DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,121,412

Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 17, 18, 19)

Sunday, May 22, 201612:00 AM(View: 3622)
Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 17, 18, 19)

Chốn Vắng




blank




Chương 17


Mùa săn tới dải núi phía Tây mang dáng vẻ mơ màng kinh dị. Màu xanh ẩm ướt của rừng xuân điểm những lũng hoa sặc sỡ điểm ngàn cánh bướm sặc sỡ khiến đôi lúc người ta sững sờ ngột ngạt. Trên các lèn đá, những nhánh dương xỉ cực lớn cực mọng vươn lên, thân căng nhựa, rung rinh trong gió, nở to thêm tong mưa bụi, trổ những bông hoa đỏ rợn hồn. Bầu trời lúc xanh veo xanh vắt lúc phủ làn mưa bụi liên xiên trắng như bột vãi, chân trời tựa cặp mắt lúc khép lúc mở thi thoảng gợn lên một dải mây dài và mảnh như tấm lụa óng sắc ngọc trai. Đột ngột, trong những ngày mưa bụi chưa ngừng, tiếng kèn săn rúc lên góc rừng xó núi, vang tới tận các xóm trại các nương tiêu nương sắn, các dải đồi trồng cà trồng ớt các thung lũng thả bò các dốc lóc cóc bầy dê... Tiếng kèn đó gọi người dân Xóm Núi và các vùng kề cận, khêu trong máu họ mùi vị hoan lạc cổ truyền, dóng lên thứ âm thanh xưa cũ làm rộn ràng máu huyết mời gọi bước chân và thú phiêu lưu. Những người đàn ông lôi cây súng săn cất ở xó kín, gỡ lớp giẻ tẩm dầu mỡ chống rỉ, chọn ngày nắng ấm ra sân lau chùi tra dầu mỡ, đếm lại số đạn dự phòng, tìm mua đạn mới. Rồi một ngày nào đó, họ sẽ vào rừng. Nơi ấy, họ cùng một lần tìm được thú phiêu lưu lẫn thứ thực phẩm thượng hạng, nếm lại mùi vị mê hoặc của huyền thoại mỗi năm chỉ được thụ hưởng một lần nếu thần may mắn chạm tay vào nòng súng. Nơi ấy, cũng có thể khiêng ra những kẻ rủi ro, đầm đìa máu, tay chân gãy cụt, mặt méo mó biến dạng vì gấu tát hổ vồ hoặc vì húc phải lợn độc thứ lợn lòi thành tinh biết đoán định đường đạn biết lẩn tránh hiểm nguy và thích tiêu diệt lọi kẻ thù đi bằng hai chân dưới...
Những người đàn bà trong vùng nhìn dải núi xanh rì, nơi mùa săn lên tiếng gọi chồng con họ mà không dám can ngăn. Họ biết ma lực của màu xanh kinh dị, họ hiểu ma lực của tiếng kèn âm vang quanh quất lúc khoan lúc nhặt, biết lì lẽ và kể cả những giọt nước mắt của họ cũng chẳng mùi mẽ gì trước sức mạnh thần bí của mùa săn. Họ đành lặng lẽ nhìn những người đàn ông vào rừng và âm thầm chờ họ trở về...
Ngay từ đầu mùa săn, Xá chột cùng mấy tay lính phục viên đã tới rủ Bôn nhập hội. Anh không có súng họ sẽ cho mượn súng, anh không sẵn tiền mua đạn họ sẽ cho anh vay tiền mua đạn, anh chưa từng mon men tới cửa phường săn họ cam kết sẽ giới thiệu anh nhập hội, tựu trung họ muốn đề cao thanh thế của cánh cựu chiến binh trong lãnh địa thiêng liêng này, và đó cũng là thứ tình cảm của những kẻ đã cùng xe chia thời cam khổ. Bôn khước từ tất thảy. Anh không muốn vào rừng, cũng chẳng muốn đi săn. Cuộc săn đuổi duy nhất anh dấn thân lúc này không phải cuộc thao diễn trong triền rừng mơ mộng và kinh dị, trong tiếng kèn run rẩy lúc vuốt dài như gió lúc vút cao như tia nước vọt tự mạch ngầm lúc lan tỏa âm u như sương trùm phủ kín núi rừng nương đồi, xóm trại. Anh ngồi trước sân nhìn chân trời phía tây, nghe tiếng kèn gọi bạn săn vọng về thấy tâm hồn anh đang tách khỏi thân xác anh bay lang thang vô định, tâm hồn anh như sợi bồ công anh gió cuốn không biết bay đi đâu, về đâu? Cuộc nỗ lực sinh cho được đứa con xem chừng càng ngày càng vô vọng. Miên đã công khai trở về nhà cũ. Buổi sớm chị đưa đứa con trai về đó, chăm sóc vườn tược, dạy con học vỡ lòng, bàn bạc công việc với người quản gia cho tới bữa cơm chiều mới quay lại với anh. Đã nhiều lần rình mò, chưa lần nào Bôn bắt gặp người chồng trước trở về đó nhưng khoảng thời gian Miên đi vắng là khoảng thời gian tù đày, anh không thể làm một việc gì cho đến đầu đến đũa, kể cả việc lên núi hái lá Dâm dương hoắc hoặc ngồi nấu những món ăn bổ dưỡng. Anh lật đật làm mọi việc, lật đật đi theo chị vòng vèo quanh quẩn qua đường ngang lối tắt, lúc ghé nhà người quen vờ mượn cuốn họa báo hoặc xin nắm rau thơm, lúc ngồi lì nơi nhà Xá chột hoặc mấy người bạn đồng môn rình rập. Anh thấy mình khốn khổ hèn hạ, nhưng anh không thể không khốn khổ hèn hạ, không thể dập tắt lòng ghen, không thể quên đi hình ảnh chiếc quần đùi sang trọng lớn gần gấp đôi chiếc quần anh mặc, không thể gạt khỏi trí tưởng tượng những so sánh vụng lén và chua xót. Anh nghĩ tới ngôi nhà mênh mông của người đàn ông đó, nơi anh đã qua đêm đầu tiên khi trở về làng, đã trằn trọc trên tấm phản xà cừ nhễu đầy ánh trăng, đã nhìn người vợ ngày xưa của mình như nhìn một bà chủ cao sang và xa lạ... Vào khoảnh khắc đó, anh tưởng đã vĩnh viễn mất chị. Nhưng chị đã trở về cùng anh trong gian nhà lá tồi tàn, sẻ chia giường chiếu với anh. Anh đã tự nghĩ mình là kẻ may mắn nhất trên đời, giống gã ăn mày không những xin được phần xôi lại còn là xôi gấc. Trời cho anh cơ hội vàng và anh sẽ bơi được tới giải bờ hạnh phúc:
Chiến tranh cũng như đời thường, thằng nào lì đòn thằng ấy thắng...
Anh nhắc thầm câu nói của tiểu đội trưởng mỗi sáng, mỗi chiều như kẻ sùng đạo đọc kinh. Anh lặp lại nó trăm lần như niệm chú trên con đường quen thuộc dẫn tới những dốc đá cheo leo mọc Dâm dương hoắc, anh thì thầm câu đó trong dạ mỗi lần tủi hổ ngửa tay cầm tiền của vợ, anh lập lại nó giữa hai hàm răng nghiến chặt giống kẻ buông lời thề độc sau mỗi cuộc làm tình hẫng hụt sau những nỗ lực không thành và anh đành đứng nhìn Miên tắm ngoài vườn mùi nước lá Thạch trinh hương xông ngút ngát... Nhưng cái điệp khúc ấy lần hồi cũng sờn mòn như thứ vải giặt nhiều lần bằng sút. Lần hồi, Bôn cảm thấy chúng rã ra từng mảnh, tựa những mảnh rêu nổi lều bều trên mặt nước. Anh biết anh không còn đủ can đảm dán dòng chữ đó như dán lá bùa trước ngực để che chắn ma tà để giữ được niềm tin vào bản thân. Một ngày, Miên nhìn thẳng vào anh và nói:
- Từ mai, em sẽ đưa cu Hạnh về nhà cũ, con em cần chơi đùa ở đó. Nó đã chán mảnh sân chật hẹp nhà dì Huyên.
Anh đứng lặng như bị ai đấm vào gáy một cú đau điếng. Mãi sau anh mới cất tiếng nổi:
- Em... Miên đừng làm thế... Xóm làng dị nghị.
Chị lạnh lùng đáp:
- Xóm làng nói gì mặc họ. Em muốn con em được sung sướng. Bố nó ở trên thành phố, chỉ về Xóm Núi ngày Chủ Nhật. Chủ Nhật em sẽ ở lại nhà anh.
Ngừng một lúc chị nói thêm:
- Ở đây, không thứ gì sinh nở ra tiền. Muốn sống phải làm việc. Đằng kia, em có nương vườn đủ các nguồn thu. Ông già Lư giúp em coi sóc.
Tới đó, Bôn tắc họng. Nương của anh vẫn nguyên là mảnh đồi hoang rậm. Anh cuốc đất hai lần thử sức, cả hai lần đều đổ bệnh nằm dán xuống giường cả tuần lễ. Lần đầu, Xá chột nghe tin mang chục trứng tới thăm. Vào lúc Miên sang nhà dì Huyên chăm đứa con trai mọc răng hàm, Xá bảo:
- Cậu tưởng cuốc nương ngon như hồi mười tám hay sao? Lãng mạn bỏ mẹ...
Anh lặng im, và Xá tiếp:
- Cậu biết tay Hoan chồng cô Miên làm nương ra sao không? Khởi đầu hai vợ chồng họ cũng tay cuốc tay cày như mọi người, nhưng sau đó Hoan đã phá một lúc ba nương tiêu và một nương cà-phê nhờ hoàn toàn vào sức dân Xóm Núi và hai làng phụ cận. Thời đó, hàng hóa cực hiếm, người ta phải phân phối từng chiếc quần đùi tới miếng xà-phòng giặt nhưng anh ta đã kiếm được hàng bao tải áo quần, các loại thực phẩm quý, các loại thuốc lá, rặt những thứ hàng cao cấp sĩ quan quân đội mới dám sờ tới. Hoan nhờ bà con khai nương, trả công bằng hiện vật. Chẳng cứ dân Xóm Núi mà ai ai cũng náo nức đến làm cho anh ta, vừa được tiếng vừa có thứ cần dùng. Bằng cách ấy Hoan khai nương mở rẫy nhanh hơn các nông trường quốc doanh trong tỉnh. Sau ngày hòa bình, hàng hóa không còn khan hiếm như trước, Hoan thuê người trả công sòng phẳng. Anh ta sắm được máy cày tay, máy bơm nước, máy phát điện sớm nhất vùng... Đã lần nào cậu đến nương rẫy nhà họ chưa?
- Chưa... Tôi chưa rảnh...
Bôn đáp, dù đã nhiều lần anh lượn lờ thầm vụng ngắm những vườn tiêu và cà-phê của kẻ địch tình.
Xá giương con mắt lành nhìn chòng chọc vào mắt Bôn. Và anh đành nói tiếp một câu vô vị:
- Mà tôi cũng chẳng liên quan gì tới vườn tược nhà họ...
Xá thở dài đánh khượt:
- Dù có rúc đầu vào cát như con đà điểu cậu cũng thua kém người ta đủ bề. Nói cậu đừng giận. Làm người phải có gan nhìn vào sự thật. Từ buổi đầu tôi đã bảo cậu nên tỉnh táo trước hoàn cảnh của mình. Làm sao cậu thắng nổi trong cuộc cạnh tranh?
- Tôi chẳng cạnh tranh với ai hết... Tôi sống phần đời của tôi, tôi cày mảnh đất của tôi...
Anh nổi sùng, vặc lại Xá. Xá bỏ tay vào giỏ, lấy từng quả trứng đặt lên đĩa cho Bôn, những quả trứng tươi hồng mà Bôn biết rõ là cô vợ đảm đang và tốt bụng của Xá đã nhặt từ dãy ổ gà đặt phía sau chuồng lợn, dưới một túp tranh được gá mấy mảnh ván tạm làm chuồng. Xá hứa với vợ sẽ đóng cho cô chiếc chuồng gà thật oách, đủ nuôi một lần ba chục gà thịt và mười hai ổ trứng nhưng anh ta bận đi rừng, làm nương, đóng đồ mộc, xẻ gỗ và giúp đỡ xóm giềng, làm cái thứ công việc mà mọi người đều gọi là: Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng... Bởi thế cái chuồng gà vẫn còn là lời hứa và cô Xoan vẫn nuôi gà trong cái chái tuềnh toàng nhưng người đàn bà thảo lảo đó rất mát tay nên mấy bố con Xá quanh năm ăn trứng thỏa thuê:
Tại sao Miên không chịu nuôi lấy vài lứa gà nhỉ? Vườn nhà rộng và ta tuy yếu nhưng cũng thừa sức đóng được chiếc chuồng gà... Ta không thể lặn lội rừng sâu làm sơn tràng như Xá nhưng...
Anh nghĩ tới đó chợt dừng lại, bởi anh hiểu Miên không bao giờ nuôi một loại gia súc nào trong ngôi nhà này, nhà của anh. Chị đã thử gieo vài luống cải nhưng cải chưa kịp lớn đám con Tá đã nhổ sạch. Miên sống ở đây như khách trọ. Chẳng ai gieo cấy, nuôi trồng trong mảnh vườn lữ quán... Anh biết Xá có lý nhưng không dám thừa nhận.
Sau cùng, anh bảo bạn:
- Tôi đợi sức khỏe hồi phục, lúc đó tôi sẽ ra tay. Cậu thấy đấy, thời chúng ta đi học...
Xá lắc đầu:
- Liệu bao giờ sức khỏe cậu hồi phục? Và liệu bao giờ cậu sẽ ra tay? Tôi đéo tin những chữ sẽ trên đời. Một trăm thằng nói sẽ chín mươi chín thằng bịp.
- Thế anh muốn tôi phải làm gì?
- Cậu không thể sống mãi bằng tiền của cô Miên. Tôi đã nói rồi, ấy là tiền của người đàn ông kia để lại.
- Anh nói lạ... Nếu anh ốm, anh sẽ nhờ vợ anh hay ra đường ngửa tay ăn mày?
Xá bất đồ vung tay đứng dậy, con mắt lành của anh ta long lanh lửa giận và anh ta nói như hét vào mặt Bôn:
- Cậu không ví được với tôi... Nếu tôi ốm, tôi sẽ nằm thẳng cẳng ra giường. Con vợ tôi sẽ phải cơm bưng nước rót, sẽ phải nấu nước lá cho tôi tắm, kì lưng gội đầu cho tôi... Nếu tôi chẳng may bán thân bất toại nó sẽ phải bưng bô đổ cứt cho tôi... Và tôi cũng sẽ hầu hạ nó như vậy nếu chẳng may nó gặp tai nạn, giống như bất kì thằng đàn ông có lương tri nào khác... Nhưng cậu không thể ví với tôi...
Nói tới đó Xá chợt dừng lại đột ngột, cánh tay anh ta buông thõng và anh ta lại ngồi xuống ghế. Bôn biết rằng bạn đã ghìm lại câu nói sau chót, câu nói đó có thể là một đòn quá tàn nhẫn với anh. Hai người lặng im hồi lâu. Sau đó Xá lên tiếng:
- Tôi về đây.
- Phải, anh về.
Anh đáp lạnh lẽo.
Xá ra sân rồi lại quay vào:
- Này Bôn.
- Có chuyện gì vậy?
- Chúng ta là bạn từ thuở cởi truồng, lại cùng là lính giải ngủ, cậu hiểu điều đó chứ?
Bôn ân hận nên dịu giọng:
- Tôi biết anh là người tận tâm nhất với tôi trên cõi đời này.
- Thôi được, nếu cậu hiểu cho tâm địa tôi, tôi xin nói lại lần nữa. Cậu có thể có được một cuộc sống khác, hạnh phúc khác... Tôi nghĩ, có một thứ trong tầm tay cậu...
- Anh lại muốn nói tới cái nông trường với hai trăm cô thanh niên xung phong chứ gì?
- Phải, cậu bạn tôi vừa được bổ nhiệm từ trưởng phòng tổ chức lên thẳng giám đốc. Giám đốc cũ được triệu về Hà Nội. Cậu ấy có thể thu xếp được một chỗ yên ấm...
- Cảm ơn anh nhưng tôi không thể.
- Cậu nhất quyết ở lại đây?
- Đúng.
- Cậu đã tính kỹ mọi bề?
- Tôi yêu Miên. Tôi muốn có con với Miên. Đứa con chúng tôi sẽ hòa trộn hai dòng máu và cô ấy không bao giờ có thể tách khỏi tôi.
Xá đứng ngây nhìn anh như nhìn người rơi từ sao Hỏa. Dường như anh ta định nói thêm điều gì nữa nhưng sau rốt yên lặng quay đi. Lần này, Xá đi thẳng.
Lượt Bôn cuốc nương lần thứ hai đổ bệnh Xá không đến. Anh ta cho thằng cu lớn đem cho Bôn một mái gà. Nhưng tịnh không lời thăm hỏi. Rồi mùa săn tới, Xá đột ngột cùng bọn cựu chiến binh đến rủ anh vào phường săn. Anh ta vẫn tinh ranh, xốc nổi như thế, con mắt lành vẫn long sòng sọc, tay chân vẫn khua khoắng hăm hở như gã trai tơ... Bôn từ chối, nhưng khi Xá cùng đám bạn săn ra đi anh nhìn theo họ, lắng nghe tiếng cười nói lao xao vui vẻ của họ, thấy tay chân rã rời, chân trời trước mặt anh nứt rạn từng mảng và tâm hồn anh tách khỏi thân xác phiêu du trong không gian vô định. Đôi lúc, tiếng kêu của lũ bò hay đàn dê nhà ai về chuồng khiến anh bừng tỉnh giấc mê ngày, và anh mường tượng lại cuộc chuyện trò của anh với Xá, nhìn thấy ánh mắt tinh quái sắc nhọn đầy ngờ vực của gã thần hộ mệnh:
Có lẽ Xá có lý. Ta không thể so sánh với anh ta. Cuộc sống lứa đôi của họ khác ta...
Những cuộc làm tình khốn khổ của anh nối tiếp không ngừng và cũng không ngừng trượt xuống rãnh sâu tuyệt vọng. Dường như càng ngày anh càng đắm đuối càng rồ dại càng quỵ lụy hèn mọn Miên càng lạnh lùng băng giá. Họ thường để đèn đêm và vì thế sau mỗi cuộc làm tình anh không thể không đưa mắt vụng lén quan sát gương mặt chị. Lần nào anh cũng thấy chị nhìn đâu đó với ánh mắt nhẫn nại với vẻ chịu đựng và sự nhờn tởm không che giấu. Rồi sau những giây phút đó, dù trời nóng hay lạnh dù non nửa đêm hay gần về sáng bao giờ chị cũng vùng dậy nấu nước lá Thạch trinh hương ra vườn tắm. Một đêm Tá rình mò, chờ đúng lúc Bôn đi tiểu vào chắn lối hỏi:
- Đêm nào cô ấy cũng tắm như vịt thế hả?
Hai mắt Tá long lanh như hai hòn than hướng vào anh. Bôn gắt:
- Vợ tôi muốn tắm lúc nào là quyền của cô ấy, không dây dưa đến chị.
Tá thấp bé nhưng lúc đó làm điệu sừng sộ, chống hai tay lên hông.
- Tôi là chị cậu...
Bôn bảo:
- Chị đi ngủ đi.
Tá nói:
- Cha mẹ chết rồi, chỉ còn tôi... Tôi không muốn người ta khinh bỉ cậu.
- Nếu chị muốn người ta đừng khinh bỉ tôi trước hết hãy bảo lũ con thôi vác rá sang đây xin gạo, thôi vác bát sang đây xin thức ăn...
Nói tới đó, một cơn phẫn uất bỗng dưng xộc tới khiến cổ họng anh tắc nghẹn, sống mũi anh cay xè, anh phải cố ghìm nén để không giáng một đấm vào mặt người đàn bà anh phải gọi là chị:
- Đi đi... Vào buồng của chị. Và đừng để tôi nhìn thấy mặt...
Sau cùng, anh gằn từng lời một. Có lẽ điệu bộ dữ dằn của anh khiến Tá sợ. Chị ta làu bàu:
- Đồ ngu... Người ta muốn tử tế thì lại sinh sự...
Đoạn quay ngoắt vào buồng. Bôn đứng lại đó, biết Miên đã nghe hết cuộc đối thoại của họ nhưng chị vẫn tiếp tục tắm, tiếng nước xối không ngừng, thong thả và bình thản. Tiếng xối đó như dầu sôi tưới lên mặt anh, da thịt anh, tâm hồn anh:
Mẹ cha ơi, sao con nhục nhã như vầy? Uổng bao năm đèn sách?
Lúc đó, trong anh tiếng hét vọt lên và anh cảm thấy anh cần phải chết, phải giết người hoặc làm điều gì đó để chấm dứt cuộc sinh tồn. Nhưng anh vẫn đứng chôn chân trước cửa gian buồng, trời đêm mát lạnh bên trên, ánh lửa bờ giếng ở ngay trước mặt soi mập mờ da thịt của người đàn bà đang tắm. Anh không biết vì sao, anh vẫn si mê chị. Một nỗi say mê tủi hổ, tuyệt vọng nhưng chẳng cách nào chấm dứt.
Ta đã chọn con đường này, ta đã đánh hết đời ta vào canh bạc này. Cổ nhân đã dạy rồi:
Bước chân đi cấm kì chạy lại. Bước chân lại chó dại cắn chân...
Ta không còn ngả rẽ...
Cứ cho những lời Xá có lý, giờ đây nếu anh tới nông trường kia tìm trong hai số cô thanh niên xung phong quá lứa một bạn tình, chắc gì anh đã hạnh phúc hơn những ngày sống ở Bản Kheo cùng nàng Thoọng? Những năm lạc đơn vị, bạt rừng, mấp mé bờ cái chết, người đàn bà Lào câm điếc ấy đả ấp ủ anh, che chở anh, yêu thương anh với một tình yêu đắm đuối nồng nàn và đầy nhẫn nhục... Nhưng lúc ấy, anh cũng đã làm tình với chị với vẻ ban phát, lạnh lùng cao ngạo như Miên đối với anh bây giờ. Anh đã nếm đúng thứ quả đắng người đàn bà Lào yêu anh phải nếm. Cuộc đuổi bắt trớ trêu, thứ ái tình oan nghiệt Ông Tạo tròng vào cổ những kẻ rủi ro. Anh nhớ tới gương mặt nàng Thoọng, màu váy áo của nàng và những năm tháng anh gửi lại bên kia cách rừng biên giới...
Dạo đó, anh lạc đơn vị. Trong một cuộc hành quân bí mật mà các hạ sĩ quan và lính tráng chỉ đoán được lờ mờ qua các cuộc tập huấn ngắn ngày, vội vã nhưng vô cùng gay gắt. Ban ngày, tất cả mọi người đều ngủ, nguyên trong trang phục chiến đấu, không rời vũ khí, lá ngụy trang trên mũ và quần. Bắt đầu nhọ mặt người các cánh quân xuất phát không kèn trống, không quân lệnh rõ ràng mà các khẩu lệnh hẹp được truyền từ tiểu đội này sang tiểu đội kia, với một giọng thì thầm như sợ cây rừng là các mạng ra-đa giăng bẫy bắt tin cho địch. Như vậy, họ mò mẫm tiến lên trong bóng đêm, người nọ nối lưng người kia bước nhờ nghe hơi thở, nghe tiếng bước chân, ngửi mùi mồ hôi và thi thoảng, nhờ lân quang rọi chiếu từ những đám nấm lửa hoặc lá mục. Nửa đêm cuối tuần, bom đánh tan tác phân cắt đoàn quân thành các mảnh vụn. Bôn bị bom ném ngất xỉu. Lúc anh tỉnh dậy, xung quanh chẳng bóng người. Trời đã rạng sáng và anh nhận ra anh đang nằm chênh vênh trên đám bụi cây mọc lưng chừng vực. Trên đầu anh là vách đá gần như dựng đứng thả các chùm dây leo, dưới chân anh chừng hai mươi thước là dòng khe róc rách chảy. Có lẽ, chỉ nhờ phép lạ của thần Rừng hay quỷ Núi anh mới rơi trúng bụi cây kia và sống sót. Thứ dây leo mảnh dẻ trên đầu anh ngay đến loài khỉ bầy nặng vài ba cân cũng khó leo huống hồ anh, ít nhất cũng trên dưới nửa tạ. Con đường hành quân giờ chắc đã nát nhừ, và chẳng biết bao nhiêu người đã chết còn bao nhiêu kẻ may mắn sống sót như anh? Bôn định hú gọi đồng đội nhưng anh ngờ tiếng gọi của anh có thể chỉ đường cho một nhóm thám báo hoặc biệt kích nào đó hơn là những người cùng hàng ngũ. Anh đành nín lặng tìm lối thoát thân.
Đường leo lên không có, chỉ có thể bám sát vào vách đá bò dần xuống lòng vực rồi cứ thế men theo khe nước đi ngược lên. Đá lởm chởm, thẳng đứng nhưng có những bụi rậm nhỏ hoặc những loài gai bụi từ các hốc đâm ra. Bôn níu lấy chúng, tụt từng bước xuống lòng khe. Phải gần một giờ sau anh mới chạm chân tới đáy vực. Nước cạn nhưng buốt lạnh. Anh lần theo dòng nước đi ngược lên. Năm ngày sau, ăn hết mẩu lương khô cuối cùng anh mới tới được đoạn vực nông lòng, vách đá có thể leo lên được. Tới bờ vực, Bôn nhằm hướng Đông mà đi, hy vọng gặp đường biên giới nơi những toán giao liên dẫn quân ra vào. Nhưng sau ba tuần sống bằng củ mài với nước suối, anh đặt chân tới một bản Lào heo hút. Mảnh đất hoang vu ấy rất đẹp. Sau những ngày rúc ráy trong rừng anh được vươn thẳng lưng nhìn chân trời, thở hít không khí thoáng đãng giữa thung lũng tràn đầy nắng ấm. Ở đó, mọc thứ cỏ xanh dịu chưa từng thấy trên đất Việt. Men theo các thung, những rặng cây hoa vàng đứng như ngái ngủ. Hẳn chiến tranh không chạm tới đây. Có lẽ đó là sự vô tình hoặc một ngoại lệ hiếm hoi. Bôn nhớ anh đã đứng rất lâu trước thung lũng, nửa như mơ nửa như tỉnh, vừa đói khát rã rời vừa cảm thấy tâm hồn bình ổn lại. Sau một hồi lâu anh mới tiếp tục vượt qua thung lũng vào bản. Buổi trưa im lặng, tiếng chó sủa cũng lười biếng không buồn cất lên, mọi người mọi nhà đều chìm vào giấc ngủ chỉ riêng đám gà trống cất tiếng gáy để đánh thức những rặng cây hoa vàng trong thung lũng. Qua những bụi mía và rừng bí ngô, anh bước tới trước cầu thang ngôi nhà sàn đầu bản. Đứng dưới dãy đu đủ trĩu trịt quả chín, anh cất tiếng gọi rất lâu nhưng không ai đáp lại. Khi đã hoàn toàn thất vọng, Bôn định lê sang ngôi nhà sàn thứ hai, bỗng có tiếng sột soạt sau lưng. Anh quay đầu lại và tức khắc đôi mắt tròn thô lố ngây dại của một người đàn bà hiện lên trước mặt anh. Cô ta vừa chui ra từ vườn mía ra, một tay cầm con dao đầy bụi phấn, tay kia lôi bó mía.
- Chào cô.
Bôn lên tiếng.
Người đàn bà gật gật đầu, cặp mắt tròn ngây dại vẫn nhìn như dán vào anh. Bôn đang khát. Và anh không cầm lòng đậu liếc nhìn bó mía. Người đàn bà kia hiểu ngay tức khắc. Cô đưa ngón tay trỏ chỉ vào miệng anh rồi nuốt nước bọt khan vài lượt, Bôn hiểu rằng cô bị câm, anh gật đầu, đưa ngón tay trỏ vào cổ họng mình. Người đàn bà Lào giơ tay chỉ về phía cầu thang, phác một cử chỉ cho anh bước theo rồi cô ta thoăn thoắt leo lên trước, vừa leo vừa kéo bó mía theo. Bôn bước theo cô, mùi hôi từ tấm váy người đàn bà thốc vào mũi anh nhưng cảm giác khó chịu ấy kéo dài không lâu khi anh đặt chân lên sàn, bóng râm mát của mái lá che cái đầu nóng bỏng của anh, không gian yên tĩnh mát mẻ vây phủ tấm thân mệt mỏi và tâm hồn rã rời khắc khoải của anh. Nhà sàn nơi đây rất rộng, không có thứ vật dụng gì ngoài những tấm thảm rải vải lanh thêu rực rỡ. Có hai đứa trẻ đang dang chân tay nằm ngủ. Ngủ rất say, chúng không hay biết sự hiện diện của kẻ lữ hành đói khát. Người đàn bà câm lấy bát rót nước từ chiếc ấm sành đặt trên bếp đưa cho Bôn. Anh uống một hơi cạn bát nước mà không kịp nhận biết mùi vị. Người đàn bà tiếp tục rót cho anh bát nước thứ hai đoạn lấy dao chặt mía thành từng khúc. Xong xuôi, chị ta bỏ tất cả mớ mía đã chặt vào chiếc thúng, đặt trước mặt Bôn. Rồi, ngồi xệp xuống bên anh theo kiểu ngồi thường thấy ở những người đàn bà vùng núi, chị cầm khúc mía tước vỏ ăn như để làm gương. Bôn không nói gì thêm, lẳng lặng xước mía ăn liền ba tấm. Gian nhà chỉ vang lên tiếng họ róc vỏ và hít nước. Một thứ âm nhạc câm lặng có đôi phần dung tục, nhưng lúc đó, anh như được hồi sinh. Anh thở. Và chừng vài phút nữa, cơn đói gào réo. Lúc đó Bôn mới biết rằng anh vừa uống hai bát nước chè già, thứ chè dại mọc rất nhiều ở phía Tây dải Trường Sơn, uống thứ chè đó không ngon nhưng rất tỉnh và điều tệ hại hơn, rất đói. Cơn đói trường kỳ của ba tuần lễ dồn vào lúc ấy, khiến Bôn bất giác ôm bụng. Người đàn bà hiểu ngay. Cô đứng lên, lấy trên gác bếp chõ xôi, vét trong đó được hơn một bát đem lại cho Bôn, rồi đưa cho anh một chiếc bát nhỏ hơn đựng muối vừng đen giã lẫn củ sả. Anh đã ăn bát xôi ấy, ngon hơn thảy những bữa ăn ngon lành nhất anh từng được hưởng... Người đàn bà Lào ngồi đối diện với anh, hai bàn tay ấp lên đùi, tấm váy thêu xòa ra trên sàn gỗ. Bôn nhìn những hình hoa văn trên tấm váy, thấy chúng đẹp lạ thường, chúng đã cứu anh khỏi vực thẳm, rừng sâu, sợ hãi đói khát và cô quạnh, lũ cừu thù vây rượt anh gần một tuần trăng:
Ta còn sống... Dù chẳng tìm được đơn vị nhưng đã may mắn thoát khỏi bọn thám báo lẫn vuốt hổ. Người đàn bà này là thần hộ mạng của ta...
Anh đã nghĩ vậy, tràn ngập lòng biết ơn với cô, hướng về cô ánh nhìn trìu mến và nói:
- Cảm ơn cô.
Người đàn bà chừng như cảm nhận được điều anh nói. Đôi mắt cô cụp xuống trong một thoáng sung sướng e lệ. Rồi cô chạy vào một trong số ba gian buồng thưng gỗ trên ngôi nhà sàn thênh thang. Lát sau, cô mang ra cho anh một đĩa mứt gừng. Bôn nhấm nháp thứ mức cay sặc, bốc mùi mật mía, toàn thân anh ấm nóng lên mau lẹ và khi anh ăn hết đĩa gừng, mồ hôi anh thoát ra đầy cổ đầy lưng. Người đàn bà đem tới một tấm khăn bông lớn cho anh lau mặt, lau cổ rồi cô tiếp tục đưa tới cho anh một tấm gối. Bôn nằm xuống, mãn nguyện chìm vào giấc ngủ. Anh ngủ như thế cho đến tận sáng hôm sau, một giấc ngủ thần tiên không mê hoảng, không sợ hãi, không phải giỏng tai lên nghe ngóng dè chừng thù địch hay muông thú. Khi Bôn ngồi dậy, ngôi nhà đã đầy người. Tất cả đều ngồi quanh bếp lửa. Và tất cả đều hướng về anh cái nhìn hân hoan, chờ đợi. Trước hết, là một người đàn ông cỡ ngoài ba mươi tuổi, anh đoan chắc là anh ruột của người đàn bà câm vì anh ta có vóc dáng và gương mặt y hệt như cô em nhưng tất thảy các đường nét đều đẹp hơn, tinh tế hơn nhất là đôi mắt xếch sắc lẻm sáng quắc như mắt những kẻ nhập đồng. Vợ anh ta ngồi bên, nhỏ nhắn mũm mĩm như một con búp-bê lớn với cặp má hồng tươi tốt và dù đã có hai con trông chị ta vô cùng trẻ. Ngồi đối diện với cặp vợ chồng người anh và hai đứa con trai họ là một cặp vợ chồng già, rất già... Có lẽ họ phải ngót trăm tuổi nhưng vẻ rất tinh tường, cả hai đều mặc quần áo đẹp. Anh trai người đàn bà câm đứng dậy trước tiên, tiến lại phía Bôn chìa bàn tay cho anh với mối thiện tình không cần lý giải. Bôn cũng đưa bàn tay của anh ra như sự đáp lời. Hai người đàn ông nắm tay nhau. Và đó là thứ ngôn ngữ duy nhất để họ trao đổi. Sau thủ tục ấy, tất cả mọi người đều thở dài khoan khoái, dường như một thứ giao kèo đã được ký nhận, đặc biệt sung sướng là người đàn bà câm.
Cô ngồi phía sau chị dâu, hai chân gập lại, tấm váy mới xòe quanh khoe trọn vẹn những đường hoa văn rực rỡ. Anh trai cô nắm tay Bôn dẫn tới trước cặp vợ chồng già. Theo các cử chỉ và vẻ mặt của anh ra, Bôn biết đó là những bậc trưởng thượng trong làng bản, những người có uy quyền cao nhất trong dòng tộc và có thể thay thế sứ mạng của những bậc phụ huynh đã chết. Cặp vợ chồng già lần lượt lên tiếng, vợ nói trước, chồng nói sau, chậm rãi và trang trọng, một thứ ngôn ngữ anh không hiểu nhưng anh đoán được nội dung và sự thô mộc giản đơn của chúng. Anh im lặng, tỏ ý tuân phục, dù cho đến lúc ấy, anh cũng chưa kịp hiểu họ yêu cầu điều gì nơi anh và anh tuân phục những gì? Ông già nói xong, vẫy người đàn bà câm tới trước mặt Bôn, ông cầm tay Bôn và cầm tay cô, đặt vào nhau. Bôn để mặc cho họ hành động. Anh hoàn toàn như con rối dưới sợi dây số mệnh. Cuộc đời anh trôi dạt đến thế, làm sao còn dám toan tính theo mình? Bàn tay anh nắm bàn tay người đàn bà Lào xa lạ và sau cái nắm tay ấy hẳn cuộc đời anh sẽ phụ thuộc vào cô, anh lờ mờ hiểu điều đó nhưng chẳng đo đếm, suy tính nhiều hơn. Bởi lúc đó, bàn tay người đàn bà là cây cầu nối anh với đời sống. Bên kia cây cầu là bóng đêm rừng thẳm, là ngọn lửa thiêu trên cao điểm 327, là những cánh rừng bịt bùng ngộp hơi, là xác chết và những bầy chim kền kền độc địa rượt mồi...
Những ngày sau đó tuần tự trôi. Người anh dựng cho cô em hẩm phận một căn nhà sàn, cách ngôi nhà mình không bao xa, chỉ hai nương mía, một vườn bí ngô và một nương bắp. Chính anh ta chứ không ai khác đã kéo từ rừng về những cây gỗ thân tròn, thẳng tắp được đục sẵn đã lâu. Cũng chính anh ta và đám bạn nghề bào đẽo các thân gỗ, đục con xỏ, tính toán ráp nối các vì kèo. Sau đó, anh đánh xe trâu vào rừng lấy lá lợp. Hẳn người đàn ông này đã lãnh trách nhiệm trước những người quá cố rằng anh sẽ thay mặt họ chở che và lo toan cho cô em tật nguyền suốt cuộc đời. Tất cả những gì anh tu tạo cho đứa em gái kia hoàn toàn mang phong thái của bậc cha mẹ. Trong suốt thời gian dựng nhà, Bôn được chỉ định ở lại ngôi nhà sàn của vợ chồng người anh để nghỉ ngơi, bồi dưỡng cho lại sức và tập cách chuyện trò với cô vợ tương lai bằng ngôn ngữ câm điếc. Anh hiểu rằng anh sẽ phải sống với cô một cuộc sống lâu dài nếu không nói là mãn kiếp. Anh không có bản đồ, không địa bàn, không xe ngựa, không có đến cả lòng can đảm để vượt khỏi vùng đất này tìm đường về tổ quốc. Sau bấy nhiêu thăng trầm vật vã một cuộc sống an bình và an toàn đã là tất cả những gì anh ao ước. Ngày lại ngày, nàng Thoọng đun nước lá thơm cho anh tắm, đồ xôi với gà cho anh ăn, nàng nấu thêm một thẩu mứt gừng lớn cho anh uống trà buổi sớm và làm thứ bánh rán mật của người Lào vùng núi cho anh ăn sau bữa xôi chiều. Bỗng dưng anh trở thành nhân vật số một trong gia đình họ. Không khí Bản Kheo êm ả lạ thường, những trận bom sấm sét trên đường Trường Sơn thi thoảng vọng tới những âm vọng mơ hồ hư ảo như thứ tiếng động hậu trường sân khấu ở rất xa. Bầu trời Bản Kheo trong vắt không hạt bụi. Tiếng gà gáy là thứ âm nhạc duy nhất điểm nhịp thời gian. Buổi sáng ong bay rù rì tìm mật, buổi chiều tiếng chim gọi nhau về tổ chiu chít trước mái sàn. Đêm sương lạnh, bọt củi lách tách nổ khiến không gian càng êm ả, an bình hơn. Trong cái không gian ngái ngủ ấy, anh thả mình trong dòng sống an nhiên lười lĩnh, thân xác được hồi phục, máu chảy dạt dào trong huyết quản và đêm đêm làm tình với người đàn bà bằng xương bằng thịt dù chẳng yêu mê nhưng cô cũng cùng anh cập tới ngọn triều khoái lạc bù lại những năm tháng đói khát dục tình...
Ngày người anh trai đã chuẩn bị đầy đủ vật liệu, dân toàn Bản Kheo xúm tới dựng nhà cho cặp vợ chồng mới, một kẻ lạc rừng ngoại xứ và một người đàn bà hẩm phận chờ đợi hạnh phúc đã ba mươi năm. Nhà dựng trong năm ngày đã xong. Sáng ngày thứ sáu cặp vợ chồng trưởng tộc làm lễ kết hôn cho họ. Cuộc tế lễ ở đây thật đơn giản không hương khói, không pháo nổ, không khăn áo đưa dâu đón dâu. Chỉ lời khấn nguyện của hai bậc trưởng thượng ở giữa trời, cầu chúc thần linh che chở và hạnh phúc được bền vững. Dân bản đứng thành vòng tròn xung quanh chứng giám cuộc nguyện cầu. Sau khi khấn nguyện, các bậc trưởng lão buộc chỉ vào cổ tay cô dâu chú rể. Một đội hát chừng năm bảy bà già cất lên khúc ca ngắn, trong lúc các đứa bé gái ném vào váy cô dâu nắm gạo sống và một nắm hoa. Như thế, lễ kết thúc. Dân bản ngồi xuống ăn cỗ cưới, gồm xôi trắng, thịt nướng và một thứ bánh tựa bánh mật, gói lá chuối được hông trong những chiếc thống hông xôi cao ngang đầu người. Cỗ cưới liên miên suốt ngày, từ sáng tới chiều.
Khi mặt trời xuống núi, ai trở về nhà nấy. Hai chuyến xe trâu chở tới rương quần áo của cô dâu, những tấm nệm mới, một chum muối, những vật dụng làm nương và để hai người ở lại với nhau.
Đêm hôm đó, vào lúc tiếng xe trâu đã thôi nghiến trên đường, màn đêm buông phủ trong ngôi nhà rộng rênh chỉ còn anh ngồi đối diện với người vợ Lào, Bôn bắt đầu sợ. Anh đã buộc trở thành chủ nhân mái nhà này, đức ông chồng của người đàn bà câm điếc và cuộc sống của anh sẽ được vĩnh định ở nơi đây, mảnh đất hai tuần trước anh còn tưởng như thiên đường nhưng giờ này hứa hẹn buồn tẻ và sầu não. Ngôi nhà sàn riêng biệt là cái cũi nhốt chung anh với người đàn bà câm điếc, không còn những đứa trẻ xinh xắn vui vẻ, không thấy người đàn bà búp-bê có nụ cười tươi tắn, không có những bữa cơn đông đảo dù không có ngôn ngữ chung nhưng mối thiện tâm cũng gắn bó được con người. Giờ đây chỉ trần trụi anh và cô, cô và anh. Lứa đôi. Đôi lứa. Một cuộc sống thu hẹp tới mức này chỉ tương hợp khi hai người cùng yêu nhau say đắm. Nhưng anh không yêu cô, anh không thể yêu cô. Cơn nguy nan đã lùi lại phía sau. Nỗi đói khát dục tình đã được lấp đầy. Giờ, cô không còn là vị thần hộ mệnh của anh. Cô chỉ còn là chủ nợ, và anh phải trả cô món tiền ân nghĩa. Bôn lén đưa mắt nhìn cô, ánh lửa hắt lên gương mặt thô lậu của cô soi rõ những đường nét lệch lạc, khuyết hãm. Lạ kỳ thay, cùng một vóc dáng, nhưng nét dao lượn của ông Trời chỉ đi xa một ly hay đi gần một ly là đủ biến chàng Tú Ngọc thành quỷ dạ xoa. Những đường nét trên gương mặt người anh trai trông trượng phu và cuốn hút bao nhiêu thì trên gương mặt cô chúng lạc lõng và phản cảm bấy nhiêu. Bất chợt, không nén được anh buông tiếng thở dài. Những tấm váy thêu rực rỡ không cứu nổi cô nữa. Cả đám vòng bạc lóng lánh trên cổ tay cô cũng không còn khiến anh quên đi những chiếc răng lớn như răng ngựa thường nhe ra một cách đờ đẫn mỗi khi cô cười. Cô sẽ không còn đem lại cho anh thứ gì khác hơn vẻ đờ đẫn và những cơn ham muốn dục tình. Đó là toàn bộ màu sắc cuộc đời lứa đôi phía trước.
Ta không được nghĩ thêm... Bởi cách đây hai tuần ta đã sung sướng đến lịm người khi gối đầu lên chiếc gối của nàng mà ngủ. Ta đã đón bát xôi trên tay nàng như đón tặng vật của thần cứu mạng... Nàng Thoọng thật nặng tình với ta...
Anh nghĩ như thế, tự trấn áp nỗi buồn nản, tự trách mắng mình là kẻ vong ân bất nhẫn, và vươn người, anh đặt bàn tay lên đùi vợ. Nàng Thoọng đờ đẫn vì cảm động, hiểu ngay cử chỉ đó là lời kêu gọi ái ân. Nàng đứng lên tức khắc, kéo anh vào buồng. Đêm hôm đó, anh đã làm tinh như gã dân cày bước sau lưng trâu ngày hạ. Rồi khi nàng Thoọng ngủ, anh mò ra bếp lửa ngồi, cảm thấy ngôi nhà sàn xứ lạ rộng như bãi tha ma. Gương mặt Miên bắt đầu chập chờn trên những ngọn lửa. Anh bắt đầu nhục nhã, hối tiếc. Anh hối tiếc đã nhai ba tấm mía ngấu nghiến không kịp thở, đã ăn bát xôi vét chõ như một gã ăn mày, đã im lặng ngả bàn tay để cặp vợ chồng trưởng tộc đặt nó vào tay người đàn bà câm điếc như cam kết trả món nợ vĩnh viễn trong phút giây khốn quẫn:
Ta thật khốn nạn. Đã sống ba tuần liền trong rừng bằng củ mài và nước suối. Lẽ ra ta cũng có thể sống như vậy thêm vài tuần nữa trước khi ta tìm được chỗ trú thân. Nhưng ta đã buông xuôi cuộc đời một cách ngu xuẩn và hèn hạ... Nếu Miên biết được, chẳng bao giờ cô ấy tha thứ cho ta...
Ý nghĩ đó khởi lên và bắt đầu từ giây phút ấy, nó tái hiện mỗi ngày, cắn rứt anh. Tuần trăng đầu nơi ngôi nhà sàn mới, anh bất chợt thấy vầng trăng vào giây phút nó ngự trị giữa hai cánh núi vút nhọn như cánh chim nhạn và ngay tức khắc anh thấy đó là gương mặt của Miên, người vợ nhan sắc nơi quê nhà. Cô là tình yêu của anh thuở trước, là mối ngưỡng vọng của anh bây giờ, là sức mạnh thiêng liêng nhất và mãnh liệt nhất gắn bó anh với cuộc sống. Anh phải quay về. Anh không thể đánh mất cô... Nhưng cuộc sống cuốn trôi như dòng nước, dù mộng mơ dù hối tiếc sớm sớm Bôn vẫn phải đi nương với nàng Thoọng. Mùa hái bắp đã tới, họ lo hái bắp đem về, thứ tẽ hạt phơi ăn, thứ treo lên gác bếp làm giống. Anh nàng Thoọng xẻ cho cô em nửa đàn bò mười sáu con, qua tuần trăng thành mười tám, một gia sản anh nằm mơ cũng không thấy ở Xóm Núi. Bôn học cách vắt sữa bò, cô sữa đặc kiểu thủ công để làm thứ bánh sữa vuông như những thỏi đường mía. Thoạt đầu anh sợ mùi sữa bò nhưng ăn lâu đâm nghiện, nhất là những cháy sữa bén chảo vàng suộm như cơm cháy bốc lên một thứ mùi thơm thật quyến rũ. Thứ bánh sữa đó ăn với nước chè già nóng bỏng, vào những buổi sáng mát lạnh hơi sương thật thú vị. Nàng Thoọng trỉa mấy nương nếp cách nhà họ chẳng bao xa nhưng mùa tới Bôn vẫn phải ra chòi canh khỉ. Anh trai nàng dạy anh cách bẫy khỉ đem về bản nấu cao. Cuộc sống miền sơn dã êm đềm như mặt hồ ngày lặng gió. Sau một năm Bôn nặng thêm ngót mười cân, da dẻ săn lại đỏ hồng. Chính anh cũng tự thấy mình thay đổi. Đôi lần, anh tặc lưỡi:
Thời binh đao này, một cuộc sống an bình là quá đủ. Ta cần biết chấp nhận những gì số phận đã cho mình...
Nhiều đêm ngồi bó gối bên bếp lửa, nghe tiếng bom ì ầm xa vọng từ giải Trường Sơn, anh hình dung lại những tháng năm dãi dầu cơ cực, tuần lễ kéo xác tiểu đội trưởng trong rừng khộp, vật lộn với các bóng ma lẫn bầy kên kên, rồi tới đận bị bom đánh lạc ngày lại ngàu hì hục moi đất tìm củ nướng, đêm lại đêm treo mình trên cành cây bằng sợi dây dù, ngủ giấc ngủ sợ hãi của loài muông thú... Những hồi ức đó an ủi anh, khích lệ anh chấp nhận cuộc sống hiện tại. Căn nhà sàn sạch sẽ, thoáng đãng, những sọt bí ngô lẫn đường mía xếp thành dãy, dưới những tràn đựng thịt muối, bánh sữa và măng khô. Những chùm ngô giống treo vàng rực trên gác bếp và bên đó là những giỏ mây đựng cỏ thơm đun nước tắm cho anh... Anh mơ màng mãn nguyện...
Nhưng những khoảnh khắc đó càng ngày càng ít tái hiện. Và những ngày dài trống rỗng buồn bực kéo tới thường xuyên. Những tuần lễ mưa phùn vây bọc, ngôi nhà sàn chìm vào đáy im lặng của nước lẫn sương mù. Không mặt trời và mặt trăng. Ngọn lửa cháy trên bếp suốt ngày đêm không xua nổi cơn lạnh triền miên. Bôn trở nên bực dọc vô cớ. Bữa bữa, khi ngồi nắm vắt xôi chấm muối sả hoặc ăn với thịt lợn muối mặn chát, anh chợt nhớ mùi cơm tẻ, nhớ vị đắng ngọt của măng luộc chấm với mắm tép giằm ớt cay xé lưỡi vừa ăn vừa hít hà, nhớ vị cá kho giềng những con cá suối tươi còn nhảy toanh toác đem đánh vảy ướp tương giềng kho cho tới khi chúng khô cứng ngỏng những cái đuôi lên. Anh nhớ màu xanh những vườn cải quê nhà, màu hoa cải vàng trổ lúc sang xuân, nhớ âm điệu những câu hát cũ những câu hát anh chẳng nhớ nhưng âm điệu của chúng vờn lượn trong óc não anh như mây khói phiêu bồng. Anh nhớ ráng đỏ hoàng hôn vạch lên chân trời quê hương thứ ánh đỏ diệu kì thứ ánh sáng nhuộm tất thảy các gương mặt một màu hồng như phủ phấn... Sao cũng trời đất, cũng núi rừng mà anh chưa từng thấy ở Bản Kheo một lần thứ ánh sáng huyền nhiệm ấy?
Khi trí nhớ dày vò, cuộc sống hiện tại bỗng nhàm chán không chịu nổi. Vị cơm nếp chấm muối thật khó nuốt. Gương mặt nàng Thoọng không còn là gương mặt đàn bà mà chỉ như thứ vật vô tri một bức vách, một hòn đá, một tấm lanh may nệm... Cảm giác đó đeo đuổi anh qua nhiều đêm. Trong những đêm đó, người vợ câm điếc vẫn chồm tới dầy vò ngửi hít anh, như lợn rừng. Chị làm đủ thứ trò nhưng anh chẳng mảy may hứng tình. Lòng nhân đạo của anh đã cạn kiệt và cảm giác ăn năn không còn khiến anh cố gắng hoàn thành được sứ mạng kẻ làm chồng. Hoặc anh nằm thẳng đưỡn như khúc gỗ, hoặc anh hất tay chị ra một cách thô bạo rồi quay mặt vào bức vách giả đò ngủ. Nàng Thoọng thút thít khóc. Đôi lúc cơn động lòng khiến anh hồi tâm quay lại vỗ về người đàn bà. Nhưng những cơn hồi tâm ít dần đi. Bởi anh không thể... Anh ghê sợ da thịt mốc méo của nàng Thoọng, màu da đó gợi cho anh loài trăn loài rắn hay giống kỳ đà. Gương mặt nàng Thoọng to và vuông như mặt gã đàn ông thứ thiệt, quai hàm lớn bạnh ra hai bên những chiếc răng dài và vuông như răng ngựa khiến anh vừa ngán vừa ghê sợ... Sau những phút giây khốn khổ ấy, anh chợt hiểu rằng nguồn cơn nỗi sầu thương dày vò trái tim anh là Miên, là da thịt trắng ngần của chị, mái tóc đen óng ả như suối chảy và làn môi hồng tươi thắm của chị. Đó là một đền đài không thời gian hay sự xa cách nào làm tan lở. Chính Miên. Phía sau mùi vị những món ăn quen thuộc, sau những vườn cải hoa vàng những giải mây huyền nhiệm, những âm điệu xa vời là người đàn bà anh không ngừng tơ tưởng, người vợ xinh đẹp nơi quê nhà...
Những đêm dằn vặt, những ngày khắc khoải. Nhưng thời gian cứ trôi. Hết mưa tới nắng. Cuộc sống cuốn đi, anh vẫn cùng người vợ Lào lên nương trỉa bắp, cắt lúa, vẫn cùng anh trai cô vào rừng kiếm mật ong, săn thú, bẫy khỉ, vẫn tham dự những ngày lễ hội với dân Bản Kheo nói với họ thứ ngôn ngữ anh vừa học được chút đỉnh và rồi vào những đêm đen, khi hơi rượu ngấm, khi bóng tối mịt mùng thả sương lạnh vào mắt anh, nỗi buồn hoang hoải khiến tim anh như rạn nứt, anh đành tiếp tục uống cho tới khi toàn thân nóng hực và đầu óc quay cuồng lảo đảo, anh bò lên bụng nàng Thoọng, làm tình như một con vật đực phủ con vật cái, không ve vuốt, không nụ hôn... Năm tháng cứ thế trôi. Trong khoảng thời gian ấy vầng trăng bạc vẫn hiện lên nơi hai cánh núi đan chéo nhau, hình ảnh đó vẫy gọi anh. Tuần trăng nào anh cũng ra ngồi đầu sàn từ lúc trăng mọc tới khi gà gáy canh như kẻ bị bùa. Vào những đêm ấy nàng Thoọng cô lẻ. Dần dà chị ý thức được kẻ địch tình của mình chính là cái khuôn bạc tròn dãi sáng lên núi rừng, nương bản. Chị uống rượu một mình, đi ngủ sớm. Như loài gấu trú đông, người vợ câm điếc ngủ trốn tuần trăng để chờ đợi những đêm tối trời, chờ đợi khoảnh khắc may mắn người chồng dị xứ tìm đến với chị chia sẻ thân xác trong mùi rượu nồng nặc và trong những tiếng nói rời rạc phát ra mà chị chẳng bao giờ nghe được và hiểu được. Chị chấp nhận tình cảnh của mình, chịu đựng những cơn cáu bẳn bất thường của anh và bắt đầu mơ tới một đứa con. Nhiều lần chị kéo tay anh đặt lên bụng, làm dấu hiệu để anh biết rằng chị đang chờ ngày cái bụng nở to ra, phồng như một trái bí đỏ...
Tội nghiệp cô ấy... Chẳng biết khi ra đi, ta đã để lại cho cô ấy được một hạt giống hay chưa?
Bởi cuộc ra đi của anh thực sự là cuộc chạy trốn. Vào một ngày bất chợt, Bôn bắt gặp đơn vị trực thuộc quân đoàn cũ khi đơn vị này đang trên đường hành quân. Bôn không giấu nổi niềm vui. Anh chuẩn bị cho cuộc ra đi tức khắc nhưng không dè nàng Thoọng biết. Chị báo tin cho gia đình người anh và dân bản. Chị khóc lóc, gào thét, phủ phục trước mặt anh và bằng tất cả thứ ngôn ngữ của kẻ câm điếc chị bày tỏ tình yêu của chị, sự cầu xin của chị. Chị bấu chặt lấy anh bất kể lúc nào, canh chừng anh ngày này qua ngày khác và chỉ ngủ gục đi khi gia đình người anh hoặc dân bản tới luân phiên. Gia đình người anh cũng rối loạn, bỏ bê công việc, nấu nướng vội vã, ăn uống vội vã thay phiên nhau canh gác Bôn. Dân Bản Kheo cũng cắt gác lần lượt để canh giữ niềm hạnh phúc chính họ đã vun vén tạo dựng. Cho dù vậy, cuối cùng anh cũng trốn thoát. Anh lẻn đi một đêm tối trời, khi người vợ Lào xuống vườn đi tiểu. Lúc đó, hẳn chị tưởng anh đã ngủ say. Nhưng anh đi ngay sau lưng chị, êm nhẹ như mèo, và khi chị ngồi xuống anh lần ra cổng. Anh đi suốt đêm ấy, ngày hôm sau và đêm sau nữa, không dám ngưng nghỉ, tai dỏng lên chờ nghe tiếng chân rượt đuổi phía sau. Nhưng trời giúp anh tìm được đường về: Giờ đây, nhớ lại đoạn đường ấy, Bôn không khỏi chua chát:
Giá như ngày ấy ta không trốn thoát khỏi Bản Kheo, tiếp tục sống với nàng Thoọng, tiếp tục trỉa bắp, gieo nếp, vắt sữa kiếm mật ong và đêm đêm làm tình với người vợ Lào, cuộc sống sẽ ra sao nhỉ? Chắc gì nó thua kém cuộc sống giờ đây?
Phải, ngày ấy nếu không rời Bản Kheo anh sẽ tiếp tục sống cuộc sống êm ả như con hồ lặng gió. Người vợ Lào si mê anh, nấu nước cỏ thơm cho anh tắm, nài khẩn anh làm tình, cọ lưng cho anh cắt tóc cho anh... Anh là ông hoàng của chị.
Nhưng trái tim đau đáu của anh đã không ngừng nhỏ máu. Tâm hồn anh không ngừng khắc khoải và đêm đêm nhìn vầng trăng hiện lên giữa hai cánh núi anh cảm thấy không thể nào không quay về xứ cũ. Vầng trăng long lanh ấy là Miên. Tình yêu cho anh đủ can đảm để chịu tiếp một hành trình gian nan hơn hết thảy những gian nan anh đã chịu. Khi Bôn tìm được tới nơi đơn vị tạm trú, họ đã lên đường đi Khơ-me được ba tuần. Anh chẳng còn cách nào hơn là cắm đầu đuổi theo. Một cuộc đuổi bắt hú họa như tìm ma, điên rồ hơn mọi sự điên rồ. Trong ba tuần lễ, nào ai biết được một đội quân đi được bao nhiêu đường đất, chuyển hướng rẽ bao nhiêu lần? Trong túi anh chẳng một vật phòng thân ngoài chiếc bật lửa và con dao rừng, hai bộ quần áo mặc đụp trên người, ban ngày quá nóng ban đêm lại quá rét. Rừng chờ đợi anh với màu xanh u mê ngạo nghễ, màu xanh hiểm độc khiến anh khiếp hãi. Chẳng có gì đảm bảo rằng anh sẽ không chết đói chết khát, chết vì lính Khờ-me, sẽ làm mồi cho thú dữ hoặc những con kền kền. Nhưng vầng trăng trên khoảng trời tím biếc kia như lời kêu gọi thầm lặng, huyền bí, vọng những âm vọng mãnh liệt khiến anh không chùn bước. Đứng trước cửa rừng, anh nhổ một bãi nước bọt thề với chính anh rằng sẽ đuổi cho kỳ được đơn vị và tìm lối trở về đất nước. Một lần nữa, anh lại quăng thân vào rừng xanh. Bôn đã đi ba tháng liền theo lối đi bò của dân miền núi, vừa đi vừa kiếm miếng độ nhật, vừa đi vừa dò hỏi. Những năm ở Bản Kheo anh đã học được cách sở hữu rừng và anh đã có một sức khỏe khá vững để đối phó với đói khát, muỗi vắt lẫn những gian nan bộ hành. Cuộc đuổi bắt điên rồ ấy, sau chót cũng thành công. Anh đã tìm được đơn vị anh hùng, cùng phiên hiệu nhưng toàn lính mới sĩ quan mới. Họ giúp anh trở về ban tham mưu quân đoàn, làm các thủ tục điều tra để xác nhận quân nhân mất tích. Anh phải đi vòng vèo nhiều đợt nữa, chờ đợi, luân chuyển từ nơi này qua nơi khác, chầu chực ở các phòng giấy, ngồi mòn đũng quần ở các hành lang và trong suốt khoảng thời gian đó, sống bằng những bữa cơm trợ cấp cho lính lạc, thèm một điếu thuốc cũng chẳng bới được tiền mua. Sau cùng, anh cũng hoàn tất được mọi thủ tục và trở về Xóm Núi, tìm được vầng trăng ước mộng của anh:
Giá như ngày ấy ta yên tâm với cuộc sống an nhàn nơi Bản Kheo có lẽ giờ đây ta vẫn có một người đàn bà si mê thờ phụng... Chưa biết chừng ta còn có con với nàng Thoọng dù cô ta câm điếc. Đó là một người khỏe mạnh chất phác... Giá như...
Bôn cay đắng nghĩ, dù anh biết chữ Giá như kia chẳng bao giờ có được.



Chương 18


Những người bạn buôn thường cư xử với nhau theo kiểu lập lờ. Dường như trong thứ nghề lấy lời lãi làm mục đích khó tồn tại một tình cảm thực sự. Điều này Hoan biết từ lâu. Nhưng cũng có lần, Căng đã khiến anh cảm động. Một sáng, hai người rủ nhau tới tiệm vằn thắn của ông già Quảng Đông, hiệu nổi tiếng nhất thành phố vì thứ nước dùng trong vắt ngọt mùi xương bò ninh lẫn hải sản. Gia vị nêm tuyệt khéo, còn mì sợi nấu chín vừa độ đến mức sau khi đã ăn vằn thắn ở cửa hàng của ông tất thảy các thứ vằn thắn khác chỉ được coi như thứ ăn đỡ lòng hoặc dành cho khách vãng lai và những kẻ phàm phu tục tử. Hoan gọi hai tô vằn thắn lớn với đĩa quẩy. Anh thích ăn quẩy ròn kèm vằn thắn, phở hoặc những món đồ ăn nhiều nước khác. Một tô hỉu tíu mà thiếu vài chiếc quẩy làm bằng bộ nhẹ chiên ròn thơm là món ăn chưa hoàn thiện.
Người hầu bàn bưng khay vằn thắn ra, Căng hỏi:
- Anh đãi tôi hay tôi đãi anh đây?
- Tôi.
- Anh hào phóng quá... Tiêu như anh lẽ ra phải bại sản nhưng trời phù... Lão trời già đểu thật, lần nào đi ngang qua chùa tôi cũng thắp hương cầu khấn năm bảy lượt. Quanh năm tôi xoay như đèn cù vậy mà cũng chẳng phất lên được.
Hoan bật cười:
- Bởi vì Trời Phật có mắt... anh vừa khấn xong hôm sau chưa thấy lộc đã quay cổ chửi thì Trời Phật thánh thần nào dung thứ...
Căng cũng bật cười theo:
- Tại tính tôi sốt ruột, chẳng kiên nhẫn được như người khác... Ở nhà anh có cúng không?
- Nhà chúng tôi cúng tổ tiên, đúng theo luật lệ của người Việt cổ. Nhưng cũng có bàn thờ Phật đặt trên gác thượng. Hai bà chị tôi chăm lo việc ấy.
Người hầu bàn đặt tiếp trước mặt họ đĩa quẩy. Hai người lặng lẽ ăn không nói gì thêm nữa. Rồi sau khi no nê, mãn nguyện họ châm thuốc lá.
Căng bảo:
- Làm chầu cà-phê chứ? Lần này tôi đãi anh.
Hoan đáp:
- Chẳng cần. Tôi bao luôn chầu này.
Anh trả tiền rồi hai người vượt qua lòng đường sang quán cà-phê ở dãy phố bên kia. Lúc họ bước vào, một người khách vén màn đi ra chút nữa va đầu vào Hoan. Anh nhận ra gã bán thuốc lá lẻ, chủ lầu xanh quen thuộc của họ. Gã cũng nhận ra anh, những múi thịt chen chúc hai bên cánh mũi nhúc nhích nhưng cặp mắt gấu lạnh như băng. Không ai chào ai. Căng chun môi huýt sáo, điệu sai lạc nghe như chọc vào lỗ tai, nhưng anh ta đang phởn chí không thể ngừng lại cơn phấn khởi bất thần.
- Hai cà-phê đen nóng.
Căng gọi rồi ngả người tựa lưng vào ghế, bắt chéo đôi chân đong đưa vừa nhìn ra đường. Hoan chợt đưa mắt tò mò nhìn người đối diện, anh không hiểu Căng đang nghĩ gì. Trên gương mặt cứng đuỗn như tạc bằng gỗ đẽo đôi mắt ráo hoảnh đang cắm vào một con mồi nào đấy trong không gian, cặp môi mím lại chi chít vết rạn như môi người già, chiếc mũi dài có đường rãnh chạy hằn chia đôi chóp. Không nén được, Hoan lên tiếng:
- Anh nghĩ gì vậy?
Căng quay lại, cặp mày nhướng lên đầy vẻ ngạc nhiên:
- Thế anh nghĩ gì? Những thằng lái buôn như chúng ta đây chỉ nghĩ chuyện buôn bán lời lãi chứ còn chuyện gì khác?
Hoan thở dài:
- Anh nói đúng... Nhưng lúc này tôi đang nghĩ đến một chuyện chẳng liên quan gì tới việc làm ăn.
Lại đến lượt Căng tò mò. Quay hẳn người lại phía Hoan, anh ta hếch mặt hong hóng nhìn:
- Chuyện gì ghê gớm vậy?
Hoan nói:
- Từ lúc gặp tay chủ nhà chứa, tôi nhớ lại đêm chúng ta chạy trốn chui qua gầm cầu thang hàng xóm, rồi núp trong kho cá mắm chuột chạy lạo xạo qua chân... Thú thực, tôi vẫn còn sợ...
Căng cười ngất:
- Có thế mà anh phải nghĩ sao? Đúng là công tử thứ thiệt... Nhưng tôi phải uống cà-phê đã, sau khi ăn một bát vằn thắn tú ụ nếu không có cà-phê tôi sẽ ngủ gục...
Nói xong anh ta cúi xuống uống cà-phê chem chép như mấy bà già húp chè. Hoan cũng nhấc tách cà-phê lên môi nhưng nỗi băn khoăn vẫn bám vào óc não anh.
Cách đây non một tuần, Căng rủ anh đi làm cái việc mà anh ta vẫn gọi là: Đại tiện trong chuồng xí công cộng. Họ đã chia sẻ cái nhu cầu thường trực này từ lâu trong căn buồng bẩn thỉu nơi ngoại ô, bao giờ anh cũng ở phía bên phải và Căng bên trái, giữa họ là tấm màn đỏ ngăn cách. Bao giờ Căng cũng là người dẫn đường, chỉ huy mọi hành động còn anh là kẻ chi tiền. Đêm hôm đó, họ vừa nhập cuộc bỗng chuông rung rổn rảng nơi cầu thang. Cô điếm đang nằm dưới Hoan vùng dậy tức khắc và dù nhỏ bé cô ta cũng đẩy anh ngã chổng vó trên giường:
- Cá... cá...
Cô kêu. Ngay lúc đó bên kia bức màn, Căng lên tiếng:
- Mặc quần áo thật nhanh. Chúng ta chỉ có ba phút. Chậm một ly là hỏng chuyện.
Hoan lớ quớ. Cô điếm thấy vậy phải giúp anh tìm quần áo trong cái đống lộn xộn dưới chân giường:
- Áo anh đây, mặc vào trước... Này, quần lót. Mau lên...
Cô vừa đưa từng thứ cho Hoan vừa mặc quần áo cho mình nhanh như máy. Lúc Hoan gài xong nút áo, Căng chạy sang:
- Theo tôi.
Từ lúc ấy Hoan chỉ biết việc duy nhất là bám theo sau lưng anh ta. Họ tụt xuống cây cầu thang gập ghềnh ẻo lả mà mỗi bậc thang đều vặn vẹo nghiến trèo trẹo dưới bước chân anh. Đã thế, ánh sáng từ ngọn đèn trên gác hắt xuống quá mờ khiến mấy lần anh suýt ngã. Khi họ tụt xuống bậc thang cuối cùng, Căng giơ tay ngoắc:
- Rẽ lối này.
Lập tức anh ta biến sau bức tường bên trái. Hoan lao theo. Họ vượt qua mảnh sân hẹp, chui qua cây cầu thang nhà bên cạnh, một cây cầu thang còn tối tăm hơn cây cầu thang nhà chứa, màng nhện bụi bặm tướp vào mặt họ, gián bay vù vù trong bóng tối lao vào trán họ. Hai người chạy qua nhiều ngóc ngách ngoằn ngoèo tới một căn nhà nhỏ cửa sơn hắc ín. Căng mò mẫm tìm chốt mở rồi một tay kéo cánh cửa, tay kia ấn Hoan vào trong. Căn buồng tối om không nhìn thấy vật gì nhưng ngay tức khắc mùi cá mắm lưu cữu thối khẳm đập vào mũi Hoan và anh biết mình đang ở nơi đâu. Căng gài xong chốt cửa, lần mò tới bên anh:
- Đừng sợ. Rồi sẽ quen thôi.
Hoan không đáp. Tim anh vẫn đập mạnh. Anh thấy mình chông chênh như đi qua sợi dây căng trên vực thẳm. Anh không hiểu vì sao mình bỗng dưng hành động như một thằng ăn trộm, một kẻ buôn hàng lậu hay một gã sát nhân bị truy nã. Sợ hãi, đã đành. Nhưng phía sau sự sợ hãi ấy còn có một sự sợ hãi khác mãnh liệt hơn:
Trời đất ơi, nếu cha ta còn sống và phải chứng kiến hành vi này ông sẽ nói sao? Có lẽ chẳng bao giờ ông tưởng tượng được đứa con trai duy nhất của ông lại rơi vào cảnh huống nhơ nhuốc ấy...
Chuột chạy roàn roạt trên các bao cá chất quanh nhảy phóc qua vai họ, chui vọt giữa hai bắp đùi họ. Mùi cá mắm nồng nặc đến chóng mặt. Hoan như thấy hơi thở chính anh bắt đầu nhiễm thứ mùi ghê tởm đó. Chừng như đoán được ý nghĩ của anh, Căng ghé tai anh thì thầm:
- Chịu khó một tí... Chừng nửa giờ nữa thôi, mọi sự đâu vào đấy.
Nói xong anh ta mò mẫm ra cửa, áp tai nghe ngóng. Hoan vẫn đứng nguyên chỗ cũ, mắt nhắm nghiền chịu đựng nỗi thống khổ không thể dãi bầy với ai. Cha anh đã chết, nhưng vong hồn ông còn vương vấn trên cõi đời. Rất có thể vong hồn đó lẽo đẽo theo anh, lẽo đẽo chứng kiến những khoảng khắc nhục nhã này và sẽ phải cất tiếng thở dài chua xót...
- Ngon... Ngon thật...
Căng há miệng thật to thở một hơi dài, điệu bộ thưởng thức một tách cà-phê có gì thái quá và lố bịch. Hoan yên lặng. Anh vẫn tiếp tục hút thuốc:
Có lẽ Căng không có một người cha như cha ta, anh ta tự do làm mọi chuyện mà chẳng cần ăn năn. Và có lẽ anh ta sung sướng vì không mặc cảm. Bước từ dưới bùn lên, giờ đây anh ta khá giàu so với bà con cô bác, đủ sức cưu mang đùm bọc họ. Và như thế, toàn bộ ý nghĩa đời sống lẫn đạo đức của Căng đã được định vị chu toàn. Anh ta không cần suy nghĩ lại...
Hoan nghĩ vậy. Nhưng anh vẫn không tin con người lại thiếu hụt cảm giác hổ thẹn hay ăn năn. Anh lên tiếng:
- Này anh. Tôi có một câu hỏi.
- Gì cơ?
- Buổi tối hôm nọ, khi chúng ta đứng trong căn buồng chứa mắm cá, anh có cảm tưởng gì?
- Chẳng có cảm tưởng gì hết. Tôi nghe ngóng tình hình để thoát ra. Ăn cá mắm thì được nhưng rúc vào đó ngửi chắc không ai muốn.
- Anh đã chạy trốn công an như thế nhiều lần?
- Nhiều. Kho mắm ấy là chỗ trú an toàn nhất. Bọn cá chẳng đoán ra.
- Chẳng lẽ anh không thấy rằng chúng ta chui lủi như quân trộm cắp hay lũ sát nhân hay sao?
- Tôi không ăn cắp cũng chẳng giết người. Tôi chạy vì nhà nước không cho phép chơi điếm. Mà cái con củ của tôi không cần phép tắc cứ đúng kỳ đúng hạn nó ngỏng lên kêu oai oái. Vì thế tôi chẳng nghĩ ngợi nhiều.
- Nhưng nếu họ bắt được chúng ta, và họ tống giam chúng ta cùng với lũ lưu manh trộm cắp? Liệu anh có lường đến chuyện đó chăng?
- Nếu cứ lường tất mọi sự thì rút cuộc sẽ chẳng dám làm điều gì. Trong đời tôi, tôi chỉ bỏ sức tính toán, đo lường việc làm ăn thôi.
Nói rồi Căng châm điếu thuốc khác và quay lại nhìn mặt Hoan với cái nhìn chăm chú:
- Vậy ra anh cũng khổ... Trước đây tôi cứ ngỡ người làm ăn nhẹ vía lại được trời phù như anh hẳn chỉ biết sung sướng... Hóa ra không phải vậy. Đi chơi điếm mà nghĩ ngợi nhiều đến thế thì khổ thật...
Trong ánh mắt Căng có cả ngạc nhiên lẫn niềm thương xót. Lần đầu, Hoan thấy đôi mắt Căng giống mắt con người mà không phải là tia phản chiếu đơn thuần của những mưu toan, của cỗ máy kiếm tiền, và điều đó khiến anh cảm động. Nhưng cơn xúc động của anh chẳng kéo dài được lâu, vì chỉ nửa phút sau, Căng đã ném mẫu thuốc còn lại vào chiếc gạt tàn:
- Thôi tôi đi... Anh trả nốt chầu cà-phê nhé... Ông chủ lớn nhất sáu tỉnh miền Trung...
Căng chạo chợt cười. Lúc đó, mắt anh ta lại loáng lên thứ ánh sáng lạnh như thép, cặp đồng tử lác xệch và gương mặt anh ta hồi nguyên một khối thịt trơ trẽn vô cảm.
Hoan nhìn tấm lưng gã đàn ông khuất sau tấm mành trúc, nhìn khói bốc lên từ mẫu thuốc lá còn sót trong bình gạt tàn, tất thảy dấu vết của một con người, kẻ từng đứng sát bên anh trong căn buồng chứa cá mắm, từng đưa tay cho anh trong bóng tối những ngõ ngách những góc sân những lối đi ngoắt ngoéo nơi khu nhà ngoại ô, bỗng dưng anh lạnh lùng hoang hoải. Những sợi khói bốc lên từ bình gạt tàn kia chỉ là những sợi khói thuốc thôi. Và cái kẻ nhìn anh trong nửa giây bằng cái nhìn cảm thông ấm áp của con người chỉ là một đồng minh bất đắc dĩ, chỉ cần anh hở mánh là gã sẽ xô anh xuống vực, chỉ cần thần rủi ro sờ tới gáy anh là gã sẽ tức khắc cướp những đồng tiền trong túi anh bỏ vào túi gã... Xưa nay, anh vẫn biết vậy nhưng vẫn chẳng muốn tin như vậy. Sáng nay đây anh mới hiểu anh thật sự chơ vơ côi cút nhường nào. Anh sống trong một thế giới anh không tin cậy, giống con rái cá tinh khôn lúc lủi, luồn lách trong các bụi rậm một cách thành thục nhưng vẫn tơ tưởng đến làn nước. Anh, gã lái buôn dung chứa một trái tim học trò lẫn ước mộng của thi sĩ chưa thành.
Mảnh đất này chẳng phải của ta. Ở đây, ta chỉ là con mồi hoặc cừu địch của những kẻ khác. Ngoại trừ chị Châu và chị Nền, ta chẳng có ai thân thuộc. Và chẳng thể đặt lòng tin vào ai, dù có nhẫn nại kiếm tìm và thử thách tới trăm lần...
Anh tiếp tục hút thuốc và nhả khói, phun từng luồng lên cao thả chúng thành những vòng tròn liên tục hay khép nhỏ khuôn miệng để khói thuốc cuộn thành vòng vèo như vân gỗ. Anh nhìn đám khói, cố tìm trong đó một hình dạng một đường nét một thứ phác đồ có thể gợi mở phần tối tăm của đời sống, có thể anh đi qua cái hành lang bưng bít tối tăm giữa con người với con người. Từ khi trở lại thành phố, bắt tay vào việc chấn hưng cửa hàng và mở các mối làm ăn lớn, đã vài lần Hoan kết bạn với đám người cùng nghề. Lần nào anh cũng vướng bẫy. Nếu không phải cuộc mua tranh bán cướp, cuộc tỉ thí quyết liệt bằng mọi thủ đoạn để anh phải chìm xuống, hoặc sự hãm hại có mưu mô tỉ mỉ thì cũng là chuyện móc máy gièm pha, đơn điều đặt chuyện... Nhưng lần nào Hoan cũng thoát hiểm vào phút chót nhờ may mắn bất chợt hoặc sự xui khiến của linh tính. Anh đoan chắc là người thắng phanh cỗ xe của anh cho nó khỏi lao xuống vực, rọi ánh sáng vào trái tim mê mụ hay đầu óc nông nỗi của anh, tính cho anh những nước cờ siêu việt khiến anh có thể chuyển bại thành thắng và buộc các cừu địch phải ngã đòn... người đó, chẳng ai khác ngoài cái linh hồn mảnh dẻ và kiêu hãnh của người cha đã khuất. Hoan biết người đàn ông dịu dàng cương cường đó vẫn luôn theo anh, hằng che chở anh trên mọi đường mọi ngã và cái bóng dáng mảnh dẻ uy nghiêm của ông vẫm trùm lên cuộc sống của anh. Dường như vong linh ông giáo không ngừng xót thương đứa con trai duy nhất nên không thể đi về miền cực lạc. Đối với ông, gã đàn ông nặng tám mươi cân kia vẫn chỉ là một thằng bé ngây thơ, tồ tệch, một tiểu thiên thần trong trắng luôn có nguy cơ bị người đời xô vào bẫy mỗi khi nó đặt chân lên đường. Mọi bài học cay đắng đều được lưu giữ trong Hoan, tạo cho anh một bản năng thứ hai, một trí thông minh thuần túy dựa vào linh tính, một khả năng toan tính và quyết đoán nhẹ bổng như cánh hạc, mau lẹ và dễ dàng như tất thảy đều được ghi sẵn trong một thứ cẩm nang của quỷ thần trao tặng. Cái bản năng thứ hai đó hướng dẫn anh trong công việc cũng như giao tiếp, anh trở thành kẻ bất khả xâm phạm trong giới kinh doanh, mọi mũi tên từ đám người cạnh tranh cho đến lũ quan trường trong ngành tài chính nhằm đến anh đều trượt ra ngoài. Về hình thức, anh giống như một cậu ấm to xác với dáng vóc khổng lồ, quần áo sạch sẽ tinh tươm. Đôi khi anh có vẻ như gã phong tình với cặp mắt dịu dàng, tia nhìn êm mượt như nhung. Nhưng mỗi cử chỉ nhẹ nhàng đều ẩn chứa sự khôn ngoan dè dặt, mỗi tiếng cười khẽ khàng hoặc một câu nói nhã nhặn có thể dẫn đến những quyết định dứt khoát và bạo liệt đến những đối thủ có sỏi đầu phải toát mồ hôi. Tuy nhiên, vào khoảnh khắc anh ném ra một đòn trí mạng với những kẻ cạnh tranh, thi hành một thủ đoạn làm ăn khiến từng đám chủ buôn khác rụng như sung chín trái tim lại cất tiếng rên đau đớn:
Chẳng lẽ con người buộc phải sát hại nhau theo kiểu đó hay sao? Chẳng lẽ cuộc đời buồn tẻ thế sao?
Chính anh, anh cũng tự ngờ vực mình. Một kẻ ngụy quân tử hay một con thú lạc chuồng? Anh sống và ứng xử như một thương gia lọc lõi trong khi tâm hồn anh run rẩy, hồ nghi. Anh thèm muốn một vùng trời khác bên ngoài vùng trời anh hít thở. Phải chăng đó là căn bệnh mãn tính của chàng trai năm xưa? Cuộc hành trình lỡ dở vẫn còn nguyên và mỗi bận tiếng còi tàu hú trên sân ga tâm hồn khắc khoải lại nhói đau luyến tiếc? Hoặc tâm tính anh là khiếm khuyết khó tránh khỏi của đứa con cưng lớn lên trong đời sống an bình, nơi tình yêu tạo nên thứ sương mù bí ẩn vĩnh hằng khiến ánh nắng gay gắt của cuộc đời thực tại không xuyên thấu? Hoan không hiểu rõ. Nhưng anh biết cậu học trò trong anh luôn tìm cơ hội để thử lại nghiệm số phương trình. Và việc đó xảy ra lần cuối cùng với cô gái điếm gày có đôi mắt tô vẽ...
Một vài lần, Căng bảo anh:
- Cuộc chơi nào cũng có luật. Tiền chi trả món lót dạ trên giường không được quá ba tờ bạc lẻ, anh chớ nên quên.
Nhưng món tiền Hoan cho cô điếm lần đầu và những lần sau đều lớn gấp mười lần mức quy định. Anh luôn có tâm lý mắc nợ người đàn bà yếu ớt rạc rài đó, và khi trả cô ta một món tiền lớn, nỗi băn khoăn của anh nguôi dịu đi. Điều đó thành lệ. Cô điếm không còn sững sờ như lần đầu và lần hồi cô tìm cách nài nỉ anh thêm. Hoan thoáng nghi ngại nhưng không dám thú nhận với Căng. Một buổi tối vui thú bình thường nơi ngõ hẹp, hai người đợi gã bán thuốc lá. Họ uống nước trà trước mẹt hàng của người đàn bà có cái tên mĩ miều Thu Cúc. Chị ta vẫn trùm tấm khăn hoa sặc sỡ và ngồi nhìn cây đèn dầu muội ám. Lần ấy, gã bán hàng chẳng bắt họ chờ lâu. Chưa uống cạn chén trà, cây đèn dầu đã trượt đi trượt lại ba lần trên mặt tủ thuốc lá.
- Đi thôi.
Căng bảo. Cả hai đứng lên. Người đàn bà chợt cất tiếng cười khàn:
- Làm gì vội thế?
Chị ta ném cái nhìn sắc lẻm về phía họ rồi tiếp tục buông lời:
- Con lừa nào bước vội cũng sa hố... Có muốn nhai mực nướng hay không?
Đó là lần đầu chị cất tiếng mời họ. Căng chưng hửng nhìn chị ta rồi đưa mắt nhìn Hoan. Anh cũng chẳng biết gì hơn gã nên đứng im. Lát sau, Căng bối rối nhếch môi cười:
- Hôm nay cóc mở miệng, ngày mai trời ắt bão.
Đoạn Căng đưa cho chị ta tờ bạc lẻ:
- Tụi tôi đi đây.
Người đàn bà không nói gì thêm cũng không thu dọn đồ lề bưng theo họ như thường lệ, lúc Căng và Hoan tới quầy bán thuốc lá vẫn thấy chị ta ngồi im như tượng sau mẹt hàng. Đốm lửa tí xíu của cây đèn dầu khiến phố xá càng thêm tăm tối.
Gã đàn ông mặt bự nói với họ:
- Hôm nay sớm hơn thường lệ... Cá đổi giờ thay ca...
Căng hỏi:
- Vẫn chỗ đó?
Gã gật đầu:
- Phải. Chưa tới kì chạy rong. Các ông đi đi. Thuộc đường rồi chứ?
Căng gật.
- Thuộc rồi.
Hoan đi theo Căng, không còn quá khổ sở vì những lối đi tối mò ngoắt ngoéo như buổi ban đầu. Lạc thú đã dạy anh khôn ngoan và dày dạn, buộc anh làm quen với thứ ánh sáng mới, với những mùi vị mới. Giờ đây, Căng không còn phải đưa tay cho anh khi leo lên cây cầu thang oặt oẹo dưới ánh điện mờ đục như ánh đèn thắp nơi nhà mồ. Anh cũng không còn quá hồi hộp hay ghê sợ. Căn buồng bẩn thỉu lẫn tấm màn đỏ dơ dáy không còn khiến anh ghê tởm cũng như những tiếng động dục tình dội từ bên kia bức màn sang cũng không còn khiến anh hổ thẹn như buổi đầu. Hoan thấy anh quen với hoàn cảnh hiện tại và điều đó nhiều lần khiến anh kinh hoảng. Đêm ấy họ thỏa thuận với gã chủ lầu xanh Đi tàu suốt. Cuộc phóng xả dục tình thứ nhất diễn ra khoảng chín giờ. Sau đó, Căng lên tiếng:
- Làm một ly chứ? Tôi cất sẵn ở đây chai Nhất dạ Lục giao với mấy túi bò khô.
Hoan bảo:
- Tùy anh.
Căng nói:
- Mặc quần áo vào đi. Tôi sẽ sang bên anh.
Năm phút sau Căng xách chai rượu với mấy gói bò khô nướng sẵn, thứ đồ nhậu dễ kiếm nhất cho đám đệ tử lưu linh. Hoan và Căng ngồi ngay trên giường uống rượu còn cô điếm cuộn tròn trong tấm chăn mỏng lùi vào góc giường trùm kín không rõ ngủ hay thức. Hai người vừa uống rượu vừa tán gẫu khoảng hơn một giờ đồng hồ rồi Căng hỏi:
- Anh muốn ngủ chút không?
- Không.
- Cũng phải. Mai ta có thời gian ngủ bù... Giờ đã hơn mười giờ rưỡi. Nhà thờ sắp điểm chuông.
Anh ta thu dọn mấy gói đồ ăn dở vào túi đoạn xách chai rượu đứng lên:
- Này...
Hoan ngẩng lên:
- Gì cơ?
Căng hỏi:
- Anh có hay nghe chuông nhà thờ không?
- Có.
Hoan đáp.
Căng im lặng vài giây rồi buông tiếng thở dài:
- Tôi chẳng phải dân theo Chúa... Vậy mà cứ mỗi lần nghe chuông nhà thờ tôi lại nhớ mẹ tôi... Nhất là tiếng chuông lúc nửa đêm.
Nói xong, anh ta sang buồng bên.
Hoan chưa bao giờ nghe Căng nói loại chuyện này nên vô cùng ngạc nhiên. Nhưng nỗi băn khoăn qua đi rất nhanh và nhu cầu thỏa mãn dục tình cuốn anh sang cõi khác. Anh lay cô điếm dậy để vào cuộc mới. Trái với vẻ mau mắn tòng phục mọi ngày, cô ậm ừ rất lâu, vừa như ngái ngủ vừa như khiêu khích trêu chọc anh, cùng một lần cô vừa không chịu thỏa mãn dục tình cho anh vừa kích thích để nó bùng cháy lên. Toàn thân Hoan căng thẳng bức xúc nóng rẫy. Anh gần như phát điên lên nhưng cố trấn áp vì không muốn có hành vi sỗ sàng với người đàn bà nhỏ bé, gầy gò trọng lượng chỉ bằng phân nửa cơ thể anh. Trạng thái ấy kéo dài tới lúc chuông thành phố đổ hồi. Cô điếm chợt giữ hai bàn tay anh lại, dõng cổ lên nghe chuông. Lần đầu cô có cử chỉ lạ lùng ấy. Phải chăng cô đã nghe Căng kể về tiếng chuông kí ức và câu chuyện buồn nào đó vừa được khơi dậy cùng các kỉ niệm đã vùi lấp dưới tro bụi thời gian, phía sau chân trời trầm luân của cõi giang hồ? Hoan thầm ức đoán vào lúc người đàn bà gân cái cổ xanh nhớt nổi đầy gân lên nghe hồi chuông đổ, cặp mắt giấy tô vẽ bất động. Khi hồi chuông ngớt, cô vươn tấm lưng với động tác mềm dẻo của loài rắn, choàng đôi cánh tay qua cổ Hoan vít đầu anh xuống và bằng những thao tác thành thục cô dẫn anh vào cuộc làm tình, tựa như hồi chuông kia là hiệu lệnh bí ẩn khiến cô biết cơn ham muốn của khách chơi đã lên tột đỉnh và đó là giây phút màu nhiệm để cô thực thi nghề nghiệp một cách hoàn hảo...
Vài khoảnh khắc sau, khi Hoan không còn biết đến bất cứ việc gì ngoài những xung lực dục tình cánh cửa buồng chợt bật tung đập một tiếng rầm vào tường. Tiếng động dội vào tai Hoan nhưng anh đang quay trong vòng quay khoái lạc như một con chuột bạch trong lồng thí nghiệm không thể ngừng bước nhảy trong bánh xe vì đã mất đà. Đôi tay cô điếm siết chặt hơn như trói anh lại và Hoan chẳng còn biết tiếng đập cửa rầm rầm kia báo hiệu điều gì. Vài giây sau một luồng sáng chói gắt rọi thẳng vào cô điếm khiến cô ả phải nhắm nghiền cặp mắt. Lúc đó, có tiếng quát:
- Tất cả nằm im.
Cô điếm vụt kêu lên một tiếng khẽ:
- Úi trời...
Giọng đàn ông lạnh lùng lặp lại:
- Tất cả nằm im. Động đậy là tôi bắn.
Hoan đoán kẻ lạ mặt đang đứng cuối chân giường, tay cầm súng, tay kia níu cây cọc gỗ mắc màn. Anh hé mắt. Ánh điện kéo bóng gã đổ trùm xuống giường, nơi cô điếm lẫn anh ở trong tư thế lõa lồ:
- Nằm yên. Ai bỏ chạy tôi bắn tức khắc...
Kẻ lạ mặt nhắc lại lần nữa. Lần này, Hoan nhận ra một chút gượng gạo, một chút thiếu thành thực trong cái giọng oang oang kia. Anh biết mình rơi vào bẫy nhưng chẳng mảy may sợ hãi. Điều duy nhất anh cảm nhận là bộ phận sinh dục của anh đã thay đổi khỏi trạng thái hưng phấn rất nhanh, nguội lạnh rất nhanh, rời bỏ thân thể người đàn bà và nỗi kinh ngạc khiến anh gần như đờ dại:
Lần đầu tiên ta vượt qua cơn căng thẳng mà không cần giải thoát. Cả đầu óc lẫn thân xác đều nguội lạnh trống rỗng. Cơ thể con người có thể thay đổi đường đột một cách lạ lùng...
Kẻ tống tiền lên tiếng lần nữa:
- Tất cả giữ nguyên vị trí... Ai nhúc nhích hoặc bỏ chạy tôi nổ súng...
Lần này, Hoan đã hiểu kẻ tống tiền là ai. Trong thời gian làm nghề buôn, anh đã chạm trán lũ giang hồ, bọn du thủ du thực lẫn đám đâm thuê chém mướn, thứ người anh có thể điều khiển bất cứ lúc nào một cách dễ dàng. Anh thuộc điệu bộ và ngôn ngữ của chúng. Chúng không thể ra một cái lệnh văn vẻ như vậy:
"Giữ nguyên vị trí..." Anh muốn bật cười nhưng đã kịp ghìm lại. Một cảm giác lạnh lùng khinh bỉ tràn ngập. Anh tự ngạc nhiên, tự kính phục mình vì sự bình tĩnh anh đang có. Sự bình tĩnh kèm theo lòng tự tin và ngạo mạn xứng đáng. Còn chút tò mò khiến anh đưa mắt nhìn gương mặt người đàn bà nằm bên dưới. Mắt cô ta cũng hé mở. Trong đôi mắt tô vẽ ấy lóe lên chút lằn trắng, một nửa đồng tử nhờ nhờ không ra đen không ra nâu. Chẳng mảy may sợ hãi.
Một màn kịch. Và người đàn bà này là kẻ a tòng... Ta mang trong ví bao nhiêu tiền nhỉ? Rất nhiều, rất nhiều... A, không. Trước khi đi ta đã giao cho chị Châu ba phần tư số tiền để nhận hàng. Đêm nay tàu Đà Nẵng chở hàng tới. May mắn làm sao...
Hoan nhớ lại phút anh bước khỏi cửa. Chị Châu đang gội đầu tóc ướt rũ rượi chạy theo gọi nhắc anh rằng đêm nay người ta mang hàng tới giao. Anh đã cười, xin lỗi, móc ví đưa cho chị:
Phải, chị ta đã lấy tiền, đã sắp xếp lại giấy tờ rồi đưa trả ví cho ta... Như thế, con khỉ Phi Châu này cùng ổ nhện nơi lầu xanh cũng chẳng may mắn cho lắm...
Ý nghĩ ấy khiến anh có đôi chút vui thú. Giờ, anh có thể quan sát kẻ đứng sau lưng mình nhờ những cử chỉ của y. Thứ quần áo y mặc là đồ dân sự nhưng con người y vẫn toát ra thứ mùi của những kẻ quanh năm suốt tháng mặc sắc phục. Hẳn y cũng đã lột quân hiệu quân hàm. Anh đoan chắc y thuộc loại trai quê mới qua trường đào tạo cảnh sát, được bổ nhiệm một thời gian đủ nếm mùi tiện nghi của cuộc sống thị thành, hẳn y là một trong số những kẻ vẫn lượn lờ trên đường phố dán mắt vào mọi thứ hàng hóa bày trong tủ kính với sự thèm thuồng không che đậy, giấc mơ tột đỉnh của họ là kiếm được một chiếc xe máy, mồi chài được một cô gái trong phố, thực hiện cuộc hôn phối thay đổi hộ tịch để sáng sáng được quyền ăn tô phở hoặc đĩa xôi trước lúc đến nhiệm sở thay vì gậm một bát khoai ngô rồi rong trâu ra ruộng cày như cha ông hàng trăm năm trước.
Không hiểu vì sao, anh bỗng thấy một nỗi buồn nhẹ nhàng len lỏi trong tim. Anh cất giọng ôn tồn:
- Tất cả tiền tôi cất trong ví. Chiếc ví đó ở túi quần dưới chân giường. Hãy lấy hết và đi cho nhanh kẻo đồng sự của anh bắt gặp thì hỏng chuyện.
Con khỉ Phi Châu đứng im, không một tiếng ho he. Hẳn y bối rối. Hoặc y sợ hãi. Giọng bình thản của anh, cuộc chơi ngửa bài quá dễ khiến y nghi ngờ. Hoan thấy đứng im lặng quá lâu, lại bảo:
- Tôi hiểu anh cần gì... Đừng mất thời gian vô ích. Moi lấy tiền rồi đi đi. Nhớ để lại nguyên vẹn giấy tờ và những tấm ảnh của tôi.
Con khỉ Phi Châu bật một tiếng hừm trong họng. Đoạn y dí nòng súng vào lưng Hoan:
- Nằm im. Nếu quay đầu là tôi bắn.
Hoan nói:
- Được thôi. Nhanh tay lên.
Người đàn bà ngọ nguậy bên dưới. Cô ta ngứa một bên đùi nên thò tay xuống gãi. Con khỉ Phi Châu đưa khẩu súng lên cao, tay kia quơ quắng mớ quần áo dưới chân giường. Hoan nghe tiếng y ném từng chiếc quần áo vào góc giường bên trong, tiếng y rút chiếc ví da của anh khỏi túi quần, tiếng sột soạt của giấy tờ khi y lọc lựa giữa các xấp bạc...
Bao nhiêu nhỉ? Lúc nhận tiền hình như chị Châu đã xếp mớ bạc lẻ trong ngăn ví nhỏ... Còn những tờ bạc lớn chị nhét vào ngăn ví lớn có những tấm ảnh của cha...
Hoan suy tính nhưng không nhớ nổi món tiền một cách chính xác. Tuy nhiên, anh biết chị Châu lấy đi ít nhất cũng ba phần tư số tiền để trả cho bạn hàng. Con khỉ Phi Châu đã lấy hết món tiền trong ví. Y nói:
- Anh nằm im. Mười lăm phút nữa mới được dậy.
Và y biến khỏi căn buồng.
- Mười lăm phút thì lâu quá.
Hoan nói vọng theo y đoạn ngồi dậy mặc quần áo trong lúc cô điếm kéo tấm chăn lên đến tận cằm:
- Khiếp, em sợ dựng cả lông tay lông chân. Thế mà anh cứ dửng dưng như không... Đàn ông các anh ghê gớm thật...
Hoan nhìn gương mặt vêu vao, làn môi mỏng nhem nhếch son của người đàn bà, chán ngán đến tận đỉnh óc. Anh lẳng lặng quay lưng.
Xuống thang, anh theo những ngóc ngách đã quen thuộc trở về nhà. Hôm sau, Căng tìm anh từ sớm. Họ cùng đi ăn và uống trà. Có một hiệu trà nổi tiếng gọi là Hồng Hoa, chuyên bán thứ trà xanh sủi bọt uống lẫn mật ong đang được giới làm ăn có máu mặt trong thành phố ưa thích. Hoan muốn thưởng thức thú ẩm thực của người Tàu, một dân tộc sinh ra để buôn bán, có đủ tài năng và mọi phẩm chất cần thiết cho nghề nghiệp ấy. Quán trà Hồng Hoa chật hẹp như đa phần nhà cửa, hàng quán của người Tàu. Chỉ chừng hai chục mét vuông mà có tới mười bàn trà kê thành hai hàng dọc, khách uống ngồi trên những chiếc ghế đẩu mặt tròn lưng người nọ áp sát lưng người kia, mồ hôi thoát ra từ lưng người này có thể thấm sang lưng áo người khác. Một sự thân ái không được phép chối từ. Chiếc quạt lớn trên trần nhà xoay vù vù trong lúc các bình trà sôi sùng sục bên dưới. Uống trà Hồng Hoa tựa như xông nồi hơi khi bị cảm cúm, vừa uống vừa lắng nghe cơ thể nóng lên rừng rực nghe mồ hôi thoát ra khắp lỗ chân lông. Quán ầm ầm như chợ. Người nọ chưa uống xong kẻ kia đã chầu chực đứng chờ. Đám bồi trà chạy từ đầu phòng tới cuối phòng, điệu nghệ như diễn viên xiếc, trên tay họ là những khay nhôm nhỏ đặt lò than hoa đang cháy lẫn bình chế nước, chỉ cần lỡ tay là cả lò than đỏ rực kia có thể đổ xuống vai người xuống cổ bất cứ ai trong đám khách chen chúc đặc căn phòng.
Hoan và Căng phải chờ mười lăm phút mới có bàn trống. Khi họ đã yên vị rồi, Căng lên tiếng hỏi: - Anh thấy dân Tàu có thiện nghệ không?
Hoan gật đầu:
- Có.
Căng nói:
- Thành phố này có tới năm quán trà. Quán nào cũng thênh thang phòng ốc, đủ cảnh trang trí, nhạc tân nhạc cổ vậy mà vẫn vắng tanh. Riêng quán lão Tàu già này từ sáng tới khuya không lúc nào ngớt khách. Ai cũng bảo lão ta có bùa. Thứ bùa đó tựa như bùa yêu. Đặt chúng ở nơi nào, nơi đó thành nam châm hút nhân gian như hút mạt sắt.
- Tôi không mấy tin chuyện bùa bả trong việc làm ăm.
- Vậy anh tin họ được trời phù?
- Họ có thực tài. Trước hết vì họ có kinh nghiệm. Dân tộc Trung Hoa biết buôn bán từ thời thượng cổ. Họ biết đóng thuyền vượt biển, biết giá trị của đồng tiền trong lúc người Việt chúng ta còn suy tôn sự nghèo nàn thanh khiết và khinh bỉ những kẻ kiếm lời bằng con đường mậu dịch chứ không phải nhờ mùa màng hoặc bổng lộc quan chức. Sự lựa chọn từ đầu đã sai. Và người Việt phải trả giá cho sự sai lầm ấy.
- Vì biết rõ sai lầm của đám đông nên anh đã chọn nghề kinh doanh Hèn nào anh thành đạt đến thế.
- Tôi vào nghề này do tình cờ. Trước đây tôi sống một cuộc sống ung dung bằng nghề khác.
- Nghề gì vậy?
Căng dướn đôi mày nhìn anh, buông câu hỏi với vẻ cợt nhạo xen lẫn nghi ngờ. Nhưng bồi trà đã đặt trước mặt họ lò than hoa, bình trà với hai cái chiếc chén. Hoan lặng lẽ cầm bình trà, rót thứ trà sôi sục xuống chiếc chén sành miệng rộng đặt trên chiếc đĩa sành lớn, sù sì da cóc. Trà rót tới đâu, thứ bọt xốp màu vàng rêu nổi bồng lên tới đó, như đám bọt xà-phòng phủ kín miệng chén và tràn xuống chiếc đĩa bên dưới. Hương trà quyện lẫn mùi than hoa cháy đỏ tạo thành thứ mùi hỗn hợp vừa thanh tao vừa nồng nhiệt, vừa thoáng chút núi đồi xa vắng vừa là mùi phố phường chen chúc nơi đám đông vật lộn cạnh tranh giành giật một mảnh mồi. Hoan bưng chén trà lên nhấp. Anh hiểu vì sao thứ trà Hồng Hoa thu hết đám thị dân có máu mặt trong thành phố. Người đô thị khát sống, khát tiền, khát mọi thứ họ chưa có. Họ chẳng thể tách rời mảnh đất chật hẹp họ cư ngụ, bởi họ bị gông cùm vào khoảnh không gian ấy để vật lộn sinh tồn và bán linh hồn cho những ham hố. Dù là ngôi nhà bốn tầng hay gian buồng mười mét vuông thuê tháng hoặc tấm phản đơn đặt vừa đủ cái lưng cũng là khoảnh không gian máu thịt bất khả phân ly. Họ phải gắn chặt với không gian đó để thấy mình được tồn tại và đang tồn tại. Nhưng trong khoảnh khôn gian quen thuộc ấy, đôi khi họ mơ những giấc mơ đúng ngọ, họ hồi nhớ những kỉ niệm đã tan mủn lúc nửa đêm, tâm hồn họ bay lượn như loài chim câu nuôi bay lượn trước khi chui vào cửa chuồng. Người đô thị không chịu được khoảng rộng và những chân trời xa xôi. Họ thích uống trà Hồng Hoa vì mùi vị nó gợi nên thứ mùi vị của cuộc sống chen lấn, xô đẩy nơi phố phường, chút hương thơm nồng ấm của nó cho phép họ bay lượn vài vòng như loài chim câu nuôi chuồng vừa bay vừa liếc mắt nhìn ô cửa quen thuộc bên dưới... Một cảm giác an toàn, thật sự an toàn. Sự an toàn là điều con người mưu cầu trước hết...
Hoan uống thêm vài ngụm trà nữa, lắng nghe những cuộc chuyện trò ầm ĩ bốn bên. Một tấm lưng nóng rực, mập thù lù vừa huých vào lưng anh. Chừng phút sau, đùi người đàn bà nào đó lại cọ vào mé sườn bên trái, một cái đùi đã nhão nhoẹt nhưng xem ra còn đầy ham hố và cuộc va chạm giống như cuộc tìm thỏa mãn cố tình... Đó, đời sống đô thị. Đó, trà Hồng Hoa, thứ trà của những kẻ xích chặt cuộc đời với các quầy hàng, nơi các đồng tiền được đếm lúc ra lúc vào, những con số đổ rào rào như những quân mạt chược đổ trên mặt bàn sòng bài. Cái đời xốn anh đang sống và đang xa cách...
- Anh làm sao thế... Uống tiếp đi không nguội hết bây giờ?
Căng lên tiếng. Nhưng Hoan không nghe thấy. Anh ta lặp lại lần nữa rồi lấy tay gõ xuống mặt bàn:
- Uống đi đã, kẻo trà nguội mất...
Hoan giật mình ngẩng lên nhìn Căng. Chén trà của anh sắp nguội mà trà Hồng Hoa phải uống nóng, thật nóng cho tháo mồ hôi. Cái thể thức đó đã được Căng thực thi nghiêm chỉnh. Sơ-mi anh ta ướt đẫm, dán vào thịt. Hẳn anh ta đã uống nỗ lực ba bốn chén liền. Chẳng cứ thân thể mà ngay cổ và trán Căng cũng đang nhễ nhại mồ hôi. Anh ta thở từng hơi dài, hổn hển khoan khoái:
- Nhẹ cả người, sướng thật.
Hoan hỏi:
- Anh uống nữa không?
Căng ậm ừ:
- Thôi... thôi...
Nhưng rồi anh ta chuyển ý:
- Được, gọi cho tôi bình nữa.
Nói xong, anh ta nhếch môi cười:
- Không thấm tháp gì với mớ tiền bị cuỗm đêm qua.
Hoan vẫy bồi gọi thêm bình trà rồi hỏi:
- Lúc đó anh ở đâu?
- Tôi chuồn ngay tức khắc, sau khi thằng chủ quán mở cửa.
- Anh nói chính gã bán thuốc lá mở cửa sao?
- Vậy anh nghĩ ai có thể làm việc ấy?
- Tôi cũng biết đây là cuộc giăng bẫy nhưng tôi nghĩ chí ít gã cũng phải tránh mặt đi.
- Gã mở cửa rồi lỉnh xuống cầu thang... Mai đây nếu anh hỏi gã sẽ đáp rằng gã buộc phải làm điều đó dưới nòng súng.
- Còn thằng cá kia?
- Đương nhiên đó là kẻ quen thuộc, kẻ vẫn chia chác món lộc thường xuyên với gã mặt lợn kia... Nhưng tôi cứ nghĩ mãi, chẳng hiểu sao chúng đặt ra trò này... Theo cách tính của những kẻ làm ăn mối lợi lâu dài và thường nhật thường được coi trọng hơn món tiền trấn lột...
Nói xong, Căng nhìn thẳng vào mặt Hoan dò xét. Tức khắc Hoan nhớ lại lời anh ta đã dặn anh về món lót dạ trên giường và hiểu cội rễ tấm kịch đêm qua là sự hào phóng của anh với ả giang hồ có đôi mắt chó giấy. Ý nghĩ ấy không lọt qua mắt Căng. Cũng như anh, Căng có tài đoán định trong giây lát và cặp môi nhàu nhĩ nứt nẻ như môi người già của anh ta nhoành ra trong nụ cười mai mỉa:
- Chẳng ai chùi đít bằng đồng tiền vàng cả... Chùi thế, rách lỗ đít cũng đáng thôi.
Rồi anh ta lắc đầu nói tiếp:
- Thật không sao hiểu nổi... Một người khôn ngoan bậc nhất như anh. Một gã óc có sỏi thép bên trong chứ không phải đá cuội nhặt dọc đường... Hay anh bị ma ám?
Hoan không đáp. Anh né vai để cậu bồi đặt xuống lò than hoa mới lẫn bình trà mới. Như lặp lại một thể thức tế lễ anh giơ cao bình rót trà, đợi tầng bọt dâng lên. Chẳng hiểu sao, trong lớp bọt màu vàng rêu đó anh chợt nhìn thấy nương vườn trang trại của anh trên Xóm Núi thấy những con đường viền cỏ, những rặng rào đọng đầy sương, những vòm cây ngả nghiêng trong chiều gió. Anh thấy người đàn bà anh yêu. Anh thấy dâng lên làn sương mù quen thuộc vẫn dâng đầy các thung lũng miền đất cũ. Anh nhớ hơi ẩm lạnh những buổi chiều mời mọc gối chăn... Hoan bưng chén trà, nhìn mãi đám bọt nước, đợi từng hạt bọt tan dần, lúc lâu sau mới đưa lên môi nhấp. Căng vẫn uống sùng sục, vừa uống vừa đưa mắt nhìn anh. Căng chưa tìm được đáp số cho bài toán. Bứt rứt, băn khoăn vì không hiểu sao một kẻ buôn bán sừng sỏ nhất xứ lại có thể hành động ngu xuẩn như vậy? Nhưng Căng không hỏi gì thêm, biết Hoan đang để tâm nơi khác. Họ uống cạn bình trà thứ hai đã tám rưỡi sáng. Cuộc ẩm thực ban mai tiêu phí hơn hai tiếng đồng hồ. Căng thở dài sượt một tiếng:
- Tôi mất việc sáng nay vì lỡ sa vào thú hưởng lạc với anh.
Nhưng vừa nói xong, anh ta lại chép miệng tự an ủi:
- Nhưng thôi, thây kệ... Đôi lúc cũng phải tự cho mình sướng một chút. Chẳng mấy chốc cũng hết đời...
Hoan nghĩ:
Anh ta đếm từng ly thời gian, cũng như đo từng phân bạc dành dụm trong két... Nhưng biết đâu anh ta chẳng sung sướng hơn mình?
Một đứa bé bán bánh rán rong lách vào tận chỗ họ ngồi mời. Căng lựa vài chiếc bánh tròn đa lên, lắc lắc cục nhân đậu xanh ngào đường và dừa nạo bên trong:
- Lần đầu tiên ăn thứ bánh rán này tôi đã bội thực. Khi tôi còn nhỏ mỗi lần mẹ tôi đi chợ cả năm anh em quanh quẩn trước ngõ đợi quà. Thứ quà ngon nhất bà mua cho chúng tôi là gói kẹo bi xanh đỏ và tấm bánh đa vừng. Chúng tôi chia nhau tấm bánh, đứa nào đứa hau háu nhìn xem phần mình to hay nhỏ và lỡ hạt nào rơi xuống đất thì phải cúi tìm bằng được bỏ vào mồm. Lúc tôi lớn lên kiếm được tiền giấc mơ thứ nhất là được ăn một bữa chán chê bánh rán... Chính bữa đó, tôi bội thực.
Anh ta cười, nước mắt chảy ra. Vệt hằn trên chóp mũi như sâu hơn lên và có màu đỏ của các tia máu. Tiếng cười của Căng khiến Hoan mủi lòng nhưng anh lặng im uống trà. Chờ Căng ăn xong chiếc bánh thứ ba, anh hỏi:
- Phải ăn bao nhiêu chiếc bánh rán mới bị bội thực?
- Ba mươi hai cái cả thảy. Sau đó tôi uống nước như trâu, chẳng ngờ đường còn làm người ta khát nước hơn muối. Tôi chẳng ăn gì nữa trong ngày hôm ấy. Ngày hôm sau cũng chỉ uống trà. Sáng ngày thứ ba mới ăn trở lại bát cháo đậu xanh...
Nói tới đó, Căng ngừng lời chiêu nốt chén nước trà và chỉ mấy chiếc bánh trên đĩa:
- Sao anh không ăn?
- Tôi no.
- Dạ dày anh chẳng nhỏ hơn bao tử của tôi. Nhưng với một công tử gốc rễ như anh thứ quà tầm thường đó chẳng xứng...
Căng lại cất tiếng cười và lần này giọng cười chứa đầy ghen tuông độc địa. Hoan định nói cho Căng hiểu rằng anh cũng đã từng qua những thời kì thiếu thốn, tuy chẳng đến nỗi bần hàn như anh ta nhưng cũng là một cuộc sống đạm bạc trong xã hội phân phối từ lạng thịt cho tới cân gạo. Tuy nhiên, những thiếu thốn vật chất không để lại những ấn tượng lâu dài và sâu sắc trong anh. Nhưng Hoan biết có nói cũng vô ích. Căng là loại người không nghe ai không tin ai và bị cùm trói trong những nghiệm sinh của chính gã. Gã không tin trên đời có kẻ ít ham tiền hơn ít coi trọng tiện nghi ít sùng phục đời sống thị dân hơn chính bản thân mình:
Tại sao càng ngày ta càng dấn sâu vào mối quan hệ này? Căng chẳng bao giờ có thể trở thành bạn của ta theo ý nghĩa thông thường của từ đó...
Hoan thầm nghĩ khi nhìn Căng rút trong túi áo một tờ báo, xé lấy một mảnh nhầu rồi đưa lên lau miệng. Anh nhớ lần nào đó đến nhà Căng thấy anh ta bầy trên tủ bát đĩa một xấp hai ba chục chiếc khăn tay còn nguyên nếp hồ. Anh hỏi Căng ý định buôn thêm mặt hàng này chăng, Căng trả lời rằng anh ta vốn không có thói quen dùng mù-soa nhưng anh ta sẽ tập dần cũng như trước đây anh đã tập thắt cà-vạt. Căng đã thuộc bài tập thứ nhất nhưng bài tập thứ hai chưa thành. Cứ xem điệu bộ anh ta vò tờ báo lau mồm chắc hẳn dăm bảy năm nữa chồng mù-soa trong tủ cũng sẽ còn nguyên:
Nhưng tại sao mối quan hệ giữa ta với Căng càng ngày càng dày đặc? Không thể nói là khăng khít nhưng rõ ràng số lần lui tới đã tăng theo cấp số nhân. Và ta biết rõ anh ta là ai. Vừa sợ vừa ghen, vừa thân thiện vừa thù ghét, đó là toàn bộ màu sắc tình cảm của Căng đối với ta. Bao trùm lên hết thảy là sự thèm muốn. Anh ta rượt đuổi thành công như sói đói đuổi mồi, càng đuổi càng mất tăm, càng đuổi càng hụt sức...
Căng không biết những ý nghĩ của Hoan. Lau xong miệng, anh ta ngẩng lên hỏi:
- Đêm qua anh mất bao nhiêu?
- Tôi không rõ con số đích xác.
- Anh không biết trong ví anh có bao nhiêu tiền? Vậy mà anh lại là người sống bằng nghề buôn bán? Anh nói thật hay bỡn vậy?
- Tôi không có ý định nói bỡn. Chẳng qua trước khi đi với anh tôi đã đưa ví cho chị tôi lấy tiền trả tiền hàng. Tôi chẳng rõ chị ấy đã để lại bao nhiêu... Nhưng có lẽ món tiền ấy cũng mua được năm hay sáu cây vàng, nếu anh muốn lấy vàng làm đơn vị tính...
- Năm hoặc sáu cây vàng?
Căng chồm qua mặt bàn, hỏi lại Hoan, giọng anh ta lạc đi một cách đột ngột và đôi tròng mắt lác xệch. Gương mặt Căng hiện lên vẻ căng thẳng thường chỉ có khi anh ta tìm cách bắt mối hàng hoặc rủ rê anh vào một cuộc buôn chung mà Hoan biết rõ Căng chỉ góp một phần năm vốn nhưng bao giờ cũng đòi hưởng món lời trước tiên và gạt mọi khả năng rủi ro sang phần anh. Hoan đã nhiều lần chấp nhận kiểu làm ăn đó với tâm lý kẻ bề trên, kiểu một võ sĩ siêu thặng chấp nhận cuộc tỉ thí vô điều kiện cùng một lần với ba võ sĩ hạng gà. Chính anh cũng không hiểu được mình. Phải chăng vì Căng đã dẫn anh tới chốn lầu xanh, giải quyết thứ nhu cầu sinh vật đang hành hạ anh vào đúng khoảnh khắc anh vô cùng khốn khổ và nhờ giọng lưỡi trơ trẽn của Căng mà anh đã vượt qua được những mặc cảm một cách dễ dàng? Có thể... Nhưng còn một lý do quan trọng hơn, anh thích tiếp cận với một kẻ hoàn toàn trái ngược mình, thứ cảm giác hệt như đứa bé sợ ma nhưng lại thích nghe chuyện ma. Có lẽ, nhờ đối mặt với những thực thể xa lạ, những bản tính trái ngược nên ta có cơ may nhìn lại mình, dò tìm những vùng tối ẩn nấp trong tâm hồn mà khi sống với những người có cùng phẩm chất ta không thể nhận biết.
- Sao, anh không nhầm đấy chứ? Năm hay sáu cây vàng?
Căng hỏi lại lần thứ hai, cao giọng hơn và đường gân nơi thái dương anh ta phập phồng. Hoan bảo:
- Tôi không nhầm đâu. Tôi biết chị tôi lấy chừng ba phần tư số tiền trong ví.
Mặt Căng bỗng tái xanh và anh ta cất tiếng, gần như nghẹn ngào.
- Anh có biết em gái tôi đã phải bán mình với giá bao nhiêu không?
Hoan không biết nói sao. Anh thấy vẻ đau khổ hiện trên gương mặt méo xẹo của người bạn buôn và anh cúi xuống. Căng kéo tay khỏi mặt bàn, ngồi xuống ghế. Anh ta đưa mắt nhìn vào khoảng trống, nơi khói thuốc và khói trà hòa quyện nhau, và đám bồi lượn đi lượn lại như lũ dơi ngày. Và rồi hạ giọng thì thầm, anh ta vừa như nói với Hoan vừa như nói với chính mình:
- Nó là đứa con gái xinh xắn, còn trinh, mới mười sáu tuổi... Tôi nhớ cả ngày sinh của nó lẫn ngày nó phải làm cái việc nhơ nhuốc đó để lấy tiền mua thuốc cho cha tôi. Nó nhận được nửa chỉ vàng. Và kẻ mua dâm là một gã lái trâu, già ngang tuổi cha tôi, chuyên nghề mua trâu bò vùng sơn dã xuống huyện bán...
Hoan không biết nói gì. Anh tiếp tục châm thuốc lá, đợi cơn phẫn uất của Căng dịu đi. Anh biết những cơn phẫn uất kiểu ấy đã biến thành một phần con người Căng từ rất lâu, một phần da thịt, xương máu. Nó chỉ có thể được che giấu hoặc phơi bầy, chẳng bao giờ mất. Căng lại cầm bình rót trà. Kể xong câu chuyện mặt anh ta tím ngắt. Anh ta uống liền hai chén trà. Rồi đặt chén xuống bàn, anh ta cười:
- Tôi đưa anh đi chơi.
Hoan ngơ ngác hỏi lại:
- Chơi đâu vào lúc này?
Căng vẫn giữ nguyên nụ cười, gương mặt đã mất đi vẻ căng thẳng trở lại vô cảm như thường nhật:
- Chơi điếm ngày... Hôm nay ta đổi món. Coi như bù lại chầu lỡ dở đêm qua. Anh khỏe chứ?
- Bình thường... Nhưng tôi không muốn.
- Anh đừng ngại. Chúng ta đi đường vòng và sẽ chẳng người quen nào nhìn thấy đâu.
- Tôi không tiếc anh, nhưng ban ngày ban mặt...
- Anh xấu hổ à? Chúng ta không còn ở tuổi mười lăm.
- Nhưng...
- Tôi xin anh. Tôi xin anh đấy. Đây là lần đầu tiên tôi xin anh. Những lần trước anh cần. Lần này tôi cần. Thuận tình đi vì như thế là lẽ công bằng.
Anh ta nói, giọng nghiêm nghị, cái nhìn khẩn thiết. Hoan chẳng còn cách nào hơn là im lặng chấp thuận. Anh gọi bồi trả tiền trà và họ rời quán Hồng Hoa lúc xấp xỉ mười giờ. Tới vỉa hè, Căng gọi hai chiếc xích lô. Căng ngả giá với phu xe như một mụ già keo kiệt rồi bảo Hoan lên chiếc xe sau, còn anh ta ngồi xe trước dẫn đường. Trời đã sang thu nhưng còn nắng, người phu xe giương mui xe lên che khiến Hoan có cảm tưởng như anh là bệnh nhân rời viện hoặc sản phụ sau khi sinh nở. Hoan thấy xấu hổ nhưng không dám yêu cầu hạ mui xe xuống vì nhìn phía trước Căng cũng đã giương mui xe lên xe, chiếc mui xe ấy lại may bằng vải hoa sặc sỡ khiến nó giống như xe quảng cáo cho gánh cải lương phố huyện. Anh đành ngồi yên trong xe, cầu Trời khấn Phật đừng gặp ai quen dọc đường. Không bao lâu họ tới khu ngoại ô. Hoan nhận được cùng một kiểu kiến trúc vá lắp phản thẩm mỹ, những ngõ nhỏ chỉ vừa đủ lách vừa hai bánh xe xích-lô, những góc sân chất đầy đồ phế thải và các đống rác chưa hót... Họ dừng lại trước một quán cà-phê nhỏ:
- Tới nơi rồi, anh vào trước đi.
Căng bảo anh rồi lấy tiền trả hai người phu xe. Hoan rảo bước gần như chạy vào quán. Anh ngồi xuống ghế, cất tiếng hỏi theo thói quen khi đặt chân tới quán lạ:
- Ở đây có những đồ uống gì?
- Ở đây có những thứ mà nơi khác có...
Giọng đáp chỏng lỏn tức thì của chủ quán khiến anh sửng sốt.
Anh ngẩng đầu nhìn vào phía quầy hàng và nhận ra người đàn bà có gương mặt tàn úa ngồi sau mẹt hàng đêm đêm. Chị ta vẫn trùm chiếc khăn hoa trên đầu dù trời không lạnh. Dưới ánh sáng ban ngày những nếp nhăn chi chít in trên gò má màu vàng chanh.
- A... a...
Hoan bất giác bật tiếng kêu. Người đàn bà nghiêng đầu cười:
- Có gì là lạ?
Giọng chị ta khàn khàn. Trong buổi mai nắng rỡ, thanh âm đó gợi một nỗi buồn chẳng thể gọi tên. Hoan không dám nhìn thẳng mặt chị ta, e những nếp nhăn bệnh hoạn khiến chị tủi hổ. Anh đành đưa mắt nhìn vẩn vơ khắp căn phòng. Quán nhỏ và lộn xộn. Tường không trát phẳng treo những tấm tranh đầy bụi một khóm hoa nhựa ám khói đen sì, vài dãy chai nước ngọt bày trong tủ kính và chiếc cát-sét cũ hát điệu hát cũ:
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài thức dậy...
Giọng nữ ca sĩ méo đi vì cuốn băng tồi vì máy hỏng hoặc vì những bài hát cũng giống mùa hoa phải tàn úa theo thời gian. Câu hát cũ xiêu vẹo như bước chân đám hành khất trên con lộ vắng và đôi mắt người đàn bà có gương mặt đầy vết nhám nhìn anh tựa như cặp mắt thủy tinh của một pho tượng què cụt trong ngôi miếu hoang đổ nát ven đường.
- Nào, uống gì? Chị ta cất tiếng hỏi.
- Cho tôi ly nước chanh. Hoan đáp.
- Khẩu vị đàn bà. Chị ta bình luận.
Hoan không trả lời. Chị ta quay lưng vào trong quầy pha nước. Chiếc thìa khua lanh canh, lanh canh. Lúc đó, Căng bước vào:
- Anh uống gì nữa vậy?
- Nước chanh.
- Chẳng cần phải uống cho ỏng bụng. Chúng ta ngồi đây vài phút nữa thôi.
Nói đoạn, anh quay về phía người đàn bà nói:
- Dẫn chúng tôi đi, Thu Cúc.
Gương mặt tàn úa quay ra:
- Đi ngày?
- Phải.
- Chưa đủ mùi hay sao?
- Chưa đủ.
Căng đáp và sau một thoáng ngẫm nghĩ hỏi tiếp:
- Chỗ quen thuộc sao đêm qua không báo động?
- Tôi đã nói rồi, óc đặc thì chết.
Người đàn bà đáp đoạn bưng ly nước chanh đặt trước mặt Hoan.
Căng nhìn chị ta hồi lâu rồi cất tiếng à...:
- Nhớ rồi, nhớ rồi... Nhưng lúc đó tôi chẳng lường được...
Người đàn bà cười, cặp môi thưỡi ra:
- Phải học lấy chữ lường...
Đoạn chị ta thong thả bước trong gian phòng, vẻ như một cô đào trước màn trình diễn, vừa đi vừa cất tiếng ngâm nga:
Thế gian ai học được chữ lường.
Dẫu rằng dày dạn chín mười phương.
Vẫn còn một lối chưa thông tỏ...
Căng ngắt lời:
- Thôi, chọc ghẹo thế đủ rồi. Gọi lão gù sang trông hàng rồi đưa chúng tôi đi.
Người đàn bà không tỏ ra phật ý cũng chẳng tỏ ra ưng thuận, chị ta lẳng lặng rời khỏi gian hàng qua đường sang dãy phố bên kia. Ở đó, chị ta tiếp tục đong đưa đôi vai gầy và tấm thân cứng ngẳng trong một ngõ hẹp có rất nhiều tấm tôn chìa ra như những mái hiên. Căng trầm ngâm nhìn theo và nói:
- Đêm qua cô ả cất tiếng mời chúng ta ăn mực. Đó là cách báo hiệu hiểm nguy mà tôi quên khuấy mất... Lỗi tại tôi, óc tôi lú quá rồi...
Hoan hỏi:
- Ăn mực là dấu hiệu rủi ro? Lần đầu tôi nghe chuyện ấy.
Căng khoác tay phác một cử chỉ bất bình:
- Lạ thật, chuyện vặt ấy sao anh không biết? Người ta thường vẫn nói: Đen như mực. Đối với khách chơi hoa, nói như vậy có nghĩa là bể ống khói hoặc bị lũ ma cô hành hung. Tôi biết điều này nhưng vì chưa từng bị trầy da sớt thịt nên vô tình quên mất... Quả tình, Thu Cúc rất tốt với chúng ta...
- Thu Cúc? Tôi trông người đàn bà này chẳng có vẻ Thu Cúc lẫn Đông Cúc... Vì sao chị ta có cái tên điệu đàng như vậy?
- Anh nhầm. Chị ta vốn là con nhà tử tế và cái tên ấy là do cha mẹ đặt cho. Đáng lẽ chị ta phải là bà chủ, còn hai con đàn bà vẫn ngủ với chúng ta chỉ đáng làm đầy tớ... Nhưng cuộc thế xoay vần... Một người luôn may mắn như anh chắc không hiểu được cái chữ oan nghiệt đó...
Hoan lặng thinh. Căng có lý. Thực ra cuộc sống của anh không thăng trầm như nhiều kẻ khác. Anh chưa từng ra tù vào tội, chưa từng bị đói khát, hành hạ, sỉ nhục, chưa từng lết trong rãnh bùn của cuộc mưu sinh... Căng nói tiếp:
-Thu Cúc vốn không đẹp nhưng ở tuổi xuân chị ta sang trọng và duyên dáng. Biết gảy đàn, biết hát, biết đánh bóng và chơi bài. Nếu trời thương hẳn người đàn bà ấy chẳng phải kéo dài kiếp sống nơi đây... nhưng có mấy người được trời thương? Dù Chúa hay Phật tình thương cũng chỉ đủ phát cho con số lẻ, còn đa phần chúng sinh ở ngoài rìa ơn mưa móc.
Nói tới đó, Căng ngoảnh đầu ra cửa:
- Thu Cúc đã quay lại với lão gù, chúng ta đi thôi.
Hoan đứng lên. Câu chuyện khiến anh tò mò. Anh chăm chú nhìn người đàn bà đang tiến đến trước mặt mình dò tìm một lịch sử bí ẩn phía sau hình dạng tầm thường ấy. Chị ta cúi đầu khi bước sang đường. Tấm khăn phủ in những hình kỉ hà xen những bông hoa lớn với gam màu quyến rũ. Cổ đeo sợi dây mảnh bằng bạc. Tất cả có vậy thôi. Một cách trang điểm giản đơn, độc đáo. Ngoài ra, anh chẳng thấy gì khác biệt. Quần áo chị ta mặc là thứ quần áo bình thường của những người đàn bà cỡ tuổi bốn mươi. Đi sau chị ta là một lão già thấp đen có bướu lưng. Một người gù đúng nghĩa. Gù dị tật như Quasimodo trong cuốn Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà của Hugo, nhưng với gương mặt choắt, chòm râu dê và cặp mắt ti hí kiểu Mông Cổ. Lão gù bước những bước ngắn nhanh thoăn thoắt, và luôn luôn giữ đúng cự ly cách người đàn bà chừng hai bước chân.
Căng đứng đón họ ngay trước cửa:
- Anh trông hàng nhé, chúng tôi đi ngay đây.
Lão gù gật đầu:
- Được, Thu Cúc sẽ đưa các anh đi... mọi sự ổn cả thôi.
Lão bước vào gian hàng. Căng kéo Hoan đi theo người đàn bà. Họ đi xuôi dãy phố chừng hai trăm thước đoạn rẽ vào một ngõ nhỏ còn hẹp và lởm chởm hơn cái ngõ nhỏ nơi người đàn bà đi gọi lão gù. Một thứ ngõ được tạo dựng bởi những căn nhà lắp ráp từ đủ thứ vật liệu: mảnh tôn, ván gỗ, giấy lợp, bìa các-tông, săm lốp xe ô-tô cũ. Căn ngõ đó dài đặc với rất nhiều ngả rẽ khiến Hoan lo ngại. Anh chắc nếu bị bỏ rơi ở nơi đây anh sẽ chẳng tìm được lối ra và sẽ làm mồi cho một băng cướp ngày hoặc một bọn chém mướn nào đó...
Mình thật dại dột... chẳng lý do nào khiến ta phải dấn thân vào chốn này.
Căng đi trước, chừng như đoán được ý nghĩ của anh nên quay lại:
- Đừng sợ, tôi biết cả lối vào lẫn lối ra...
Đoạn anh nhe răng cười và nói thêm:
- Có thể tôi rành khu này hơn cả lũ trộm cắp. Cứ yên tâm.
Họ đi như thế chừng nửa giờ và sau rốt, anh nhìn thấy cây cầu thang quen thuộc, cây cầu thang ghép bởi những tấm gỗ chưa bào thường rên rỉ oằn oại dưới những bước chân nặng trĩu của anh.
Người đàn bà dừng lại trước chân cầu thang:
- Tôi về được chứ?
Căng gật:
- Cũng được...
Nhưng chị ta vừa đi được vài bước, Căng gọi giật lại:
- Thu Cúc, hôm nay xuống đòn ân oán giang hồ, có muốn xem thì ở lại.
Chị ta gật:
- Ra thế... ờ, thì xem.
Nói xong chị vòng ra phía cầu thang chui vào căn buồng bên dưới. Họ nghe tiếng kẹt cửa, tiếng dép lê trong phòng. Căng kéo tay Hoan lên cầu thang:
- Nào, theo tôi.
Lần đầu Hoan nhìn quang cảnh căn nhà chứa dưới ánh sáng ban ngày và sự xấu xí bẩn thỉu khiếp hãi của nó làm anh rùng mình. Căng đang nghĩ chuyện gì đó, im lặng. Khi tới trước cánh cửa buồng anh ta mới chợt như sực tỉnh cơn trầm tư và giơ tay gõ:
- Ai đấy?
Có tiếng hỏi vọng ra. Căng không trả lời nhưng dang tay đập mạnh khiến cánh cửa rung ầm ầm.
- Chờ tôi chút xíu...
Lại có tiếng người đàn bà cũ vọng ra. Có tiếng guốc lê vội vàng và sau đó, cửa mở. Người xuất hiện trong đó là cô gái điếm thường qua đêm với Căng. Cao lớn, gương mặt lầm lì, mắt xếch, tóc đen và rậm, trông cô ta lực lưỡng hơn đồng nghiệp nhiều. Chẳng mảy may tức giận, cô ta giương mắt nhìn Căng:
- Hôm nay anh rảnh sao?
Căng gật:
- Rảnh... không rảnh cũng bỏ việc. Con Hồng có trong kia không đấy?
Cô ta gật đầu:
- Có. Chị ấy đang ngủ.
Căng bảo:
- Được rồi. Trở lại giường của em đi, lát nữa sẽ có việc.
Người đàn bà đáp:
- Em chờ.
Giọng nhẹ nhàng êm dịu trái ngược hoàn toàn với thân hình vạm vỡ. Hoan hỏi Căng:
- Tại sao lại là Hồng? Cô ta vẫn nói với tôi tên cô ta là Thanh Huệ?
- Nay nó là Thanh Huệ, ngày mai nó là Bích Hồng ngày kia nó là Kim Chi ngày kìa nó là Ngọc Diệp... làm sao anh biết được tên thật của một con điếm? Nhưng thôi, quên cái chuyện tầm phào ấy đi, vào đây với tôi.
Anh ta hất tấm màn kéo Hoan vào gian buồng bên phải, gian buồng của người đàn bà có đôi mắt chó giấy, cái lưỡi ma quỷ có tên Thanh Huệ, thứ hoa thanh khiết nhất trong các loài hoa... nàng Thanh Huệ của anh đang ngủ, gương mặt lau phấn son bợt như mặt kẻ hậu sản thiếu ăn, miệng há hốc để lộ những chiếc răng thưa thớt. Mấy lọn tóc xõa trên mặt gối thứ gối trắng ngả màu loang lổ vết nước dãi không giặt sạch. Tấm vải trải giường nhàu nát lâu ngày chưa thay và mấy tấm khăn bông cuộn như nùi giẻ lau dưới chân giường...
Mình đã từng nhiều lần nằm trên chiếc giường kia, với người đàn bà xấu xí dơ dáy kia, da thịt mình trong da thịt cô ta và hơn thế nữa...
Hoan rùng mình. Nỗi hổ thẹn nhục nhã trào lên khiến mặt lẫn gáy anh nóng bỏng. Nhưng Căng không để cho anh có thời gian tra vấn lương tâm. Cúi xuống giường, anh ta nắm cổ cô điếm dựng dậy:
- Mở mắt ra... mở mắt ra, con đĩ.
Người đàn bà oằn oài dưới bàn tay Căng, miệng làu nhàu:
- Ai thế? Ai thế? Làm gì mà ngậu lên thế?
Nói xong cô ta lại đổ kềnh xuống giường vì không cưỡng lại được cơn buồn ngủ.
- Mở mắt ra.
Căng quát to:
- Mở mắt ra. Mày ngủ thật hay ngủ vờ? Dù thật hay vờ tao cũng sẽ lôi mày dậy.
Nói đoạn, anh dang tay tát vào mặt cô ta năm sáu cái liền. Tát phải rồi tát trái, mặt người đàn bà lật như tấm bánh rán đảo trong chảo mỡ. Hoan sững sờ. Anh không dè Căng cư xử như vậy. Lần đầu đưa Hoan tới đây anh ta đã mơn trớn cô điếm thật khéo léo nhẹ nhàng:
"Này em, giao bạn vàng của anh cho em đấy nhé... hãy trổ tài chiều anh ấy hết ga hết số, bọn anh không để em thiệt đâu..."
Căng nói vậy đoạn vuốt lưng cô ta với cử chỉ âu yếm của tình nhân.
- Bốp, bốp...
Hai cái tát cuối cùng, như dấu chấm cho câu gọn gàng chuẩn mực về ngữ pháp. Mặt người đàn bà đỏ dừ, vì quá đau vì quá đột ngột cô ta không thể cất tiếng kêu cũng không tìm được cách chống đỡ, cô ta buông mình như tàu cải héo dưới bàn tay Căng. Khi anh ta dừng lại, cô ta mới mở được mắt ra. Đưa tay ôm mặt, người đàn bà rên rỉ:
- Ôi trời, đau quá mẹ ơi...
- A, mày cũng biết kêu mẹ cơ à? Mày cũng biết đau à? Vậy khi mày gài bẫy cho bọn cá trấn tiền của người ta khác có biết người ta cũng đau xót như mày hoặc còn hơn mày không?
Gương mặt người đàn bà bắt đầu hiện lên những nốt lằn tay, các vạch đỏ nổi gờ chồng chéo nhau trên cặp má không lưỡng quyền. Chiếc cằm cô ta như mũi tàu thủy, nhọn hoắt lì lợm dưới đôi tai chuột đeo hạt trai giả. Hoan nhìn rõ những sợi gân máu phập phồng trên cổ cô ta. Anh muốn bảo Căng dừng tấn trò tại đây và đi về nhưng anh biết điều đó là bất khả. Anh đành đứng nhìn màn kịch tiếp tục diễn ra trên cái sân khấu thảm thê anh vừa đóng vai kẻ chứng kiến vừa dễ bị ngờ là kẻ chủ mưu một cách oan uổng. Cảm giác đó khiến anh bứt rứt.
Căng vẫn nắm chặt gáy người đàn bà, ghé sát vào mặt cô ta tra vấn:
- Mày được bao nhiêu phần trăm, thằng chủ mày bao nhiêu phần trăm trong sáu cây vàng? Nói ra không tao đập cho nát mặt. Thằng chủ mày không dám bênh vực còn thằng cá kia xong việc cắp đít cao chạy xa bay rồi... giờ đây nó đã diện sắc phục đeo lon đeo hàm trở lại làm người chiến sĩ bảo vệ an ninh người cảnh sát của nhân dân... mày có gào lên giữa bốn bức tường này cũng vô ích.
Cô điếm im như thóc. Hoan biết Căng có lý. Cô ta không dám và không thể kêu cứu. Tất cả những kẻ sống cuộc sống giang hồ đều phải chịu đúng luật chơi. Họ cướp bóc kẻ khác trong bóng tối và bị kẻ khác cướp bóc hoặc truy sát cũng trong bóng tối. Họ có thể thắng bại, sống hay chết nhưng không thể kêu cứu. Thế giới đen hệt đời sống của thú hoang. Không có tín hiệu S.O.S. Nhung nhúc người và hoang vu hơn sa mạc. Ở đó, tình thương là thứ thừa. Vậy mà anh cảm thấy thương hại người đàn bà đã gạt anh vào tròng, đã lạm dụng lòng tốt của anh một cách giảo quyệt và tàn nhẫn. Cô ta đang vặn vẹo toàn thân dưới những ngón tay sắt của Căng, cố sức gỡ nắm tóc đang bị kéo giật về phía sau và càng lúc càng xoắn lại:
- Trả lời tao, bọn chó thí cho mày bao nhiêu?
- Ối chao, ối chao ơi...
Cô ta tiếp tục rên rỉ, coi đó là phương sách duy nhất có thể cứu gỡ trong tình cảnh này. Sự im lặng thú nhận. Nhưng Hoan không thấy căm giận kẻ tội đồ:
Rõ ràng cô ta gài bẫy hại ta. Nhưng đó là sự mưu sinh của kẻ cùng đường. Hoàn toàn chẳng giống trò lừa gạt của mẹ con bà Kim Lan ngày trước...
Anh nhớ màu rượu vang trong những chiếc ly thủy tinh Bô-hêm, hai mẹ con bà trưởng cửa hàng xúng xính váy áo và cái kí ức khiến anh động tâm trước người đàn bà rạc rài khốn khổ đang bị hành hạ trước mắt mình.
Không, ta chẳng có chút uất hận nào trong sự rủi ro này... ta có mất một số tiền, nhưng chẳng ai xúc phạm danh dự, làm tổn thương tâm hồn ta. Cái đó, mới chính là thứ cần bảo trọng. Ta không thể đứng ở đây, chứng kiến màn kịch tồi tệ này...
Anh cất tiếng:
- Này Căng, tôi có việc.
- Không.
Anh ta nói gần như quát:
- Anh không cần bố thí lòng nhân đạo với loại chó cái này. Cách đây nửa năm, nó cũng đã lừa một khách chơi cho bọn ma cô trấn. Để tôi ra đòn cho nó biết luật lệ.
Hoan nhắc lại:
- Tôi có việc. Tôi phải về.
Căng cười nhạt:
- Anh không thể về theo lối quen vì sẽ chạm trán nhiều người. Giờ đang lúc nửa trưa và gần hết dân thành phố biết mặt anh. Còn lối vòng qua hẻm ngoài Thu Cúc với tôi chẳng ai đưa anh đi nổi... liệu anh có dám mò mẫm trở về một mình chăng?
Hoan im lặng. Anh biết anh không thể. Anh là kẻ có máu mặt trong thành phố, chắc chắn những ổ lưu manh trộm cắp lẫn những gã tài tử đói ăn đều muốn chờ cơ hội tốt để ra tay. Là một ông chủ lớn nhiều khi cũng phiền phức...
Thấy Hoan không nói gì thêm, Căng hạ giọng tiếp:
- Thôi được, lát nữa chúng ta sẽ về... tôi kết thúc trò chơi thật nhanh cho anh được giải thoát.
Dứt lời, anh ta cất tiếng gọi:
- Thu Cúc, Thu Cúc...
- Tôi đây.
Có tiếng đáp tức khắc và người đàn bà trùm tấm khăn hoa bước vào.
- A... a... a... a...
Một tiếng thét xé lên, âm thanh chói sắc như lưỡi lam rạch đôi màng nhĩ và Hoan thấy cô điếm đang quằn quại dưới bàn tay Căng vụt chồm về phía trước. Bằng bước nhảy của loài hổ vồ mồi cô phóc tới chụp cả hai bàn tay lên gương mặt kẻ mới đến. Những móng tay sắc nhọn cào roạt một tràng khiến Thu Cúc hét lên. Chị ta lùi lại một bước để tránh đối thủ và trong động tác ấy, chiếc khăn trùm đầu bị giật tung phơi cái sọ trơ trụi không sợi tóc:
- U ú ú...
Thu Cúc rú lên. Chị ta ngớ ra trong một giây vì hổ thẹn và sau khi biết chắc chắn cái đầu trọc lóc của mình đã bị phơi trước mặt kẻ khác cơn hoảng hốt đó biến thành thù hận điên cuồng. Mặt chị ta ngả trắng như vôi, những vết nám rắc như đám đậu đen trên gò má, cặp mắt lạnh lẽo và u sầu thường nhật bỗng long sòng sọc như mắt loài cọp dữ:
- Con đĩ Hồng...
Người đàn bà thong thả buông từng lời, và Hoan nhìn thấy mắt chị ta dâng lên dòng lũ thù hận đã tích tụ qua bao nhiêu năm tháng.
- Con đĩ Hồng, giờ mày sẽ biết tay tao...
Chị ta tiếp tục nói rất khẽ, thong thả tách từng âm tiết. Cặp môi tô son khẽ nhếch lên cười. Những vết cào rớm máu chạy rần rần như đám giun bò trên gương mặt. Bất chợt, từ bức tường giáp tấm màn che, người đàn bà nhảy một bước phóc lên giường. Chị ta chồm lên tấm thân đối thủ, dằn cô ta xuống, bóp cổ cô ta với hai bàn tay xương xẩu như tay đàn ông, những ngón tay dài móng vuông và vàng khè:
Đó là những bàn tay của người đã từng chơi bóng...
Hoan thoáng nghĩ khi chứng kiến tấn kịch. Căng há hốc mồm, anh không ngờ cô điếm Hồng rẫy được khỏi những ngón tay cứng như sắt nguội của mình và rạch lên mặt Thu Cúc những móng vuốt dữ dằn như thế. Trong tay anh, còn lại nắm tóc xơ xác. Hai người đàn bà lao vào cuộc xâu xé. Hai kẻ khốn cùng. Không chồng không sinh nở. Một người đầu trọc lóc người kia để lại những nắm tóc xác xơ trong tay kẻ hành hung... Căng, sau khi qua cơn thảng thốt bắt đầu tức giận. Anh ta thả nắm tóc trong tay xuống sàn:
- A, con khốn nạn... mày dám làm như thế trước mắt bố mày đây...
Nghiến răng lại, Căng giật đầu cô điếm Hồng ra phía sau. Tức khắc, Thu Cúc nắm tay thụi xuống mặt cô ta.
- Thôi, thôi đi...
Hoan cất tiếng quát. Anh không ngờ mình có khả năng quát to như vậy:
- Dừng tay lại... tôi không muốn xảy án mạng ở đây. Hai người không dừng tay lại tôi sẽ gọi cảnh sát, rồi muốn ra sao thì ra.
Chưa bao giờ anh nói to như thế trong đời. Anh, con trai ông giáo Huy, được dạy từ nhỏ rằng chỉ những kẻ lố bịch mới làm ầm ì trước mặt người thứ ba. Vậy mà tiếng quát của anh có hiệu lực tức thì. Căng bảo Thu Cúc:
- Thôi, buông nó ra.
Thu Cúc giáng nốt quả đấm cuối cùng xuống gương mặt nhòe nhoẹt máu của cô điếm. Máu vẫn tiếp tục chảy từ cánh môi rách và bên lỗ mũi dập nát. Thu Cúc nhặt mảnh khăn dưới đất trùm lên đầu. Chị ta quay mặt vào tường chẳng nhìn ai. Rồi ra đi. Chị biến rất nhanh sau tấm màn. Không nghe thấy cả tiếng chân trên cầu thang. Căng bảo Hoan:
- Về thôi.
Đoạn anh ta quay lại cô điếm nằm rũ rượi như cái xác vô hồn:
- Hãy nhớ kĩ lần này đồ chó cái... trấn lột của thiên hạ cũng không quá dễ đâu.
Chùi tay vào đùi, anh ta nói vọng sang ngăn buồng bên kia:
- Anh về đây, bữa khác gặp.
Tiếng người đàn bà đáp lại:
- Dạ, em chờ...
Hai người đi xuống, tiếng chân họ nện trên cầu thang nghe rõ mồn một. Khu này, vọng động của phố phường mơ hồ tan trong không gian hiu quạnh. Cư dân túa các ngả, đoàn quân nô dịch của phố phường, những người bới rác và móc cống, những kẻ mua lông gà lông vịt giấy vụn đồng nát bàn là bếp điện hỏng cốc chai vỡ và một trăm lẻ một thứ đồ táp nham phế thải của cuộc sống nơi đô thành. Ban ngày, chỉ còn lại những người già không làm nổi việc gì, những kẻ tàn tật hoặc những người ngớ ngẩn điên khùng. Những kẻ khốn khổ đó chui rúc trong bóng tối hoặc ngồi lật lưng phơi nắng trước cửa. Mấy bà già da mốc thếch như da trăn rờ rẫm vãi từng hạt cơm quanh bu gà. Hoan biết buổi tối con cháu họ sẽ đem bu gà đó ra chợ. Đoạn khu chợ chỉ họp lúc nhọ mặt người, bán vội vàng qua quýt cho những kẻ ít tiền, những gã móc túi hoặc đám thi sĩ nổi hứng bất kì lúc hoàng hôn... khu ngoại ô buồn thảm phơi dưới mắt Hoan. Đã bao lần anh qua đây nhưng hôm nay là lần đầu tiên anh nhìn nó dưới ánh mặt trời. Bỗng dưng anh buồn. Chân tay anh trở nên đờ đẫn. Những ý nghĩ lướt qua óc anh u ám như những đám mây đen chầm chậm lướt qua khung trời mùa đông.
Anh nhận ra mình đã đến trước quán cà-phê Thu Cúc với lão gù. Lão đang đứng trước cửa, đưa cặp mắt ti hí nhìn anh. Căng đã ngồi hút thuốc phì phèo. Không thấy Thu Cúc. Lão gù hỏi:
- Hai anh dùng gì?
- Cho ấm trà sen đi... a mà thôi, sáng nay tụi tôi vừa uống trà Hồng Hoa rồi. Cho hai tách cà-phê nóng, thứ hảo hạng, pha cà-phê đểu tôi hắt ra đường...
Căng đáp, giọng nửa bỡn cợt nửa đe dọa. Hoan hỏi:
- Quán này có mấy thứ cà-phê?
Căng đáp:
- Ít nhất cũng năm loại, phải không anh gù?
Lão gù xác nhận:
- Chính xác. Năm loại.
Căng đắc ý kể:
- Trước hết là loại cà-phê rửa bát loãng ngoét bán đại trà cho mọi loại phu phen thợ thuyền, xích lô, ba-gác, thợ làm đường và lũ trẻ con nhà nghèo học đòi tập toạng. Loại thứ hai đã có ít mùi cà-phê gọi là cà-phê áo ngắn, khá hơn chút đỉnh, bán cho học sinh trung học và dân buôn đầu đường xó chợ, những người gánh hoa quả rong. Loại thứ ba là loại cà-phê trung bình ở tất cả quán trong thành phố, người nào uống cũng được, nước đã sánh hơn đậm hơn được gọi là cà-phê sinh viên. Loại thứ tư chính hiệu Buôn Mê Thuột ngon thơm đặc sánh pha phin lẻ, nước sôi ngâm tách, giá đắt gấp đôi thứ cà-phê sinh viên là cà-phê công tử, dành cho đám con nhà giàu hoặc những sinh viên được gia đình chu cấp biệt lệ. Loại thứ năm là tuyệt đỉnh, tôi đang gọi đãi anh, cũng là cà-phê Buôn Mê Thuột, nhưng đòi hỏi kỹ thuật rang sấy cầu kỳ, bao nhiêu lượng mỡ gà, bao nhiêu bơ, bao nhiêu muối rang trong thời gian bao lâu, ngọn lửa thế nào và được ủ ra sao trước khi xay... tất thảy đều là bí quyết. Hơn nữa, khi pha, phải pha đúng kiểu Pháp thuộc địa, kiểu đó chỉ có những tay bếp Tây ngày xưa nắm được rồi truyền lại đến bây giờ... Căng nói say sưa, sùi bọt mép, như cậu học sinh thuộc bài từ lâu đợi mãi mới có dịp lên bảng đọc thuộc lòng. Hoan phì cười:
- Anh giỏi thật. Tôi là dân gốc ở đây mà chẳng rành.
Căng cười ngất ngư:
- Trời cho mỗi người mỗi lộc. Tôi chẳng buôn may bán đắt như anh nhưng trời cho tôi một trí nhớ thần kỳ tất thảy những gì từ năm tôi ba tuổi tới nay tôi nhớ như buổi chiều hôm qua.
Lão gù bưng ra hai tách cà-phê nghi ngút khói. Mùi thơm tỏa ngào ngạt khắp gian phòng. Hoan nói:
- Thơm thật... lần đầu tôi ngửi thấy mùi thơm đặc biệt thế này. Thật không ngờ...
Căng cả cười nói tiếp:
- Không ngờ cái quán ghẻ lở nơi ngoại ô lại có thứ đồ uống xịn thế phải không? Nào, mời...
Anh ta bưng tách cà-phê lên hít ngửi một hồi rồi hỏi chủ quán:
- Lúc nãy Thu Cúc có rẽ vào đây không?
Lão lắc đầu:
- Không, cô ấy đã về thẳng nhà.
- Con đĩ Hồng nhảy bổ vào chị ấy, tôi không kịp đỡ.
- Con rắn độc mặt lưỡi cày ấy nham hiểm lắm.
- Nó cào Thu Cúc xước mặt.
- Rồi tôi sẽ bắt nó trả nợ ba lần.
- Anh tìm thuốc cho Thu Cúc.
- Khỏi lo. Tôi có thứ mỡ chuyên bôi sẹo và thứ rượu thuốc dành cho đám võ sư.
- Nhưng chúng tôi cũng đập nó nát mặt.
- Chưa đủ.
- Tôi định hiếp cho nó bại xương hông nhưng anh bạn đây đòi về.
- Cứ để nó đấy. Khắc có người lo.
- Anh không sợ thằng mặt dầy bán thuốc lá à?
- Thằng đó nhiều nợ với tôi... Vả chăng nó đã kiếm được mấy con bò lạc mới sắp thải con đĩ Hồng.
- Anh đã thấy mấy con bò lạc đó chưa?
- Rồi.
- Có con nào khá không?
- Cũng tạm... Toàn dân xứ biển trốn làng ra đây, chẳng ngon mắt nhưng khỏe như trâu đực. Thứ ấy đến bò nhảy cũng không chết.
- Còn non không?
- Non. Lớn nhất mười chín, nhỏ nhất mười lăm.
- Có đứa nào còn trinh không?
- Đừng mơ. Gái xứ biển dâm vô độ. Chúng toáy hoáy từ thuở dậy thì.
- Thôi cũng được, chọn cho chúng tôi hai con khá nhất.
- Được.
- Anh cứ bảo thằng béo chính tôi yêu cầu.
- Được.
- Hiện chúng đang bị nhốt ở chuồng nào?
- Cách đây hai mươi cây số. Lão đang tập nghề cho chúng... Anh có thích mò xuống đó chơi non hay không?
- Cũng hay. Bọn gái chưa thành thục cũng có cái thú riêng. Hôm nào đi được báo cho tôi.
- Yên trí, tôi sẽ báo cho anh thật sớm.
Căng nhấp ngụm cà-phê thứ nhất, khà một tiếng. Hoan đã uống gần cạn tách cà-phê. Cà-phê ngon thật. Hoan không ngờ trong cái quán bẩn thỉu tồi tàn này có thể kiếm được thứ cà-phê ngon đến thế. Cách sao rang tẩm xay có bí quyết nào đó khiến vị cà-phê thơm ngậy, cùng một lúc mùi mỡ gà mùi bơ mùi muối mùi than lửa hòa quyện thành thứ mùi siêu việt khôn tả. Giá chi anh học được bí quyết này để về rang xay cà-phê uống sáng sáng nơi Xóm Núi? Ý nghĩ ấy vừa chợt đến đã khiến anh giật mình sững sờ: Xóm Núi còn đó nhưng mái ấm của anh đâu còn? Chỉ có ông già Lư chăm sóc vườn tược và ngày ngày Miên đưa cu Hạnh về chơi. Vợ anh trở lại nhà như vị khách thường nhật, còn anh, anh là vị khách hàng tuần. Ngày Chủ Nhật anh quay lại gặp đứa con trai khi Miên vắng mặt.
- Thế nào, anh có thể liệt cà-phê quán này là hạng nhất thành phố không?
Căng cất tiếng đột ngột hỏi. Và anh, giật thót mình gật đầu:
- Nhất, nhất... nhưng vì sao không trưng bảng quảng cáo hoặc đề giá từng loại cho khách hàng?
Căng cười sằng sặc:
- Vì chủ nghĩa xã hội không chấp nhận một tách cà-phê này đắt gấp năm lần hay mười lần một tách cà-phê khác... Xã hội của chúng ta là xã hội của sự công bằng.
Đặt tách cà-phê xuống, anh ta mím môi lạ, nụ cười tự dưng biến mất trên gương mặt vô cảm, gương mặt đã quá quen thuộc với anh. Hoan dè dặt nói:
- Ờ, tôi nghĩ nhà nước có lý của họ.
Căng nhìn anh:
- Anh nghĩ thế thật hay vờ? Anh có tin rằng trên đời này có sự công bằng hay không? Tôi chưa từng nghĩ tới điều ấy kể từ khi tôi biết mặt chữ. Sự công bằng, tự tay tôi thiết lập trong chừng mực tôi có thể... Đó, anh vừa nhận ra sự công bằng tôi tạo dựng trước mắt anh. Con em gái tôi nõn nường xinh đẹp như vậy phải bán trinh cho gã lái trâu lấy nửa chỉ vàng, trong khi một con điếm già tã tượi mỗi lần nằm ngửa lại được anh cho mấy tờ bạc lớn, không những thế còn lừa anh cho bọn cá và thằng chủ lầu xanh trấn lột... Điều đó có gì giống với sự công bằng anh nghĩ không? Không... Vậy tôi phải tự tay thiết lập sự công bằng trên cái mặt dày của nó... Còn nữa, một người như Thu Cúc, vợ anh bạn gù đây có đáng sinh ra để làm cái nghề đốn mạt này không? Không. Nhưng chị ấy đã bị số phận xô đẩy và phải lăn lưng xuống bùn. Thu Cúc đã học đại học luật năm cuối. Quê chị ấy ở Nha Trang. Chị ấy lưu lạc tới đây sau ngày giải phóng, chẳng phải thứ dân thất học như tôi...
Trán Căng nhăn lại trong khi anh ta nói, gương mặt anh ta xanh xám, vệt gân đen nổi giữa sơn căn. Hoan không khỏi kinh ngạc: Một gã thất học trồi từ bùn đen lên, thán phục và thương cảm một người đàn bà xuất thân từ tầng lớp trên bị sóng đời vùi dập trong khi thẳng tay đánh đập tàn nhẫn một người đàn bà khác cũng bùn lầy dơ dáy như gốc rễ của gã, như bản thân gã... Và động cơ trước hết là sự chênh lệch giữa hai món tiền bán mình, cái duyên cớ thúc đẩy lòng căm uất và cho phép gã thiết lập sự công bằng như gã muốn? Thật sự, anh không hiểu nổi cái lô-gích đời sống này. Cái cuộc sống anh đang phải chấp nhận dù anh ước muốn được xa cách mãi mãi. Cái cuộc sống anh đang đối diện từng ngày từng giờ mà không ngừng ao ước cuộc bỏ trốn. Cái cuộc sống hòa trộn gương mặt vô cảm của gã lái buôn Căng với đôi mắt chó giấy tô vẽ của cô điếm
Hồng, cái đầu trơ trụi không sợi tóc của nàng Thu Cúc với màu son đỏ chói trên làn môi dầu dãi, những bàn tiệc và chiếc thau nhôm chứa nước tiểu trong gian nhà chứa, chốn đại tiện công cộng được thỏa thuận cho giới đàn ông... Đó, chính là gương mặt thật cái cuộc sống anh phải chấp nhận, thô lậu xa xỉ khốn cùng. Chỉ tới hôm nay, anh mới thấu suốt. Giống một ngày thu trong veo chợt ta nhìn rõ những vẩn mây lơ lửng tít khung trời.
Hoan đưa tách cà-phê lên môi uống cạn những giọt cuối cùng. Những giọt cà-phê đặc sánh thơm nức khiến anh nhớ những nương cà-phê chín đỏ, nhớ không khí mùa thu hoạch trên Xóm Núi, đám thợ hái cà-phê đi lại trò chuyện giữa các rặng cây, trời thênh thang, gió thổi, chim hót, tiếng sáo của lũ trẻ chăn dê từ các sườn dốc vọng về... Anh nhớ. Hồi nhớ không sót một mảy may cuộc sống anh từng sống. Anh thấy Miên đi giữa những nương vườn, tay này chị xách chiếc giỏ tre đựng thẩu chè đậu xanh đãi thợ và tay kia xách ấm trà tươi lớn, chị cười nụ cười mê hồn gương mặt ửng hồng với những giọt mồ hôi lấm tấm trên môi, cặp mắt đen láy nhìn anh qua đám lá cành, chờ đợi, e ấp như thời thiếu nữ chưa qua... Bây giờ, anh đã biết rằng anh chẳng bao giờ có cuộc sống thật sự nơi đây, trong thành phố này, nơi chẳng ai xót thương ai và tất cả bán mình cho đồng tiền trong túi. Ở đây, dù thành công hơn nữa, xây mười một ngôi nhà lầu anh cũng không sung sướng. Chỉ có một người có thể đem lại sinh khí cho cái thực thể mang tên hạnh phúc, người đó là Miên. Chính chị mới là cột trụ của cuộc đời anh, kẻ khai tạo niềm vui và nguồn vui sống. Chính chị là người bảo trợ cho anh. Xét cho cùng, người đàn ông như anh là kẻ yếu. Anh chẳng phải gã đàn ông có gương mặt vô cảm ngồi trước mặt anh kia. Gã, kẻ hùng. Gã yêu tiền, sung sướng vì tiền. Thế là đủ. Anh, con vật yếu đuối cần tình yêu. Chỉ một người có thể mang lại cho anh điều đó. Người ấy là kẻ mạnh. Người ấy đã bỏ anh ra đi vào một sớm sương mù, với bị cỏ Thạch trinh hương. Cuộc ra đi giống cuộc ra đi của kẻ tử thù. Nhưng chị đã quyết. Và chị bỏ anh côi cút sau lưng. Và cuộc đời xô đẩy anh đến bến bờ rác rưởi này... Sớm ấy sương mù... Tại sao lại có một buổi sớm sương mù như thế sau những ngày hạnh phúc? Tại sao vô vàn những hạt sương trên lá cành vườn tược rớt xuống mặt anh?
- Anh làm sao thế?
Căng cất tiếng hỏi đột ngột và nhìn chòng chọc vào mặt anh.
Hoan vội vã chớp mắt:
- Có con muỗi vừa bay vào mắt tôi...
Anh ta im lặng, đầy vẻ hồ nghi nhưng không gặng thêm. Rồi lát sau anh ta hỏi:
- Về chứ?
Hoan gật đầu:
- Về.
Căng rút ví:
- Tôi trả chầu cà-phê này.
Hoan gạt đi:
- Để tôi.
Nhưng anh ta lắc đầu quầy quậy:
- Không. Riêng lần này tôi trả. Tôi đang sướng. Những lần khác anh trả là hợp lý. Anh giàu gấp trăm lần tôi và nhờ tôi anh hiểu thêm được chuyện đời.
Nói rồi Căng quay lại bảo chủ quán:
- Nhớ món hàng tôi dặn... Hai con bò xứ biển, chọn loại thịt chắc nhưng đừng đen quá... Ngon lành đến mấy mà da đen xì cũng hết thú chơi...



Chương 19


V
ào mùa săn, việc nương vườn trễ nải. Các ông già bà lão ngồi uống nước chuyện vãn ngóng tin con cháu. Đám đàn bà ra ra vào vào ngóng chồng. Lũ trẻ biếng chơi, tụ tập chờ tin cha anh, mỗi lần có toán thợ săn trở về là chúng phóng như bay đến xem rồi lại phóng như bay đi khắp nơi loan báo. Tất thảy mọi đôi tai đều dỏng lên chờ hiệu kèn báo đoàn săn thú trở về. Không khí vừa khắc khoải, bồn chồn vừa nao nức như ngày hội. Khó ai đủ kiên tâm lên nương rẫy lúc này. Xóm thôn cứ lặng ngắt trong cơn hồi hộp như thế cho tới lúc mùa qua...
Một sớm, đứa con trai lớn của Xá chột tới nhà Bôn réo ầm ĩ từ ngoài ngõ:
- Chú Bôn... Ớ chú Bôn... Cha cháu nhủ chú sang uống rượu.
- Chú Bôn..., ớ chú Bôn...
Bôn còn đang ngái ngủ, thằng bé đã đập cửa buồng thình thình:
- Chú Bôn, mở cửa mau.
Bôn vừa bật chốt cửa, nó đã chạy tọt vào vừa thở hồng hộc vừa nói:
- Chú mau sang mà xem... Nhiều lắm, nhiều lắm... Hai con gấu ngựa này, ba con hươu với mạ heo độc nặng ngót hai tạ... Bố cháu bắn con heo độc đó, nhủ chú mau sang ăn thịt nướng.
Bôn hỏi:
- Họ đang chia thịt hả?
- Dạ.
- Chia ở đâu vậy? Nhà trưởng thôn à?
- Không... Nhà cụ trưởng phường.
Thằng bé đáp với vẻ khinh khỉnh. Tuồng như nó không hiểu vì sao anh cất tiếng hỏi ngớ ngẩn như vậy... Bôn chợt nhớ rằng trong mùa săn, mọi chức sắc của đời sống thế tục bị đẩy lùi xuống hàng thứ yếu và người thực sự có uy quyền là người thợ săn giàu kinh nghiệm nhất, biết đoàn kết anh em trong phường, biết dẫn họ đi theo những lối may mắn, biết chọn giờ xuất hành tốt nhất để săn được nhiều thú và tránh những rủi ro... Anh bảo thằng bé:
- Cháu về đi... Lát nữa chú sang.
Thằng bé chỉ chờ câu nói đó là cắm cổ chạy đi liền. Bôn chắc bố nó cùng đám bạn phường đang chia thịt. Cuộc chia bôi xem chừng phải hàng giờ mới xong. Theo lệ cũ, bất kỳ người thợ săn nào hạ được con thú cũng chỉ được hưởng một đùi tức là một phần tư con mồi. Ba phần tư còn lại được xẻ làm đôi, nửa chia cho anh em cùng phường nửa chia cho các hộ trong làng. Bởi thế đến mùa săn dù nhiều dù ít nhà nào cũng được thịt rừng và hễ là dân trong phường dẫu năm ba mùa liền chẳng bắn trúng con thú nào cũng vẫn được chia phần thịt đều như những người khác. Chỉ một tiếng nữa thôi, cả làng sẽ vang lên tiếng chày cối chí chát, tiếng dao băm xuống thớt, tiếng gọi í ới vọng qua các bức rào và không gian sẽ ngào ngạt mùi thịt nướng hoặc mùi phi hành tỏi...
Ta nấu nồi thuốc đã, uống xong sang cũng vừa...
Bôn nghĩ vậy. Anh xuống bếp đun nồi nước lá Dâm dương hoắc. Trong nhà còn một bát thuốc bổ khác chờ anh. Thứ thuốc ấy, chính cụ Phiều dạy anh nấu. Sau một thời gian sức lực anh khá lên đôi chút, cụ đã khuyên anh kiên trì uống cao dê. Thứ cao dê chuyên trị thận hư đau lưng, gân cốt yếu, hay đổ mồ hôi ban đêm, lòng bàn chân lẫn bàn tay sinh nhiệt, luôn bị táo bón và da lông khô ráp. Tất thảy các hiện tượng lâm sàng đều ứng đúng với Bôn, như thế anh phải uống bài: Ích âm bổ thận, cường tráng gân cốt. Bởi vì, theo cụ Phiều, không những anh hao tổn dương khí mà âm khí cũng tiêu tán, tì phế đều nhược, cần thay đổi các phương thuốc theo từng giai đoạn mới có thể cân bằng âm dương, di dưỡng sinh khí. Bài thuốc cụ bày cho anh không quá cầu kì nhưng cũng tốn công sức. Anh phải kiếm đủ tủy xương dê nấu chín, mỡ dê rán, mật ong trắng, gừng tươi, và củ địa hoàng tươi. Tuy nhiên, tất thảy những thứ đó đều mua bằng tiền của Miên, những đồng tiền rút từ túi áo chị. Sáng sáng, Bôn hòa cao dê với nửa bát nước sôi và nửa bát rượu uống thay trà. Sau khi thuốc ngấm, mồ hôi thoát ra ướt đẫm lưng áo, anh cảm thấy mình khỏe như thời mười tám, có thể chiến thắng mọi trở lực và làm cho Miên có thai ngay đêm ấy... Nhưng cảm giác sảng khoái và niềm tin đó chỉ tồn tại nửa giờ. Khi mồ hôi lạnh trong lưng, những cơn đau lại tới, những mối u hoài lẫn sự tuyệt vọng lại xô anh xuống dòng nước và anh chơi vơi như kẻ sắp chìm... Lần hồi, anh không còn biết mình phải làm gì? Anh vẫn uống thuốc như một cái máy đúng giờ nạp điện là nạp điện. Anh vẫn hy vọng phục hồi, vẫn không bỏ qua bất cứ lời khuyên nào, không đánh mất bất cứ cơ may nào để thực thi ước muốn... Nhưng cùng lúc ấy, có một gã đàn ông thảm đứng bên ngoài, nhìn tất thảy những nỗ lực của anh với cặp mắt chế riễu với nụ cười ảm đạm, gã đàn ông đó biết mọi nỗ lực của anh là nỗ lực của dã tràng, và trong nụ cười mỉa mai u ám của gã anh thấy một con thuyền gãy lái, cánh buồm tơi tả vẫn không ngừng bơi, không ngừng bơi...
- Chú Bôn... ớ chú Bôn...
Thằng con Xá chột đã quay lại, đang gào ngoài cổng với giọng bất mãn không che dấu:
- Bớ chú Bôn, cha cháu đang chờ chú ở nhà.
- Ờ, chú sang, chú sang ngay đây...
Bôn không ngờ cuộc chia chác chóng vánh như vậy. Anh vào buồng, uống bát cao dê hòa rượu rồi đi. Trưa nay, anh sẽ uống rượu với Xá. Sẽ bớt được một buổi trưa buồn tẻ vì theo lệ thường anh ăn bữa trưa một mình. Từ ngày Miên đưa con trai trở lại nhà cũ, họ chỉ ăn chung bữa duy nhất vào lúc tối trời. Sáng nào, Miên cũng dạy trước anh, nấu cho anh óc cơm nếp rồi sang nhà dì Huyên. Óc cơm nếp ấy anh ăn với thịt hoặc cá chị đã kho sẵn. Trưa anh có thể nấu chút cơm nóng ăn với canh rau hoặc bầu bí luộc. Nếu không, anh nấu bát cháo tiết dê hoặc cá riếc với thuốc nam theo cách chỉ dẫn của cụ Phiều. Chỉ đến buổi tối anh mới cảm thấy mình được quyền làm chồng, có một người đàn bà ngồi đối diện bên mâm cơm. Chỉ buổi tối, gian buồng của anh mới trở thành một mái nhà cho dù dưới mái tranh ấy anh không dám nghĩ anh có một tổ ấm, hoặc một cái tổ mà kẻ này ấm còn người kia lạnh...
Dẫu sao, trưa nay ta cũng sẽ được vui vẻ... Dẫu sao, Xá cũng là người bạn chân tình chẳng ai sáng được....
Ý nghĩ đó được anh kéo dài, nhấm nháp như đứa bé nhấm nháp mẩu bánh và khi bước chân qua ngưỡng cửa nhà bạn anh vẫn còn lâng lâng vui.
Xá chột ngồi khoanh chân trên phản đợi anh. Chai rượu thuốc trước mặt, đôi đũa gác ngang miệng bát. Chiếc mâm đồng lớn đặt chính giữa phản, trên đó lò than hoa đang nổ tí tách, cạnh lò là chiếc thẩu lớn bằng gốm da lươn đựng đầy thịt ướp. Bôn biết đó là thịt heo rừng, mạ heo độc đã ngã dưới mũi súng của Xá. Anh chàng sẽ được thăng lên hàng thợ cả sau chiến tích này. Săn nai, săn hươu, săn khỉ, săn hoẵng, săn chồn, săn cáo... thảy thảy đều là công việc của loại thợ cỏ, kể cả săn gấu chó cũng vậy. Nhưng một khi anh hạ được gấu ngựa, lợn lòi, hay hổ lập tức anh được lên chiếu trên, thành thợ cả hoặc thợ sơn gọng, hệt như võ sĩ Tây côn-đô được thăng từ đai trắng lên thẳng đai đen, bỏ qua đai xanh và đai nâu... Nếu con lợn lòi Xá hạ chỉ nặng cỡ tám chục cân, anh ta chẳng được vinh thăng như thế và ít nhất cũng qua vài mùa săn nữa Xá mới có thể mon men tới chiếu đàn anh, nhưng vì con vật anh ta hạ thủ nặng ngót hai tạ nên Xá đã nhảy một bước vọt lên thượng đỉnh làng săn như vậy chỉ trong một thời gian ngắn nữa, chắc chắn anh sẽ ngồi ghế trưởng phường thay cho cụ trưởng phường đang kiêm vị. Gương mặt chàng cựu chiến binh hoan hỉ. Thấy Bôn bước vào anh ta cao giọng gọi:
- Mẹ thằng cu đâu rồi? Mẹ thằng cu đâu?
Cô Soan chưa kịp trả lời, Xá đã quát:
- Khách đến rồi, mẹ thằng cu đâu?
Vợ Xá dạ ran lên hai ba tiếng liền dưới bếp rồi hơn hớn chạy lên chào Bôn:
- Mời anh vào, nhà em chờ anh đã lâu.
Bôn bước vào, cô Soan cũng bước theo, hai má đỏ hây hây như đào chín:
- Thôi, hai anh nhâm nhi với nhau cho ròn chuyện. Em xin phép ăn dưới bếp với mấy đứa trẻ, mẹ con em cũng được thoải mái vui vẻ với nhau.
Nghe vợ nói, Xá chột gầm gừ trong họng như dọa nạt nhưng con mắt lành của anh ta sáng long lanh. E hèm một tiếng, Xá bảo:
- Ấy là tự cô quyết định đấy nhé, chẳng phải tôi... Giao hẹn trước không sau này lũ trẻ lớn lên lại mách: Bố chúng mày ngày xưa phong kiến bắt mẹ với các con ăn dưới bếp chỉ riêng ông ấy ngồi chiếu trên... Đàn bà thời nay bình đẳng bình quyền đa sự lắm. Soan cười khanh khách, quay cổ lại đối đáp:
- Này bố thằng cu, em không có tài dựng chuyện cũng chẳng có nghề đơm đặt như anh. Cái kiểu đó các cụ vẫn gọi là: suy bụng ta ra bụng vợ đấy...
Nói rồi cô chạy tọt xuống bếp. Và từ dưới bếp tiếng cười của người mẹ trẻ với mấy đứa con ròn rã vọng lên. Tiếng cười làm Bôn tê tái... Giá như anh có ở lại Bản Kheo và có con với nàng Thoọng chắc chắn chẳng bao giờ cô nàng có được tiếng cười nổ như ngô rang lấp lánh bọt nước rực rỡ như nắng hạ. Tiếng cười đem lại nguồn sống cho người đàn ông... Giờ đây, liệu anh có thể có con chăng? Với Miên, người đàn bà anh yêu mê sợ hãi, người đàn bà quyến rũ anh và cũng làm giá lạnh mọi nỗ lực của anh khiến mỗi cuộc làm tình diễn ra như cuộc tỉ thí trên đấu trường và lạnh lẽo câm nín như nấm mồ, anh có thể vượt được những chấn thương tinh thần và thể xác để gieo hạt sống vào cơ thể chị hay không? Và nếu họ có con chắc chắn Miên cũng sẽ không cất nổi tiếng cười ròn rã sung sướng như vậy... Hạnh phúc... Phải thế chăng? Cho đến khi giã biệt cõi đời này anh cũng không thể có được thứ Xá chột đang có... Bến bờ ấy ở bên ngoài sông nước đời anh...
- Nào, rót rượu.
Bất chợt, Xá chột cất tiếng như quát bên tai Bôn. Miệng nói, tay anh ta mở nút chai rượu thuốc:
- Hôm nay được quyền say, liệu cậu uống nổi mấy chén này?
Bôn nhìn hai chiếc chén sứ sâu lòng chưa biết trả lời ra sao Xá đã nói:
- Rượu ngon đấy nhé, thang Anh Hùng hẳn hoi.
- Thang Anh Hùng là gì?
Bôn hỏi lại.
Xá cười:
- Gọi là thang Anh Hùng vì thứ rượu thuốc này chống lại tất thảy những biểu hiệu yếu kém của người đàn ông trên giường, giúp họ có khả năng bắn liên thanh hàng giờ liền và bắt người đàn bà thụ thai bất cứ lúc nào họ muốn... Ví như tôi đây, nếu tôi đủ lực nuôi nổi một tiểu đội tôi sẽ bắt vợ tôi đẻ liền mười hai đứa sáu trai, sáu gái... Cụ Phiều đã cho cậu uống thang thuốc này chưa?
- Chưa... Hiện tôi đang ăn cao dê kèm các loại cháo bổ.
- Ờ... Vì rượu đó quá mạnh chưa hợp với tạng của cậu. Cần phải chờ thêm một thời gian. Nhưng hôm nay có thể nếm trước vài chén, chẳng sao. Cậu sẽ thấy ngon miệng hơn. Theo lý thuyết của tôi không thứ thuốc nào hiệu nghiệm hơn thuốc bổ dạ dày. Cứ ăn được khắc khỏi hết mọi thứ bệnh và sẽ có tất thảy những gì muốn có. Cậu đã ăn thịt lợn rừng nướng chưa?
- Có, vài lần.
- Ướp với gia vị gì?
- Hành và tiêu bột.
- Ngu. Phải ướp mỡ nước, hành khô, tỏi khô đập giập, tiêu xanh và thêm là húng quế. Cũng chưa đủ, lại còn phải có chút đường, chút muối, vài nắm vừng rang, ít củ sả đâm nhuyễn... Thử cúi xuống ngửi xem thẩu thịt tôi ướp có đủ các thứ mùi đó hay không. Bôn cúi xuống ngửi, xác nhận trong thẩu có đủ thứ gia vị Xá đã liệt kê, ngoài ra anh còn thấy những mảnh ớt tươi băm vụn:
- Sao anh lại cho ớt tươi vào thịt rừng? Tôi tưởng ớt tươi chỉ làm nước chấm, kho cá, hoặc nấu canh chua?
- Ngốc. Phải có ớt tươi. Lát nữa cậu sẽ thấy mùi ớt tươi nướng hay ra trò...
Nói xong, Xá bắt đầu gắp thịt trong thẩu tải lên chiếc vỉ nướng trên lò than. Chỉ vài phút sau thịt bắt hơi than tỏa mùi thơm nồng dậy và mỗi lúc mùi thơm đó mỗi ngào ngạt hơn, đặc quánh hơn. Không còn riêng biệt mùi thịt chín tỏi hành phi mùi tiêu xanh hơ lửa hay mùi ớt cháy cùng lá húng... Tất cả hòa lại thành một hương vị không phân tách được khiến nước bọt tứa đầy. Xá luôn tay lật qua lật lại vỉ nướng cho thịt chín đều... Khi mẻ thịt đã chín tới độ, riềm những miếng thịt xém vàng Xá gỡ bỏ vào bát cho hai người đoạn anh ta gác vỉ lên lò:
- Nào, nhắm... Ăn hết vỉ này nghỉ vài phút rồi nướng vỉ thứ hai. Ta có cả một ngày để say sưa...
Họ nâng chén, nâng đũa. Món thịt nướng quả là ngon. Lần đầu trong đời, Bôn được ăn thịt rừng nướng ngon như vậy. Hai người im lặng khá lâu. Có lẽ Xá mải nhấm nháp món ăn lẫn niềm vinh quang. Vinh quang đến với anh chàng quá sớm bởi có nhiều tay súng gia nhập phường săn đến hai ba chục năm vẫn ở loại thợ săn cỏ và đến mãn kiếp cũng xếp trong đám đông chạy phía sau hiệu kèn. Xá vui ra mặt. Niềm vui đó lan sang Bôn trong khoảnh khắc, rồi nó ra đi rất nhanh:
Ờ, ta cũng có thể kiếm được niềm vui như Xá, nếu muốn. Tay súng ta cũng chẳng đến nỗi nào. Nhưng thú vui đó có nghĩa gì, chẳng có nghĩa gì hết... Màu xanh nhờm tởm của núi rừng khiến ta chẳng còn ham muốn. Thợ cả hay thợ cỏ cũng thế thôi, rồi cũng ra ma, Miên cũng sẽ ra ma người đàn ông kia cũng sẽ ra ma... Vô nghĩa hết...
Những ý nghĩ bay chập chờn như đàn bướm trong óc Bôn. Thứ rượu thuốc khiến anh ngây ngất, choáng váng. Nhưng anh vẫn tiếp tục uống. Xá chột không ngơi tay rót cho anh. Họ ăn hết mẻ thịt rất nhanh. Xá nướng tiếp mẻ thứ hai. Mùi thịt nướng lẫn mùi than lửa thơm ngây ngất... Và xa vời... Tuổi trẻ anh cơ cực, anh không được hưởng những thú vui gia đình, anh không được hưởng và không biết cách nấu nướng ngon lành như Xá. Sự đơn bạc của số kiếp chẳng rời anh. Đã có lần, anh chạm tay vào thần may mắn... cái ngày Miên bị bạn đẩy xuống suối anh đưa cánh tay ra và số phận kết trói họ... Số phận đã vĩnh viễn ràng buộc anh với người đàn bà ấy... Tại sao anh không từ bỏ Miên tìm một người nào khác? Có thể. Trên hai trăm cô gái ế chồng ở nông trường đang chờ anh. Anh có thể trở thành ông hoàng của một cô gái lỡ thì ở nông trường như anh đã từng là ông hoàng của nàng Thoọng nơi Bản Kheo. Và dù sao đây cũng vẫn là xứ sở của anh, anh được nói tiếng mẹ đẻ, được ăn những món ăn quen từ thuở lọt lòng... Tại sao anh không thử thời vận may một lần? Tại sao anh thối chí? Không, không, đã quá muộn. Anh không còn sức để thử vận may. Vầng trăng bạc trên dãy núi Bản Kheo đã hút hồn anh, anh đã đi theo nó, đã rút tới giọt sinh lực cuối cùng. Trong cuộc hành trình ấy, máu lẫn mồ hôi anh đã tháo chảy giờ đây anh chỉ còn là một hình hài trống rỗng một nhúm da khô xác đen sạm một trái tim cạn máu giống như vỏ quả bầu khô...
- Ngon chứ hả?
Bất chợt Xá lên tiếng. Bôn gật đầu:
- Ngon... Ngon lắm.
- Sao mắt cậu lờ đờ thế kia? Mới có vài ngụm rượu đã say à. Hèn quá...
Ngoái cổ ra sân, Xá gọi:
- Mẹ thằng cu đâu? Cho bát cháo đậu xanh lên đây...
- Dạ... Có ngay...
Soan đáp. Chỉ nháy mắt sau chị đã bưng lên khay gõ nhỏ trên đặt một bát chiết yêu cháo nóng nghi ngút, thứ trá o đậu xanh nấu lẫn nếp sánh như hồ:
- Anh Bôn đã ngà say rồi ư?
Chị hỏi rồi đặt tô cháo trước mặt Bôn:
- Anh ăn cháo đi, chỉ vài phút là tỉnh.
Soan đặt thêm một lọ đường với chiếc đĩa đựng muối bên cạnh tô cháo.
Xá hỏi:
- Cậu ăn cháo muối hay đường?
Soan nói:
- Cho anh ấy ăn muối mình ạ... Ăn cháo muối mau tỉnh hơn...
- Ờ thì muối...
Nói đoạn xá nhúm mấy hạt muối bỏ vào tô cháo cho Bôn. Soan lại đưa tay ngăn chồng:
- Ăn ít muối thôi kẻo lại đau thận...
Dặn dò xong người đàn bà cầm chiếc khay gỗ đi xuống bếp. Bôn bưng bát cháo ăn và đột nhiên anh nghĩ:
Mình thèm một người vợ như Soan, như Soan... Mình có thể yêu cô ấy ngay bây giờ ngay ngày hôm nay... Và mình sẽ nói thẳng với Xá điều này...
Ăn xong bát cháo, mồ hôi vã đầy mặt và gáy Bôn. Anh rút khăn lau mặt, cảm thấy cơn chếnh choáng tan dần óc não tỉnh táo lại và ngay lúc ấy anh lạnh sống lưng: Anh vừa phạm tội. Anh vừa ước muốn vợ bạn. Trong lúc húp những miếng cháo nóng sực anh đã nhìn tấm lưng Soan, cặp mông đung đưa với những khát thèm tội lỗi, và khởi đầu sự ước muốn đó từ lúc cô cúi đặt tô cháo trước mặt anh:
Ta thật khốn nạn... Xá là người tử tế nhất với ta...
Bôn vụng lén đưa mắt nhìn Xá, anh ta vẫn tiếp tục uống rượu với thịt nướng, đang liếm mép một cách ngon lành. Nhìn cái điệu bộ đó, thấy anh có thể chén hết cả thẩu thịt cũng chưa say. Bôn biết Xá chẳng mảy may để tâm đến những gì vừa xảy ra với mình. Anh run run thở:
- Thôi, cơm no rượu say rồi tôi về đây.
Nói rồi Bôn đứng lên ngay định bụng ra về tức khắc để quên đi cái chuyện vừa xảy ra, dù chỉ mình anh hay biết. Nhưng Xá đã quát tướng lên:
- Điên à? Nghỉ một lát rồi tiếp tục uống rượu... Mấy tháng rồi cậu mới tới nhà tôi. Bôn đáp:
- Anh bận, tôi chẳng dám quấy.
Xá lắc đầu giận dữ:
- Cậu tịt ngay cái giọng khách sáo thị thành ấy đi... Tôi đang có chuyện muốn hỏi cậu... Ngồi xuống.
Giọng anh ta đầy uy lực và sự ngay thẳng nhiệt thành của anh cũng đầy uy lực. Bôn đành ngồi xuống phản. Con mắt lành của Xá chăm chú hướng về anh:
- Tôi nghe nói cô Miên dẫn thằng con trở về nhà cũ.
- Phải.
- Cô ấy có nói gì với cậu không?
- Đứa bé muốn có chỗ chơi. Ở đó sân rộng vườn rộng nó có thể đạp chiếc xe ba bánh. Hơn nữa Miên còn nương vườn, cô ấy cần xem xét công việc.
- Và cậu phải chấp nhận?
Bôn không đáp.
Xá tự trả lời:
- Cũng phải chấp nhận thôi. Lẽ ra, cô ta có thể cự tuyệt quay về với cậu từ đầu, nhưng tôi nghĩ cô ta vẫn còn thương cậu đôi phần... Hoặc nói cho đúng hơn, cô ta chịu hy sinh thân mình để bù trả cho những thiệt thòi của cậu... Nhưng sự hy sinh nào cũng có giới hạn. Tôi đã lường trước việc này...
Bôn đứng lên:
- Anh lại sắp nhắc tới hai trăm cô thanh niên xung phong quá lứa và yêu cầu tôi tới đó phải không? Tôi chán lắm rồi...
Xá quắt mắt quát:
- Cậu đừng sĩ... Giờ bụng có muốn tới đó cậu cũng chẳng dám đi. Tôi biết tỏng điều ấy...
Trán Xá cau lại, cày một dãy vết nhăn sâu gương mặt anh ta có một vẻ gay gắt và chua xót lạ lùng. Bôn không chịu nổi ánh mắt dữ dằn của Xá nên đành cúi mặt im lặng. Xá bảo:
- Làm sao phải sĩ diện thế? Mà lại sĩ diện với tôi? Tôi có định tranh cướp cô Miên với cậu đâu? Tôi có phải là tình địch của cậu đâu? Tại sao phải giữ cái thói sĩ diện thối tha ấy?
Càng nói giọng Xá càng cọc cằn giận dữ và những nếp nhăn càng đào sâu thêm trên trán anh ta, dưới món tóc mà lần đầu tiên Bôn nhìn thấy vài sợi bạc:
Phải, ta là kẻ thối tha, vì anh ấy thương ta thật lòng. Xá phải lo kiếm tiền nuôi vợ nuôi con, tu tạo cửa nhà, một trăm thứ việc nhưng vẫn còn phần áy náy cho ta...
Gạt chiếc bát sang một bên, Xá nói tiếp:
- Cậu nên biết rằng nếu có cuộc tranh chấp giữa cậu với một người đàn ông khác, hẳn tôi phải đứng về phía cậu... Chúng ta, những kẻ đã chia sẻ thiệt thòi, có chung nhiều mất mát... Tôi biết nỗi đau cậu phải chịu và tôi chỉ mong những tốt lành đến với cậu. Sao cái sự đơn giản ấy cậu không chịu hiểu?
- Tôi hiểu, anh thương tôi hơn tất thảy mọi người... Nhưng anh khó thông cảm được với tình cảnh của tôi.
- Có thể...
Xá đáp, giọng dịu xuống:
- Có thể tôi suy nghĩ khác cậu và tính khí tôi khác cậu... Có thể là tôi chủ quan khi gán ghép những tính toán nhận định và cách xử thế của tôi cho cậu... Bởi vì nếu là tôi...
Nói tới đó Xá thở dài, mở nút chai rượu rót tiếp:
Bôn hỏi:
- Anh vừa nói: Nếu là anh...
Xá gật:
- Nếu là tôi... Phải, nếu là tôi khi trở về người vợ đã kết hôn với kẻ khác tôi sẽ...
Bôn tiếp lời:
- Anh sẽ bỏ đi... như nhiều người đàn ông khác... Như đa phần những người đàn ông trên đời. Những người đàn ông cao thượng trọng danh dự hơn hết thảy... Nhưng tôi chẳng cần những thứ đó. Tôi cần hạnh phúc, tôi muốn được ăn nằm và có con với người đàn bà tôi yêu... Tôi chẳng ông chồng trinh tiết hay đức hạnh. Tôi đã ngủ với những người đàn bà khác dọc đường chiến tranh và tôi biết rằng con người chỉ hạnh phúc khi được làm tình với người mình yêu...
- Bây giờ cậu hạnh phúc chứ?
Xá hỏi.
- Tôi yêu Miên và bây giờ cô ấy là vợ tôi. Tôi có thể ăn nằm với cô ấy bất cứ lúc nào tôi muốn.
Bôn đáp lại, giọng nhát gừng khinh khỉnh, vẻ mặt lạnh lùng trong lúc óc não anh liệt kê những cuộc làm tình bất khả, trái tim tê bại nhục nhã của anh rên rỉ và tâm hồn anh như mảnh vải mục đang tan mủn dần trong chất cường toan.
Ta phải về, phải về, phải về...
Anh tự nhủ, sợ rằng chỉ một ly nữa thôi, cốc nước sẽ tràn, nồi đau đớn sẽ đập vỡ trái tim khô kiệt của anh và anh sẽ òa khóc sẽ đổ gục như thân chuối bị phạt trước mắt người bạn thuở thiếu thời:
- Tôi về đây.
Bôn nói. Xá không trả lời. Anh lại thở dài não nề và gương mặt bỗng trở nên xa vắng. Dường như trong giây lát, Xá đã quên bẵng câu chuyện họ đang nói và anh đang rượt đuổi một cơn mơ ngày hoặc một con lợn độc trong cánh rừng tưởng tượng. Sau một lát im lặng bất chợt Xá ngẩng lên:
- Cô ấy vẫn chưa có thai à?
- Chưa.
- Cụ Phiều bảo cậu còn phải chờ bao lâu nữa?
- Ông cụ chẳng nói rõ thời gian, chỉ khuyên kiên trì.
Xá nhếch mép cười:
- Chờ đợi không phải nghề của người đàn ông. Mà thời gian cũng chẳng phải cái túi không đáy. Tôi ngờ rằng cậu không còn thời gian và vì thế phải dùng các biện pháp mạnh.
Bôn im lặng. Anh biết Xá có lý. Xá hoàn toàn có lý. Anh không còn thời gian. Cuộc sống chung của anh với Miên đã trượt trên con dốc nghiêng chẳng bao lâu nữa là tới bờ. Xá nhìn anh, nói tiếp:
- Người ta có dạy tôi một bài thuốc, cậu có thể xem xem. Nếu buổi tối cậu uống một cốc cà-phê đặc pha với vài hạt muối trước khi gặp đàn bà chừng nửa giờ, cậu có thể hưng phấn bắn liên thanh khoảng một giờ liền mà nòng súng không nóng chảy, nhưng chỉ được phép làm vài lần thôi, sau đó phải chấm dứt vì phương thuốc này đốt thận. Nhưng trong vài lần tăng cường độ đột ngột như thế, tỷ lệ thụ thai rất cao.
- Cảm ơn anh, tôi sẽ xem xem...
Bôn đáp với vẻ dửng dưng nhưng thực ra anh đã nghe như nuốt lấy từng lời. Họ từ biệt. Trái với lệ thường Xá đưa Bôn ra cổng. Xá không nói gì thêm. Bôn cũng vậy.
Chiều đó Bôn ngủ một giấc dài rồi sang nhà cụ Phiều xin vài tách cà-phê rang sẵn. Dân Xóm Núi trồng cà-phê nhưng ít uống. Họ vẫn ưa uống trà búp hay nụ vối vườn nhà, vừa rẻ vừa giản tiện. Chỉ một vài gia đình khá giả trong làng thích thứ đồ uống lách cách đó. Đứng đầu bảng là cụ Phiều. Ông già đa tình và kiêu hãnh này thường tuyên bố:
- Đã là người phải biết sự khổ cùng cái sướng. Chẳng ngu dại gì mà không thụ hưởng những sản vật tự tay mình làm ra. Dân xứ quê nuôi gà nhưng chỉ dá ăn gà toi gà dịch, nuôi lợn nhưng chỉ dám thịt lợn còi, trồng lạc trồng đậu cũng chọn hạt nẩy đem bán còn hạt thối hạt lép dành cho mình ăn... Thế nên các cụ đã bảo trăm năm ngàn năm thằng còng làm thằng ngay ăn... Nhưng tôi vốn ngược đời, cái gì tôi làm ra tôi hưởng trước hết, và hưởng phần ngon nhất...
Gia đình cụ nhất nhất tuân thủ nguyên tắc ấy. Khi nào muốn thịt dê họ cắt tiết con dê ngon nhất đàn, muốn thịt lợn họ chọn con béo nhất chuồng. Trứng gà đẻ hàng ngày con cháu cụ nhặt quả tươi ăn trước, còn thừa mới đem bán. Cả vùng nhìn gia đình cụ với con mắt thần phục và ghen tị. Khi Bôn đến, cụ Phiều vừa tắm xong đang ngồi uống trà, ngang lưng quấn tấm khăn lông. Tắm nước nóng rồi uống trà nóng cho mồ hôi thoát ra, mồ hôi ra tới đâu dùng khăn bông thấm tới đấy, ấy là một trong những phép dưỡng sinh của ông lão độc đáo này:
- Vào đây, vào đây...
Vừa nhìn thấy Bôn ở đầu ngõ, cụ đã cất tiếng hồ hởi:
- Tuần trà này xanh lắm, không uống cũng thiệt.
Cụ nói và rót cho anh chén trà nóng. Bôn uống hết chén trà mới dám cất tiếng hỏi:
- Cháu nghe nói bác vẫn uống cà-phê thường ngày. Bác có thể cho cháu vài thìa được không?
Cụ Phiều nhìn anh:
- Anh định dùng bài cà-phê muối chứ gì?
Bôn im lặng. Chẳng gì giấu được lão phù thủy này.
Cụ Phiều nói:
- Tôi không lạ gì phương pháp ấy. Nó có thể đem lại kết quả tức khắc nhưng nguy hại cho anh lâu dài. Nó là con dao hai lưỡi, phải nghĩ kĩ đi...
- Cháu biết điều ấy... Nhưng cháu phải có con... Cháu cần có ngay một đứa con...
Bôn đáp và bỗng dưng giọng anh rung lên như sắp khóc. Cụ Phiều ngoảnh mặt ra vườn nhìn ngọn cây một lát, như chờ cơn xúc động của Bôn qua đi. Rồi cụ đứng dậy mở tủ, lấy trong đó chiếc bình thủy tinh đựng đầy hạt cà-phê rang và chiếc cối xay nhỏ. Đem tất cả ra bàn, cụ thong thả lấy thìa xúc cà-phê bỏ vào cối xay. Mùi thơm bay lừng. Bột cà-phê rất mịn và màu nâu óng của nó tỏa vị mỡ gà. Bôn nói:
- Thơm thật.
- Ờ, tôi rang bằng mỡ gà trống thiến.
Cụ dốc cối cà-phê xay vào một tấm giấy dầu, gói lại đưa cho Bôn:
- Anh cầm lấy.
- Cháu cảm ơn bác.
Bôn nói và đứng lên, định ra về tức khắc. Nhưng cụ già lại bảo:
- Anh chưa về được. Chờ tôi lấy cho chiếc phin đã... Không lẽ về nhà anh bỏ vào nồi mà đun?
Bôn sựng lại.
Mình quê mùa hơn cả một lão nông...
Cụ Phiều đã quay ra, đưa cho anh chiếc phin pha và nói:
- Đừng đổ quá nửa phin, nếu không nước không xuống nổi. Và anh cũng không được quên rằng nước pha cà-phê phải thật sôi.
Anh cảm ơn ông lão lần nữa rồi ra về.
Đây là vũ khí của ta, cứu cánh cuối cùng để dành lại hạnh phúc. Cuộc đời phía trước của ta trông chờ vào thứ bột kích thích này...
Anh nghĩ, và vừa đi vừa thò tay nắn gói cà-phê trong túi quần. Đường làng vắng tanh. Giờ này chẳng ai đi chơi cả. Thế cũng may, nếu không sẽ có kẻ bắt gặp anh vừa đi vừa cười và người ta ngờ anh mất trí...
Tối hôm ấy sau bữa cơm chừng nửa giờ Bôn đun nước pha cà-phê. Mùi thơm tỏa lừng căn buồng. Miên đưa mắt nhìn anh ngạc nhiên nhưng không nói gì. Chị lấy mớ quần áo khô ngồi gấp.
- Miên có uống cà-phê không?
Bôn hỏi:
- Không.
Chị lắc đầu.
- Tôi tưởng Miên vẫn thường dùng cà-phê... ở đằng kia?
Anh hỏi tiếp, đưa mắt nhìn sâu vào mắt chị xem câu hỏi ấy gợi lên những kỷ niệm và ý nghĩ gì... Anh biết căn bếp sang trọng của Miên, chắc chắn ở đó phải có những lọ thủy tinh đựng thứ cà-phê hảo hạng như của nhà cụ Phiều. Nhưng Miên không đáp, chỉ lặng lẽ gấp quần áo, thứ lặng lẽ vẫn có từ ngày về sống với anh. Chỉ một lúc lâu sau, khi thấy anh vẫn kiên tâm chờ câu trả lời của mình, chị mới ném vài lời uể oải:
- Ở đằng kia em có uống... Nhưng không ai uống cà-phê vào buổi tối...
Nói rồi, chị mang mớ quần áo đã gấp bỏ vào hòm. Bôn nhìn theo Miên, con tim đập náo nức:
Phải, chẳng ai uống cà-phê vào buổi tối như tôi. Tôi, kẻ khốn khổ rồ dại, kẻ yêu em với tình yêu của tên nô lệ của gã ăn mày... Nhưng đêm nay, em sẽ biết tôi là ai...
Sau lời tuyên bố thầm lặng ấy anh nghe tiếng cười đắc thắng vang lên. Tiếng cười của chính anh và của cái kẻ đứng ngoài anh cả hai cùng cất tiếng cười sằng sặc ngạo nghễ điên rồ cuồng loạn và cùng lúc cả hai tiếng cười cùng dội đập vào anh, vọng lên những hồi âm rùng rợn thâm u như tiếng cười của lũ ma dưới đáy vực. Miên chẳng hay biết gì những ý nghĩ của Bôn. Cất quần áo xong chị trở lại giường buông màn, nằm đúng vị trí thường ngày, tay vắt lên trán. Bôn liếc nhìn vợ, bắt đầu uống từng ngụm cà-phê, thứ cà-phê đặc sánh gần như ngả sang đen, thơm ngậy đắng và mặn. Anh uống nhưng không hề cảm nhận mùi vị đồ uống, chỉ đợi thứ nước nóng bỏng đang chảy vào dạ dày. Ở đó, nó sẽ truyền sang các mạch máu một chất kích thích, một ma lực khiến cơ thể anh cháy bùng như lửa, dữ tợn và hùng mạnh như cơ thể một đấu sĩ...
- Ta để đèn đêm nay chứ Miên...?
Chị không đáp. Có lẽ, chị nghĩ anh lẩn thẩn hoặc không có chuyện gì để nói nên lảm nhảm những câu vô nghĩa như vậy. Cánh tay chị vẫn gác trên trán, không động đậy. Bôn nhìn vợ. Khoảng da nơi cổ Miên lộ ra phơn phớt màu cam vì ngọn đèn đêm của họ được che bằng tấm giấy bóng kính màu cam. Bôn thích màu đó. Anh mê mải nghĩ:
Đêm nay ta sẽ hôn lên đó, ta sẽ hôn lên môi, ta sẽ...
Ý nghĩ đầy phấn khích, tươi sáng như ánh đèn. Đã từ lâu anh không dám hôn vợ. Căn bệnh thối mồm không thuyên giảm bao nhiêu và nỗi sợ hãi khiến anh không dám vượt qua hàng rào cấm kỵ... Nhưng đêm nay, một đêm thần kỳ... Nó sẽ cho phép anh làm tất cả... Cà-phê muối đã ngấm. Bôn thấy toàn thân anh từ từ nóng lên, rồi nóng sực, có chút mồ hôi toát ra sau gáy. Ruột cồn cào. Từ thẳm sâu trong anh vừa bùng lên ngọn lửa. Thoạt tiên nó leo lét như lửa nhóm giữa những cành củi nhỏ, nhưng càng lúc nó càng bốc cao càng lan rộng tựa các đống lửa trại thời hoan niên anh từng đốt. Lửa bén bùng nhanh như phép lạ, những lưỡi lửa sinh nở như loài tảo biển, ngọn lửa mẹ đẻ ngọn lửa con, ngọn lửa vàng sinh ngọn lửa đỏ, ngọn lửa đỏ gọi những ngọn lửa trắng... thảy thảy chất chồng ngút ngát mênh mông như lửa cháy rừng. Lửa luồn lách trong các cơ bắp thổi luồng khí nồng nàn hừng hực dưới da, tỏa hơi nóng đến từng lỗ chân lông, từng gốc sợi tóc:
- Miên... Hãy quay lại với tôi...
Anh lẩm bẩm với nụ cười mơ hồ. Ánh sáng loang một vùng trên da thịt Miên. Da thịt Miên trắng nõn ánh hồng ánh cam. Anh nhìn rõ cặp vú chị với hai núm vú nhỏ và mịn đang vồng lên như những trái đồi... Những trái đồi của một mùa xuân đã qua. Mùa xuân ấy, lần đầu anh thọc tay xuống đũng quần ướt, tự biết mình đã trưởng thành, hoảng sợ ngất ngây khi con giống dựng ngược như cây cọc gỗ... Mùa xuân trẻ trung tươi rói. Những trái đồi xuân mơn mởn cỏ cây, mưa bụi giăng trắng xóa từ đồi nọ sang đồi kia từ thung này sang thung khác. Anh lăn lộn trên các dải đồi ướt sũng. Anh băng qua thung lũng, da thịt quệt vào cây lá ướt ròng sương đêm. Anh thơ dại trẻ trung tràn đầy sinh lực tựa hồ mọi bụi cây bờ cỏ kia không ướt sũng mưa bụi hoặc sương đêm mà ướt nhểu thứ nước của sinh lực từ con giống anh chảy xuống...
- Khéo anh làm tắt đèn...
Miên cất tiếng khi Bôn đi ngang qua nơi đặt hộp đèn đêm để leo lên giường. Bôn cười:
- Không tắt đâu... Đêm nay đèn không tắt được...
Vừa nói anh vừa cúi xuống khêu to ngọn lửa lên. Căn buồng sáng hẳn ra. Miên quay nhìn anh với ánh mắt kinh ngạc nhưng chị chẳng nói gì thêm, chỉ lẳng lặng nhắm mắt và gác cánh tay lên trán. Ánh đèn rọi vào một bên má người đàn bà, đường lượn bên hàm và một phần cổ. Bôn chăm chú nhìn khoảng da thịt tươi mịn ấy rồi bất chợt nắm cánh tay Miên kéo xuống:
- Miên, tôi yêu em.
Chị chưa kịp phản ứng gì anh đã lặp lại lần thứ hai, thứ bà, thứ tư như bắn súng:
- Tôi yêu em, tôi yêu em, tôi yêu em....
Giọng anh mỗi lúc mỗi khàn đi, hung dữ khiến chị hoảng hốt:
- Đừng... Đừng anh...
Miên co cánh tay, định ngồi dậy nhưng bằng một cữ chỉ phũ phàng anh đã giằng cánh tay chị xuống siết chặt nó trong bàn tay nóng bỏng của anh và những ngón tay anh căng lên như những gọng kìm:
- Không gác mãi cánh tay lên trán nữa... Như thế đủ rồi...
Bôn nói tiếp, những ngón tay thép của anh siết chặt hơn nữa và thốt nhiên gương mặt anh tím bầm lại, anh quát:
- Như thế đủ rồi... Cô hiểu chưa...?
Cổ Miên tắc lại vì kinh hoàng. Nỗi kinh hoàng khiến chị đờ dại và vẻ đờ dại đó thú nhận chị sợ hãi, chỉ trong nháy mắt căn buồng gian hãm loài quỷ dữ đã bị rút chốt, cánh cửa bật tung và lũ quỷ điên rồ lao ra. Bôn đột ngột chồm lên vặn hai cánh tay chị khiến chị đau nhói. Khi thấy chị không còn chống cự được nữa anh cúi xuống lung hăng giật những chiếc nút áo trên ngực chị với vẻ tàn bạo chưa từng có. Hơi thở hôi và nóng rực của anh thổi lên mặt, lên cổ, lên tóc tai chị thứ lửa địa ngục và miệng anh không ngừng rít lên:
- Đáng lẽ ta phải làm như thế này... Ta phải làm như thế này từ lâu... Ta đã quá nhẫn nhục, ta nhẫn nhục như con lừa... Ta đã phải sống kiếp lừa lâu quá...
Miên muốn chống cự. Chị biết chẳng có lý do nào khiến chị phải chịu ngược đãi. Nhưng chị sợ cơn điên rồ của Bôn, chị sợ gương mặt tím bầm như mặt quỷ, chị sợ anh có thể gào thét hoặc làm những trò dã man khác mà chị không thể lường trước. Chị đành nằm đờ như khúc gỗ để mặc anh giằng xé, vật vã chị như một đứa trẻ độc ác giằng xé con búp-bê nó có trong tay...
- Miên, tôi yêu em...
Sau khi lột hết quần áo của Miên anh ném chúng vào góc giường và anh kêu lên rất to:
- Tôi yêu em...
Miên chết lặng. Chị muốn van xin anh đừng hét lên như vậy.
Không người đàn ông tử tế nào hét lên khi ăn nằm với vợ theo kiểu đó bởi bất cứ thứ tiếng động quá trớn nào cũng vang dội trong đêm và đánh thức những lỗ tai tò mò của láng giềng. Chị muốn mở miệng nhưng nỗi sợ khiến chị gần như tê liệt. Anh đang quỳ dưới chân chị, nhìn chồm chỗm vào thân thể trần truồng của chị trong tư thế loài hổ vồ mồi với vẻ mặt lạ lùng và trên đôi môi thâm tím của anh một nụ cười mơ hồ vừa nở ra, nửa như cười và nửa như mếu. Miên sợ hãi đến mức không dám nhìn Bôn nữa, chị nhắm nghiền cặp mắt lại. Trong lúc ấy Bôn vẫn không ngừng kêu:
- Tôi yêu em, yêu em, yêu em... Em là người đàn bà của tôi... Em phải là của tôi...
Mỗi lần anh lập lại, ngọn lửa trong anh bốc cao hơn, bỏng rát hơn. Lửa reo cười ca hát lửa gào thét rú rít. Trong ngọn lửa hoang cuồng, anh lại thấy biển lửa trên cao điểm 327 năm nào, bốc rừng rực sau loạt bom xăng vươn lên trời đêm muôn vạn bức tường đỏ rực, thiêu đốt mọi vật, đun sôi bọt nhựa các loài cây, bốc bay lên những mảnh quần áo lính, vừa bốc bay vừa cháy, vừa múa lượn vừa hóa than tro, như muôn vạn cánh dơi dưới bàn tay phù thủy, lửa tung tóe những tràng đạn pháo, thổi mù mịt tàn tro và bột xương cốt. Ngọn lửa ấy giống ngôi sao chổi khổng lồ lướt qua dải Trường Sơn, qua những giải rừng xanh trùng điệp thiêu cháy bao nhiêu triệu mảnh đời... Bôn thấy anh từ ngọn lửa đó bước ra, tả tơi hình bóng, không còn da thịt chỉ bồng bềnh than tro, chẳng còn là người chỉ còn là ảo ảnh...
- Không. Không. Không. Không. Không....
Ai đó thét lên.
Tiếng lay động núi rừng.
Và anh, anh cắm mặt xuống da thịt người đàn bà anh yêu:
- Tôi yêu em, yêu em, yêu em... Em phải là của tôi, phải sinh con cho tôi, là vợ tôi mãn kiếp.
Anh nói với Miên và nói với chính mình, hối hả tuột quần áo, hối hả hôn hít nhay cắn vợ, cảm thấy tất cả máu trong huyết quản đang sôi, đang cất tiếng cười sằng sặc điên dại hân hoan khi con giống dựng ngược lên và cứng như thỏi sắt:
Miên ơi, tôi là chồng em muôn thuở, chúng ta sẽ có con đàn con đống và sẽ sống cùng nhau tới lúc xuống mồ...
Anh thì thầm với chị trong tim, trái tim bắt đầu nguôi dịu khi anh cắm ngập thứ vũ khí duy nhất, thứ vũ khí tối hậu, cứu cánh cuối cùng của cuộc đời anh vào thân thể chị.



Dương Thu Hương
(còn tiếp)






*


Ra Mắt Sách

bỏ túi


Sáng chủ nhật, 22-5-2016

từ trái, Trần Yên Hòa, Trần Văn Nam, Thành Tôn, Phạm Phú Minh đã có một tiệc nhỏ RMS

bỏ túi tác phẩm Sấp Ngửa của Trần Yên Hòa, tại Quán Hợp.

cùng cụng ly chung vui.



rms_sap_ngua-content


6

 

Amazon Sấp Ngửa

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address