn vớ được mớ cá kha khá nó mới đem về.
Nếu không, nó chọn những con còn sống thả xuống sông còn những con đã thôi ngáp bỏ vào bể mắm chượp của mấy nhà quanh đó. Cất rớ là thú tiêu khiển duy nhất của Hoan ngoài những giờ anh đọc sách.
Tuần một lần chị Nền đem tiền đem gạo sang cho gia đình người bạn, và như thế, họ nuôi anh như nuôi một gã học trò thi trượt đợi khóa thi sau. Hoan hài lòng với cuộc sống ấy, dù bạn anh đi biển liên miên và mỗi lần về anh chàng cũng chỉ đảo qua lều tán chuyện mươi phút rồi lại bổ nhào đi tìm cô tình nhân. Căn lều cất rớ là chốn tuyệt đẹp để mộng mơ. Gió. Mây bên trên và bóng mây dưới nước. Mặt trời. Sóng. Chim bay. Anh chẳng lo sinh kế nhọc nhằn, cũng chẳng phải nhìn những bộ mặt không ưa thích. Dân làng Bảo hiếu khách. Họ dễ mê gã trai đẹp như tài tử xi-nê có nụ cười dịu dàng và cặp mắt nhìn ai cũng như ve vuốt. Các cô gái thích chòng ghẹo Hoan. Họ ném lên lều đủ thứ: Từ quả ổi chín, vài múi bưởi, cái bánh ngọt đến những con nhái, con cóc. Đôi lần, khi anh ngồi đọc sách họ rón rén đi tới bỏ vào lưng anh một con tôm hoặc con cá sống. Hoan lẳng lặng cởi áo, rũ con vật đầy gai xóc kia ra, phơi tấm thân vạm vỡ trắng phôm phốp. Anh vốn dễ tính, chịu được sự cợt nhả của mọi người. Anh cũng biết gái làng Bảo mê anh, nhưng không muốn dây dưa với bất cứ ai. Anh vừa nếm quả đắng và đang yêu tự do với tình yêu trọn vẹn. Đôi khi, tiếng còi tàu từ sân ga Thuận Lý vọng sang, nhắc nhớ một mộng ước đã tan. Và anh lại ngồi nhỏm lên, nhìn những đám mây trắng rải rác nơi chân trời phương Bắc, hồi tưởng những ngày tươi thắm và lời vẫy gọi của tương lai, một tương lai không rõ hình dạng nhưng anh đã đặt biết bao tình yêu và niềm tin phút chốc bỗng tan thành làn khói. Chiếc va-ly sắp áo quần lẫn những vật tùy thân vẫn nằm nguyên trong góc phòng riêng của anh, còn anh nằm trong chòi cất rớ gối đầu lên tay đêm này qua đêm khác. Ngày ngày anh nhìn dòng sông trôi, con sông nhỏ nhoi kia chẳng đáng gì với cõi đất rộng dài mà mãi mãi phân cách cuộc đời hôm nay với những ước mơ năm trước...
Có lẽ nào sự rủi ro ấy chỉ là trò xảo trá của mẹ con bà Kim Lan để hợp thức hóa cái thai trong bụng một cô gái hưng phấn tình dục quá sớm hay còn là tội lỗi của anh, gã trai tìm nàng Xi-ren trong cơn mê muội để thực thi cuộc làm tình đã từ lâu ngấm ngầm thèm muốn?
... Phải, chính anh cũng có lỗi, chính cái thân thể cường tráng quá đỗi của anh đã góp phần xô đẩy anh vào tấn kịch rủi ro này. Vốn trung thực, Hoan lại tự xỉ vả mình mỗi lần ngắm tấm thân vạm vỡ của anh và biết nỗi mong mỏi một nàng Xi-ren khác đang lớn lên trong cái thân xác hừng hực sinh lực mà anh phải gánh vác. Khí trời, gió biển hoặc thứ cá tươi anh ăn ngày ngày đã khiến những cơn đói khát dục tình lồng lộn như ngựa dại? Hoan không thể trả lời. Chàng trai vật vã trong chòi, tự giải thoát bằng lối giải thoát cổ xưa của những gã đàn ông hoặc xấu xí dị hình, hoặc nghèo khó đến nỗi không thể nào lấy vợ...
Một đêm tối trời, cây thang leo lên chòi rung rẩy. Hoan ngỡ cậu bạn đi biển bất chợt quay về nên cất tiếng hỏi:
- Sao bảo ba hôm nữa mới về?
Không có tiếng trả lời. Nhưng cây thang tiếp tục rung và tiếng chân người leo lên từng nấc thang rõ hơn. Hoan thấy lạ, mỗi bận lên chòi cậu bạn thường gọi oang oang từ dưới chân thang. Linh tính xui anh ngồi nhỏm dậy. Khi anh vừa chống khuỷu tay lên ván lát chòi, một người đàn bà đã đổ ập vào:
- Ai đấy?
- Tôi đây... Tôi là Gái...
- Chị là...
- Tôi vẫn qua đây buổi sớm... Tôi ở xóm Hà...
- A... a...
Hoan đoán ra rồi. Hẳn người đàn bà này ở trong đám đàn bà sớm sớm vẫn quang gánh qua đây xuống bến đò dưới mua cá rồi qua sông sang thành phố bán. Dân làng Bảo thường gọi họ là đám dân xóm Hà, bằng thứ giọng nửa thương hại, nửa khinh miệt. Xóm Hà cách làng Bảo chừng dăm cây số, không có nghề chài lưới, ruộng pha cát vừa ít vừa xấu nên họ lấy nghề buôn bán vặt: buôn đầu chợ bán cuối chợ làm nghề chính. Một số đàn ông cũng theo nghề sơn tràng hoặc buôn gỗ thượng nguồn nhưng dường như chẳng ai khấm khá nổi. Hoan nghe nói cả xóm Hà không có một mái nhà gạch. Nhà giàu nhất cũng chỉ lát được mảnh sân xi măng.
Đám con gái xóm Hà vì thế dường như nhút nhát hơn gái làng Bảo. Họ cũng thích chọc ghẹo anh, nhưng không dám dạn dĩ cợt nhã như gái làng chài. Thường họ đi qua chòi cất rớ, đưa mắt thầm lén liếc nhìn anh, ném một câu đùa bâng quơ, bóng gió...
Nhưng chị ta là ai trong số đó?
Hoan thầm hỏi và tức khắc anh lục soát trí nhớ: Một cô béo thường mặc áo hoa đỏ. Mấy cô khác thanh mảnh hơn cô nào cô nấy buộc quai lụa to tướng dưới nón... Còn lại là dăm bảy người đàn bà chuyên mặc quần áo sẫm màu... Chắc hẳn chị ta ở trong số đó. Tất cả bọn họ đều có dáng lam lũ, tất bật. Tất cả đều đội nón sùm sụp che ngang mặt và vì thế đứng trên chòi anh thấy họ như đám nấm di động.
Liệu chị ta có phải người mặc bộ đồ màu cỏ úa, gương mặt lấm tấm tàn nhang?
Hoan tự hỏi vì thốt nhiên anh mường tượng ra cái gương mặt đó.
Ngượng ngùng anh lên tiếng:
- Chị có phải là...
Người đàn bà thì thào:
- Anh đừng nói to.
Chị năn nỉ và khẽ đặt tay lên ngực anh. Những sợi tóc trên trán chị thõng xuống, cọ vào mặt Hoan. Hơi thở của chị gần như xộc thẳng vào mũi anh vì chòi quá hẹp mà anh lại ở trong tư thế nửa nằm nửa ngồi, hai khuỷu tay chống xuống.
- Anh đừng sợ.
Người đàn bà lại thì thào. Sau vài giây hổn hển chị nói tiếp:
- Tôi là gái góa, có con rồi... Tôi không muốn làm hại anh, cũng chẳng dám phiền hà... Tôi biết anh lâu nay...
- Tôi...
Hoan đáp, nhưng chẳng biết nói gì. Anh định chống tay ngồi hẳn lên nhưng không dám, muốn nằm xuống cũng không được và sau rốt anh đành giữ nguyên tư thế cũ. Hơi thở của người đàn bà vẫn xộc thẳng vào mũi anh, nóng như than. Gió thổi những sợi tóc chị cọ vào mặt anh vừa ngứa vừa nhột mà anh không dám gãi. Nhưng trạng thái ấy kéo dài không lâu vì chị đã rút chân khỏi nấc thang để chui hẳn vào chòi:
- Tôi không làm phiền hà gì anh cả... Xin hãy tin tôi. Tôi có gia thất nhưng chồng tôi chết lũ năm trước. Anh ấy theo chúng bạn đi buôn gỗ... Tôi làm ăn cơ cực chẳng được thong thả như người bên phố, nhưng chỉ hơn anh hai tuổi... Chị nói một mạch, không ngừng, không vấp váp. Dường như những lời lẽ ấy đã được nghiền ngẫm từ lâu, đã nung nấu từ lâu trong trái tim dập nát của chị khiến anh mủi lòng. Rồi anh ngửi thấy mùi mồ hôi của một người đàn bà lam lũ. Chắc hẳn chị đã phải quay về xóm Hà để nấu ăn và tắm rửa cho lũ con, sau buổi chợ. Rồi tắm táp cho mình trước lúc đến đây. Anh chưa từng đến xóm Hà nhưng anh mường tượng đoạn đường năm cây số từ nhà chị đến chòi cất rớ của mình, trong bóng tối, ven những bờ cát mấp mô và sụt lở.
- Tôi... Tôi biết anh từ lâu... Tôi cũng biết chuyện đời anh dân làng Bảo kể... Xin hãy tin tôi...
Những lời nói cuối là những mảnh ngôn từ được chắp vá một cách khó nhọc. Rồi đột ngột chị úp mặt vào ngực anh, bàn tay thô nhám của chị rờ rẫm lên da thịt anh:
- Có nháp không? Tôi có làm đau anh không?
Chị hỏi và không đợi anh trả lời chị lật bàn tay lên, không dùng những ngón tay mà dùng lưng bàn tay để ve vuốt. Anh vừa ngượng vừa thương hại, lúng búng đáp:
- Không... không sao cả... Đừng ngại.
Người đàn bà thì thầm:
- Anh tốt quá... anh tốt với tôi quá...
Rồi như cảm thấy những lời lẽ vụng về thô mộc đó không biểu lộ được sự hàm ơn chị cúi xuống hôn ngực Hoan. Bắt đầu từ lúc ấy anh chẳng còn biết gì đến gì ngoài những cảm xúc xác thực và mạnh mẽ chị khêu dậy nơi thân xác anh. Cặp môi dạn dĩ đói khát của chị đưa anh vào cõi khoái lạc chưa từng nếm trải. Anh cảm nhận một cách minh bạch rằng anh hoàn toàn tỉnh táo, sáng suốt, không giọt men trong dạ dày, không một ý nghĩa hoặc liên tưởng nào làm hưng phấn dục tình trước khi người đàn bà xóm Hà đến, vậy mà chị đã dẫn anh leo lên từng nấc thang một, từng nấc liên tục không ngưng nghỉ trên cây cầu thang bất định đưa con người tới tột cùng sung sướng.
- Hãy yên. Hãy lặng yên...
Chị bảo Hoan, trong khoảnh khắc ngưng lặng giữa hai cơn hành lạch và rút từ đâu đó chiếc khăn tay lau mồ hôi trên trán, trên lưng anh.
- Để mặc tôi... mặc tôi...
Chị thì thầm vào một lúc khác, họ chuyển tư thế. Tay chị nhẹ nhàng và kiên nhẫn, khi cởi từng chiếc khuy trên chiếc quần soóc anh mặc, khi đỡ tấm lưng anh vì anh ở vào một vị trí chông chênh, cử chỉ nào cũng nương nhẹ cũng đầy cẩn trọng, cũng đầy tinh thần khích lệ và bao dung như trong cuộc làm tình này chính chị mới là đàn ông thứ thiệt, kẻ hùng mạnh rèn tập, dẫn dắt và chịu trách nhiệm trước bạn tình...
Hoan không biết họ đã qua bao nhiêu thời gian để tới lúc tàn cuộc. Ngất ngây vì mãn nguyện anh nằm đờ dại, không biết chuyện gì xảy chung quanh. Chỉ khi người đàn bà đã sửa sang xong quần áo ra về, bước chân chị làm cây cầu thang rung chuyển anh mới bừng tỉnh. Hối hả, anh vươn tay nắm vạt áo chị:
- Chị... Chị còn tới đây nữa chứ...
Và chị đáp khẽ như thì thầm:
- Dạ... Tôi sẽ tới.
Cây cầu thang rún rẩy dưới chân chị. Sau tiếng kẹt cuối cùng nó lặng im. Hoan chồm dậy, ló đầu khỏi chòi nhìn theo. Đêm không trăng. Người đàn bà đã chìm vào bóng tối.
Nhất định sớm mai ta sẽ nhận ra người đàn bà này trong đám dân buôn cá xóm Hà... Mai ta phải dậy sớm...
Nhưng cuộc làm tình sung mãn đã kéo anh vào giấc ngủ dài. Hôm sau, lúc Hoan mở mắt kim đồng hồ đeo tay chỉ chín giờ mười hai phút. Mặt trời chói chang trên sông. Mọi người làm việc từ lâu chiếc rớ của anh vẫn khua càng phơi nắng. Trên sàn, đứa em gái đã đặt bình trà mới và gói xôi đậu xanh. Xôi đã nguội, bình trà chỉ còn âm ấm. Con đường dọc sông lên xóm Hà vắng ngơ ngắt, nắng dội xuống cát chang chang. Hoan biết người đàn bà ấy đã qua đây và muốn gặp mặt chị anh phải chờ lúc chiều tà. Nhưng buổi chiều, anh không thấy chị. Anh đã nhìn kĩ từng gương mặt đám đàn bà xóm Hà nhưng chẳng gương mặt nào khiến anh tìm được chút dính líu tới người đàn bà đêm qua. Linh tính anh mách bảo rằng sẽ chẳng bao giờ chị còn qua đây nữa. Sáng hôm sau Hoan dậy thật sớm, xuốngchòi, đón ngang đám đàn bà xóm Hà, để không ai có thể lọt ngoài tầm mắt của anh. Và lần này, anh đoan chắc rằng điều linh tính mách bảo anh là sự thật. Người đàn bà đến với anh ban đêm đã lánh mặt anh dưới ánh ngày. Như thế, chị sẽ phải đi vòng lên bến đò trên, mua thêm mười cây số. Bến đò ấy có tên Quán hàu, xưa người ta thường bán hàu tươi và cháo hàu cho khách qua sông.
Chị ấy là ai? Người thầy của ta trên trường tình ái?
Đêm thứ năm chị trở lại. Vào lúc anh vừa thiu thiu ngủ vừa khắc khoải chờ. Nhịp rung của cây cầu thang đánh thức anh tức khắc.
Anh nhổm dậy, chìa tay cho chị nắm. Người đàn bà vừa vào chòi, anh đã cất tiếng hỏi dồn:
- Sao chị lại đi vòng lối Quán Hàu... Tôi chờ chị suốt bốn ngày không thấy?
Người đàn bà im lặng:
Hoan bảo:
- Sao chị tự làm khổ mình như vậy? Tôi không muốn vì tôi mà người khác phải cực lòng?
- Không... không... chẳng cực nhọc gì. Tôi đi qua Quán Hàu buôn thêm ít hàng khác.
Chị đáp hối hả đoạn mò mẫm mở chiếc túi nhỏ đem theo lấy mấy tấm bánh lá dúi vào tay anh:
- Bánh tôi làm... Để mai mà ăn sáng...
Kiểu như chị cho trẻ con quà để xí xóa một lời nói dối. Mấy tấm bánh lá còn nóng sực. Đó tấm tình của chị dành cho anh sau những lo toan của việc mưu sinh. Anh muốn nói với chị rằng anh không còn là trẻ nhỏ và cuộc sống của anh còn phong lưu hơn chị rằng cuộc làm tình không vụ lợi của chị đã là quà tặng đáng giá với anh, rằng từ nay về sau chị đừng nhọc lòng lo lắng cho anh như vậy... Nhưng anh chẳng phải kẻ bẻm mép cũng chẳng là người hoạt khẩu, mọi ý nghĩ đều mắc cứng nơi cuống lưỡi và sau rốt anh đành lắp bắp:
- Cảm ơn... Cảm ơn...
- Đừng cảm ơn... Đừng cảm ơn tôi...
Chị thì thào đoạn nắm tay anh đặt lên ngực mình. Anh thấy tim chị đập thình thịch như nhịp con tàu hơi nước cổ lỗ vẫn qua ga Thuận Lý, khuôn ngực chị phập phồng, một khuôn ngực bị thời gian và sinh nở tàn phá. Tim anh bỗng tràn đầy thương xót:
- Cảm ơn... Cảm ơn...
Anh lặp lại như một gã ngớ ngẩn, ghì xiết chị. Người đàn bà vô danh đó đưa lưng bàn tay để ve vuốt anh bởi e sợ những ngón tay chai sạn, bị gai cá đâm xóc của chị làm đau làn da chàng thư sinh trẻ. Và lần nữa chị dẫn anh tới miền cực lạc...
Đã qua hơn mười năm, hình ảnh người đàn bà xóm Hà bỗng trồi lên ngọn sóng thời gian, thúc hối anh quay quắt. Suốt một tuần anh nhớ cây chòi cất rớ ven sông, nhớ ánh mặt trời chói chang đám cá nhảy lao xao nơi đáy rớ, nhớ sóng, nhớ gió, nhớ cây cầu thang rung rinh, nhớ tiếng sàn ván cót két dưới lưng trong các cuộc làm tình. Thoạt đầu, chỉ những đêm tối trăng hẳn. Sau rồi, cả những đêm trăng khuyết. Nhưng không đêm nào anh nhìn rõ mặt chị. Anh không biết chị mặc quần áo màu gì, da chị thẫm hay sáng, ngay cả những nốt tàn nhang trên hai gò má chị anh cứ đinh ninh là sự thật, vào một lần anh hỏi, chị cười bảo:
- Đâu có? Tôi đâu có tàn nhang...
Và anh đâm ngờ vực trí nhớ của mình: Có lẽ anh nhầm thật. Chỉ những người trắng mịn mới có tàn nhang, gái làng Bảo, xóm Hà chắc khó có màu da trắng. Sau rốt, anh tin rằng chị có cặp mắt buồn. Nhưng liệu người đàn bà góa bụa nào có được đôi mắt vui tươi? Có thể chính cặp mắt buồn của chị cũng do anh tưởng tượng. Cuối cùng, chỉ có một sự thật không thể chối cãi, lúc nào chị cũng đội nón sùm sụp như tất cả đám dân buôn bán tần tảo của xóm Hà.
Để bù lại, trí nhớ anh ghi thật rõ rành mùi mồ hôi, đôi bàn tay thô tháp mà chị thường cố giấu giếm để khỏi làm đau rát da thịt anh, những lời thì thầm nhỏ nhẹ mà dứt khoát tựa hồ những mệnh lệnh đưa ra giữa cuộc làm tình, trong căn chòi nhỏ bé bốn bề bóng
đêm vây bọc, anh là chú học trò ngoan ngoãn và chị là người thầy, kẻ dẫn dắt anh không mệt mỏi trong cuộc hành trình tới miền hoan lạc...
Gái, tên chị ấy là Gái... Sao hồi ấy ta không hỏi chị ấy họ gì. Và sao ta không lên xóm Hà một lần xem chị ấy sống ra sao... Ta đã ơ hờ quá đổi với một người đàn bà mà bao đêm thân xác họ và thân xác ta hòa nhập trong một đam mê, hơi thở họ gần kề như khí trời ta hít thở... Dù sao chăng nữa, chị ấy cũng là một mảnh đời của ta, một ân nhân chưa trả nghĩa...
Nhiều ngày, ý nghĩ ấy day dứt anh.
Rồi đột ngột ba giờ chiều nay anh đùng đùng phóng xe sang làng Bảo. Giờ ấy, làng vắng. Dân chài lênh đênh trên biển, dân làm nước mắm đang ở các xưởng chượp, xưởng nấu, dân buôn còn ngồi ngoài chợ chưa về, chỉ còn lại đám đàn bà nội trợ và trẻ nhỏ. Các chòi rớ ven sông thưa thớt hơn xưa. Người ta bảo mấy năm rày cá sông ít hẳn so với thời trước cuộc chiến. Hoan đứng trên bãi cát, ngắm nơi từng cất chòi rớ của anh nay nằm rã rượi hai con thuyền mục. Mặt trời sáng chói và sóng vẫn lao xao nô rỡn như xưa, như ngàn xưa, như mười năm trước. Con đường lên xóm Hà vắng lặng cát trắng phản chiếu ánh trời. Tít xa hàng phi lao nghiêng một đường lượn xanh thẫm, một nét buồn mảnh mai giữa không gian tưng bừng gió nắng:
Như xưa và chẳng như xưa, cảnh vật cũng như ta, như xưa và chẳng như xưa... Gã trai trẻ đã chết và người đàn ông côi cút đang hồi nhớ nhịp rung chuyển của cây cầu thang năm cũ. Vẫn nỗi khốn khổ ấy nhưng con người đã khác và hạnh phúc cũng chẳng còn hương vị ngày xưa... Sao bỗng dưng ta buồn phiền như gã thi sĩ thất tình. Thi sĩ chẳng phải thân phận của ta và ta chẳng thèm muốn thân phận của đám người vừa yếu hèn vừa khoác lác... Nhưng ta nhớ người đàn bà ấy, kẻ vô danh, không gương mặt... Có lẽ ta phải lên xóm Hà, ít nhất cũng một lần nhìn mặt người đàn bà từng đem lại hạnh phúc cho ta...
Đường lên xóm Hà thuần cát, xe máy có thể chạy với tốc độ nhỏ, không quá hai mươi lăm cây số giờ. Đồng hồ chỉ bốn giờ kém mươi lăm phút, Hoan ước tính anh dư thừa thời gian tìm kiếm. Một làng nhỏ mang tên xóm Hà chắc không quá đông dân. Nhưng đúng lúc anh nổ máy, một người đàn bà trẻ chạy xồng xộc tới:
- Anh Hoan... Trời ơi anh Hoan... Răng tới đây mà chẳng vào nhà? Mọi người nhắc tới anh luôn... Vào nhà đã...
Một tay cô xách chai dầu nấu ăn, tay kia níu chặt lấy anh. Cô bé chín tuổi ngày xưa đã trở thành người đàn bà, hai má đỏ rực. Hoan nhìn cô, cười tủm tỉm:
- Lớn quá, xinh đẹp ra nhiều quá... Anh không nhận ra nổi...
Cô cười sung sướng:
- Bữa trước anh sang chơi em lại đưa cháu về bên nội... Tiếc quá... Bọn em cưới nhau trong thời chiến nên chẳng biết anh đâu mà tìm. Bữa nào rảnh anh sang đây, chúng em xin làm riêng một mâm đãi bác.
- Không được. Một mâm cỗ thường và một mâm cỗ phạt.
- Dạ. Ba mâm cho đủ: Một mâm theo lệ thường. Một mâm cỗ phạt. Mâm thứ ba để bác nhận cháu. Chồng em là trưởng tộc, em đẻ cho anh ấy một thằng cu, bác cứ đến cả nhà phải xúm lại hầu.
Giọng cô đầy vẻ đắc ý. Hoan đưa mắt nhìn lần nữa người đàn bà trẻ mặt rám đỏ cổ tròn nần nẫn ngực núng nính nhảy dưới lớp áo lụa để tìm đứa bé gái gầy gò ngày xưa anh yêu mến, đứa bé quanh năm mặc quần đùi như con trai, tóc buộc ngỏng đuôi gà trống bằng sợi thun đỏ. Thấy Hoan nhìn mình, cô hỏi:
- Em khác xưa nhiều lắm hả?
Anh gật đầu:
- Nếu em không gọi trước, anh không thể nào nhận ra... Ngày anh tới đây, em như con chim chích... Nặng không đầy mười tám cân...
Cô bật cười khanh khách:
- Hơn mười năm rồi còn gì? Giờ em nặng hơn sáu mươi cân...
Họ đã tới cổng và cô giúp Hoan lôi chiếc xe nặng trịch qua mấy bậc thềm xếp đá. Anh ở lại đó hơn một tiếng đồng hồ, chuyện trò với bà mẹ, cô em bạn. Lúc hơn năm giờ Hoan mới lên đường. Trời vẫn nắng rỡ, giải cát ven sông trắng ngời như dát bạc. Chừng hai chục phút sau anh tới nơi. Cái làng anh tưởng tượng còn trù phú hơn xóm Hà anh đặt chân tới. Vài chục nóc nhà lá nằm giữa vùng ruộng hẹp, lúa đang xanh. Con mương nhỏ chạy hình cánh cung vây nửa làng, trên đó những đàn vịt đang ngụp lặn. Đất mặn nên cây vườn còi cọc chỉ những rặng điền thanh là xanh tốt. Đường làng
đen xỉn màu bùn pha cát. Ngay đầu làng nơi anh thoạt đến, một quán bán nước nghèo như đã tồn tại từ vài thế kỷ trước. Mái nhà lá mục ải nặng trĩu dây bìm hoa tím trùm từ nóc xuống chân rào. Một chiếc chõng tre cũ kỹ bốn chân chỉ còn hai, hai chân gẫy được thay bằng hai chồng gạch, trên chõng bày vài nải chuối chín, mấy tấm bánh gai và một đùm bánh lá, thứ bánh làm bằng bột gạo đỏ rắc vừng người đàn bà mười năm trước đã đem cho anh. Hoan hỏi bà lão bán hàng:
- Bà có nhận trông xe không ạ?
- Có. Nhưng chú phải khóa vào.
- Lúc nào bà đóng cửa hàng ạ?
- Cửa hàng nhà tôi lúc nào cũng mở... Mà cần chi phải đóng?
Hoan chợt nhận ra ngôi quán nhỏ được dọn dưới tấm liếp cửa. Tấm liếp đó đêm ngày đều được chống lên bởi hai cây cọc tre, trừ lúc gió bão. Bà lão có lý. Nhà bà không có cửa vì thế quán của bà cũng chẳng cần phải đóng. Anh nói:
- Lúc ra cháu xin gửi tiền bà.
Bà đáp, chẳng ra mặn cũng không ra nhạt:
- Ờ.
Đi được vài bước, Hoan quay lại:
- Bà biết ai là Gái trong làng này không?
- Gái à? Làng này có bốn đứa tên Gái, anh muốn hỏi Gái nào?
Thấy điệu bộ lúng túng của anh, bà nói tiếp:
- Gái già nhất đủ cháu nội cháu ngoại ở cách nhà tôi hai ngõ. Gái thứ hai mười sáu tuổi chưa chồng ở xóm Vịt. Cái Gái nữa đi thanh niên xung phong về ngót nghét ba mươi cũng chưa chồng cũng ở xóm Vịt. Còn cái Gái thứ tư có năm con ở xóm Mưng, thẳng vườn mía mưng trông ra...
Bà giơ cây quạt chỉ đường cho anh. Nghe bà lão kể, anh làm phép loại trừ và nhận biết người đàn bà anh muốn tìm chính là Gái xóm Mưng. Có lẽ chị đã tái hôn và có thêm ba đứa con nữa với người chồng thứ hai...
Xóm Hà thưa thớt, nhà nọ nhìn thông thống sang nhà kia, hàng rào thấp rau muống. Không có cây ăn quả. Theo lời bà lão bán hàng anh cứ thẳng vườn mía mưng đi. Ngót trăm thước, anh đã tới trường làng, một mảnh đất nện đen thui trước mấy gian nhà lá không cửa vách không tường được ngăn bằng vài tấm liếp tre, ghế bàn xiêu vẹo. Chỉ mấy tấm bảng đen là ngay ngắn và chúng là thứ duy nhất để nhận biết đây là nơi trẻ con tới học. Trường vắng ngắt, vài đứa nhóc đang chơi bi trên sân. Hoan hỏi chúng:
- Các cháu có biết nhà bà Gái ở đâu không?
Sáu đứa bé đều ngẩng nhìn anh, đứa nào đứa nấy mũi rải loang luếch. Thấy chúng im lặng, Hoan nhắc lại:
- Các cháu làm ơn chỉ giùm cho bác nhà bà Gái... Gái có năm con ấy.
Nghe anh nói rõ ràng, năm đứa quay lại nhìn thằng bé nhất có gương mặt tròn và cái mũi tẹt dí:
- Tủn kìa... khách hỏi nhà mày đó...
Thằng bé Tủn ngó chòng chọc vào mặt anh, cái trán vừa dô vừa ngắn nhăn lại, hai bàn tay vẫn chống xuống đất hệt như con chó nhỏ.
Hoan bật cười:
- Cháu phải con của mẹ Gái không?
- Phải.
- Đưa chú về nhà.
Tay thằng bé vẫn chống trước cái lỗ bi, dường như luyến tiếc. Nó gặng hỏi:
- Ông hỏi chi mạ tui?
Hoan cao giọng:
- Đưa chú về nhà rồi lại ra chơi tiếp, mau.
Cái giọng mệnh lệnh của anh lần này có hiệu lực. Thằng bé nhấc hai bàn tay khỏi mặt đất chùi vào đít quần, đoạn bỏ hòn bi vào túi áo đứng lên:
- Thì đi...
Hoan theo đứa trẻ qua ba ngõ nữa, tới chiếc cổng thấp uốn bằng tre, cánh cổng cũng đan bằng cành tre, thứ tre ngà chỉ to hơn ngón chân cái. Ngõ nhỏ dẫn thẳng vào mảnh sân xi măng, trên đó anh thấy tấm lưng của một bà lão đang cắm cúi băm bèo. Phía xa
hơn, ở góc sân bên kia một người đàn ông mù đeo cặp kính đen ngồi tẻ từng hạt ngô xuống chiếc sàng kê bên dưới.
- Đó, nhà tui đó.
Thằng bé bảo anh rồi quay lưng định chạy đi. Hoan túm áo nó lại:
- Mẹ cháu đâu?
- Đó...
Nó cau có đáp, vùng vằng quẫy khỏi tay anh:
- Mạ tui băm bèo đó... Răng ông không trộ?
Nói đoạn nó tuột khỏi tay anh vùng chạy lại phía sân trường. Hoan đứng sững. Anh nhìn bà lão thái bèo trên sân. Tấm lưng mỏng dẹt, còng xuống dưới lớp vải đen bạc thếch... Làm sao người đàn bà hừng hực dục tình năm xưa lại có thể trở thành bà lão lưng gù đang ngồi băm bèo trước mắt anh chừng dăm thước? Dù mười năm, thời gian cũng không thể biến đổi con người như vậy nếu không phải bùa phép của yêu tinh hoặc pháp thuật loài ma quỷ... Người đàn bà vẫn cắm cúi thái bèo. Hết mớ bèo, bà ta vươn tay kéo rổ bèo khác trên sân, cách già một tầm với. Cử chỉ đó khiến chiếc khăn buộc trên đầu tụt xuống. Hoan nhìn thấy búi tóc nhỏ gài cây trâm sừng. Tim anh buốt lạnh:
Phải, đó chính là người ấy... Chính người đàn bà đã cùng ta... Bây giờ ta phải tin vào pháp thuật của thời gian... Không còn lý do ngờ vực...
Người đàn bà năm xưa qua đêm với anh trên chòi rớ thường kết tóc thành đuôi sam rồi cuốn thành búi. Tóc chị không dài quá lưng nhưng khá dầy và cái đuôi sam của chị đôi lần xổ tung trong cuộc tình:
- Chết thật, cây trâm của tôi... cây trâm rơi đâu mất?
Hoan vẫn mò mẫm giúp chị tìm cây trâm sừng trên những tấm ván lát sàn và vì thế anh không quên được nó. Một cây trâm thô kệch, đầu tiện hình quả cầu, chắc dùng đã lâu đời nên nhẵn bóng. Sau này, anh tìm mua rất nhiều kẹp tóc lẫn trâm cài tóc cho Miên, chưa lần nào bắt gặp một cây trâm gài kiểu "ăn lấy chắc mặc lấy bền" như thế. Phải nói là nó gần lớn bằng chiếc que xiên thịt nướng. Bây giờ, anh nhìn thấy nó trên búi tóc của bà già, cái búi tóc nhỏ xíu lốm đốm muối tiêu càng thảm hại hơn dưới cây trâm cài quá cỡ. Anh vẫn nhớ mùi tóc người đàn bà trên chòi rớ đôi lần anh đưa tay nắn búi tóc chị, nó lớn bằng trái bưởi non. Bàn tay chị thô tháp nhưng hai cánh tay chắc lẳn, và cặp đùi rắn như thép. Cặp đùi của một người đàn bà lam lũ, mỗi ngày đi bộ không dưới bốn chục cây.
Thân thể chị cũng là thân thể kẻ phải làm quen với cường độ và trường độ của thứ lao động nặng, vào trường tình nó chuyển động như cỗ máy không mệt mỏi... Con người ấy, nàng tiên dục tình câm lặng ấy đã trở thành bà lão với búi tóc hoa râm?
Không chỉ trái tim anh buốt lạnh mà thịt da anh cũng buốt lạnh.
Anh nhìn lần nữa búi tóc sau gáy bà già. Nó vẫn được kết sam cẩn thận trước khi búi. Và cây trâm gài cùng một kiểu như xưa.
Một cơn gió chạy ngang khiến anh rùng mình. Anh quay lưng sải bước về phía trường làng. Lũ nhỏ vẫn chơi bi, nhưng chỉ còn lại ba đứa. Ba đứa kia chắc đã về nhà. Anh gọi Tủn:
- Ra đây chú có việc nhờ...
Nó miễn cưỡng đứng lên. Nhưng hai đứa kia chắc đã chán cuộc chơi nên nhân đó cũng đứng dậy:
- Thôi... đéo chơi nữa. Đói bụng rồi.
- Tao về đây Tũn.
Tũn bảo:
- Mày còn nợ ông đấy nhé.
Đứa kia gật đầu:
- Nhớ rồi... Mai...
Khi hai đứa bạn đi xa rồi, thằng Tũn quay lại hỏi anh:
- Ông nhờ gì tui?
Hoan rút trong túi xấp tiền bảo:
- Hồi trước mẹ cháu buôn cá trên chợ, chú lỡ vay món tiền. Rồi Mỹ đến thả bom chú đi sơ tán chưa kịp trả. Giờ cháu đưa món tiền này cho mẹ.
Nó vặn:
- Răng hồi nãy ông không đưa cho mạ tui?
Hoan đáp:
- Chú muốn đưa từ nãy nhưng e mẹ cháu không chịu nhận.
Thằng bé đưa tay quẹt mũi rồi nói:
- Thôi được, đưa đây.
Nó giật phắt món tiền trên tay anh rồi quay lưng đi khiến anh sửng sốt. Hoan sợ nó sẽ đem số tiền ấy đi ăn quà mà chẳng hiểu giá trị của những tờ giấy nó cầm trên tay là bao nhiêu. Ở những làng nghèo như xóm Hà, thường những đứa bé mười bốn mười lăm cũng chưa tiêu đến bạc đồng vì bố mẹ chúng bòn cả vườn rau mới được vài hào lẻ. Anh đi theo thằng bé. Nhưng nó không tìm hàng quà mà cắm đầu cắm cổ chạy một mạch về nhà, gọi mẹ:
- Bớ mạ, bớ... mạ... bớ mạ ạ...
Người mẹ vẫn băm bèo, lên tiếng hỏi:
- Chi vậy?
Anh nhận ra tiếng người đàn bà ngày xưa dù âm điệu thay đổi chút ít.
- Cầm tiền nè.
Thằng bé dúi nắm tiền vào tay mẹ. Người đàn bà hoảng hốt kêu:
- Mi lấy đâu ra? Mi lấy thứ này ở nhà ai?
- Tui lấy đâu ra?
Nó vặc lại mẹ rồi giơ tay chỉ:
- Tui đánh bi ngoài sân trường kia kìa, có ông khách tới hỏi thăm thăm mạ, bảo ông ấy nợ mạ món tiền nay đem trả.
- Ông khách nào, người ra răng?
Hoan nghe người đàn bà hỏi thảng thốt, giọng run lên, hiểu rằng chị đã đoán ra anh:
- Người ra răng, ông ta ra răng?
- Ông ta trắng bóc à... Cao to như Tây...
Hoan thấy người đàn bà ném cây dao xuống đống bèo, vụt đứng lên. Anh quay lưng bỏ chạy. Vài giây sau tới ngã tư, anh rẽ vào lối khuất, nhảy qua mấy dòng lạch nhỏ chảy lững lờ thứ nước màu đen, băng qua mấy mảnh vườn thưa hàng rào chỉ cao ngang gối. Cứ cắm đầu chạy thục mạng như vậy hồi sau anh cũng về được vườn mía mưng
mà bà lão bán hàng đã chỉ. Khi đó, anh mới tin chắc đã xa hẳn ngôi nhà của người đàn bà. Anh dừng lại thở, để nhịp tim đập thình thịch nguôi dần:
Cớ sao ta lại chạy như thằng ăn cắp? Một hành vi kì cục ta chưa có bao giờ. Lỡ ai trông thấy và lỡ họ nghi ta làm điều ám muội, bao nhiêu phiền hà sẽ xảy ra?
Trở lại quán nước anh trả tiền bà lão rồi phóng xe đi ngay. Đường vắng, gió ù ù thổi nhưng anh vẫn phóng xe như điên:...
Thật hú vía... May không ai nhìn thấy...
Anh mường tượng cảnh vừa xảy ra: Một gã đàn ông cao lớn, đường bệ, ăn mặc chỉnh tề bỗng co chân chạy như gã ăn cắp gà, cuống cuồng nhảy qua các hàng rào, các lạch nước, rúc vào các lối ngang ngõ tắt, với dáng điệu của kẻ tội phạm bị săn đuổi, với vẻ mặt thất thần của kẻ bị ma chài... Vì sao bỗng dưng anh sợ hãi đến như vậy? Chính anh cũng không hiểu. Anh định bụng tìm chị, một lần nhìn rõ mặt chị, nói vài lời tri ân... và phút cuối anh đã bỏ chạy như kẻ ăn trộm gà...
Trở lại làng Bảo, Hoan gửi xe ở một quán nước rồi ra bờ sông.
Hoàng hôn đã tắt. Bãi cát tối vì đêm không trăng. Anh đi quanh lên các nấc thang tiếng cọt kẹt của những tấm ván dưới sức nặng và tiếng chị thầm thì:
- Có... nháp không? Tôi có làm anh đau không?
Nước mắt Hoan ứa ra:
- Không, không, không... Ta không thể gặp người đàn bà hôm nay để giữ nguyên vẹn người đàn bà mười năm trước, người đàn bà không tuổi, không tên và không rõ mặt...
Rồi cảm thấy không thể ngồi lại trên bờ sông, nơi hồi ức nghiền nát tâm can, anh đứng dậy lấy xe quay về thành phố. Nhưng khi phóng tới ngả rẽ xuống bến đò, anh chợt thấy quầng sáng phía bên kia thành phố sao ghẻ lạnh, sao hững hờ và dường như bên kia dòng Lệ Nhật không phải là mảnh đất anh từng sinh trưởng mà là một lục địa hoang vu chưa có dấu chân người. Lúc ấy, tiếng loa phóng thanh từ câu lạc bộ làng Bảo bắt đầu cất lên. Tiếng hát vụng dại, tiếng cười nói lao xao của đám trai gái làng chài thu hút anh.
Anh như kẻ bị bỏ bùa mê, quay xe theo vùng ánh sáng... Đứng trong đám đông dưới sân khấu, anh vừa nghe hát vừa nhìn những cô gái, những gã trai tươi rói niềm sung sướng, nhớ tiếc tuổi thơ, nhớ tiếc thời mộng mơ, nhớ tiếc người đàn bà đã mất. Những nhớ tiếc hòa trộn nhau lan chảy như dòng suối mùa đông, trong suốt như pha lê, buốt lạnh. Hoan cảm thấy anh không còn tự chủ được. Anh chẳng biết anh là ai. Khi đám gái trai thả micro rời sân khấu, rút giầy dép cắp vào nách để đi ra bãi biển, anh chợt thấy bơ vơ:
Ta chưa bao giờ ra bãi biển, dù đã ở đây mấy năm ròng... Hà cớ chi hôm nay không thử đưa chân tới đó?
Anh nghĩ thế, và anh lùi lũi đi theo họ ra đây...
Giờ anh ngồi nhìn biển, khép chặt cặp đùi để trấn áp cơn đói dục tình. Nhưng cơn đói không nguôi dịu. Biển vẫn vỗ sóng và gió vẫn đưa lời thì thầm, điệu cười rúc rích, hơi thở hào hển hoặc tiếng kêu hoan lạc của những cặp tình nhân. Bất giác, anh quay đầu nhìn lên ngôi lều chứa lưới cách anh vài chục bước chân:
Miên ơi, em ở đâu vậy? Em hãy bước ra khỏi bóng tối...
Trái tim anh thốt lên, trong khi mắt anh đăm đăm nhìn cái khung đen sẫm trước lều. Anh chờ người đàn bà của anh từ trong đó bước ra, bộ quần áo màu lục sẫm, da thịt trắng ngần của chị làm biển đêm ngời rạng... Thời gian trôi đi, hai mí mắt anh tê mỏi. Anh đưa lòng bàn day đôi mi mắt và hiểu rằng ước mộng ấy hão huyền:
Em đã là vợ kẻ khác, em đã thuộc về người khác...
Hai bàn tay anh vặn chặt lấy nhau. Cảm giác đau ấy rất thực. Thực như sự xác định quyền sở hữu của người đàn ông khác với vợ anh.
Anh kiệt sức. Trái tim anh bị rút rỗng chỉ còn là thứ vỏ, tựa vỏ trái bầu khô trong khi bộ phận sinh dục mỗi lúc mỗi cương cứng hung hãn cuồng bạo thúc hối. Hoan nhắm mắt, gục đầu xuống gối khao khát một giọng đàn bà xa lạ, một giọng nói anh chưa nghe thấy bao giờ. Giọng nói ấy sẽ vang lên từ phía sau lưng anh, cùng lúc một bàn tay nặng trịch của người chài lưới sẽ đặt lên vai anh:
Tôi là gái góa. Tôi không muốn làm phiền anh, tôi không yêu cầu gì nơi anh cả... Tôi ưng anh đã từ lâu...



Dương Thu Hương
(còn tiếp)






*




sap_ngua_cover_final-2-content



Sấp Ngửa 


Tân truyện và Tạp ghi Văn Nghệ của Trần Yên Hòa đã phát hành trên hệ thống Amazon toàn cầu

Bạn Văn Nghệ xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2016

Trình bày: Uyên Nguyên

ISBN: 978-1533188298

Copyright © Trần Yên Hòa.

 

Quý độc giả có thể vào đây để mua sách

358 trang. Giá: $20.00 US


Amazon Sấp Ngửa


 Nếu quý độc giả muốn có sách gởi qua Bưu Điện với chữ ký của tác giả,

Xin gởi ngân phiếu $23.00 về địa chỉ:

Trần Yên Hòa

9155 Pacific Ave #246

Anaheim, CA 92804

hoặc liên lạc qua email:

 

tran_hao47@yahoo.com

ĐT: (714) 360-7356

 

 





*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

 blank