DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,823,912

Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 23, 24, 25)

05 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 3311)
Dương Thu Hương - Chốn Vắng (Chương 23, 24, 25)

Chốn Vắng





blank



 
Chương 23


Ở Xóm Núi, chuyện của mọi nhà đều bị đem ra bàn trong các câu lạc bộ gia đình. Dù họ là ai và bất kể muốn hay không các nhân vật nằm trong tầm quan sát của đám đông đều bị mô tả, phân tích, mổ xẻ phẩm bình và sau rốt phải nhận sự phán quyết. Những câu lạc bộ gia đình là những pháp đình xưa cũ nhất nơi làng quê. Xóm Núi vốn là một làng lớn nhưng vẫn giữ tên khởi thủy nên người ta chia nó thành ba đơn vị: Xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Trung. Mỗi xóm có một tụ điểm, ấy là nơi hội họp, tán gẫu, nghe đài khi dòng đời bình lặng, để bàn cãi tranh cướp được thua và sau rốt tuyên án nhân vật nào đó khi trong làng xảy ra một sự kiện bất thường. Các câu lạc bộ gia đình đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của dân cư, chúng được hình thành lúc nào chẳng rõ, thường là ở những gia đình khá giả và hiếu khách, nơi xóm giềng có thể thả sức tụ bạ mà không sợ bà chủ sưng mặt hoặc ông chủ ném mèo quèo chó. Các gia chủ luôn luôn có vài món ăn vặt đãi khách. Nhà ông trưởng xóm Hạ có lạc rang với bỏng ngô. Nhà ông trưởng xóm Thượng có mía lùi hoặc mía ướp hoa bưởi. Nhà cụ Phiều ở xóm Trung có mứt sắn và bỏng nếp ngào mật. Không ai quy định lịch sinh hoạt nhưng người ta thỏa thuận ngầm rằng cứ năm sáu hôm một lần, tùy theo thời tiết trời ấm lạnh, quang quẻ hay mưa gió. Vào những ngày thuận trời, sau bữa cơn chiều gia chủ thắp cây đèn bão lớn đặt trước thềm đó là dấu hiệu báo trước một buổi tối sum họp. Nhưng trong vòng hai tháng nay, mọi sự đảo lộn. Không chờ cây đèn bão của gia chủ khêu lửa, người ta tự xách đèn nhà tới rồi mặc cho gia đình chủ nhà dang dở bữa cơm, khách đã ngồi đầy thềm, đầy sân, người kiếm ghế, kẻ mượn chiếu rải, mấy bà tự xách ấm xuống bếp đun nước, mấy ông tự rút trà đem theo trong túi ra pha, chuyện rào rào như ong vỡ tổ. Chẳng ai rào đón, chẳng ai vòng vo, họ đâm bổ ngay vào câu chuyện đang làm náo động cả vùng: Cuộc tình duyên oái oăm giữa một bà vợ với hai ông chồng. Giá như đó chỉ là một chuyện tình thuần túy hẳn mọi người cũng không đến nỗi bức xúc như vậy, nhưng chuyện này lại kèm theo một sự kiện hết sức trọng đại với cuộc sống của họ: Việc mọc lên một ngôi trường tiểu học mười hai lớp, đủ cả phòng thể dục lẫn giải trí cho cơ dân miền sơn dã. Bao đời nay Xóm Núi chỉ có một lớp vỡ lòng, đặt sau chái đình đổ nát. Đình làng cũ đã bị phá một nửa thời kháng Pháp, sau hòa bình ủy ban phá nốt nửa còn lại và xây trên đó ngôi trụ sở ủy ban. Riêng chái nhà phụ của đình xưa vẫn đứng gù gù như kẻ tàn phế phía sau lưng trụ sở, trông cóc cáy bẩn thỉu với mấy bức tường lở lói không cửa sổ cũng không cửa ra vào, trống hoang huếch.
Trong chái đó kê dăm hàng ghế băng với tấm bảng đen cũ, ấy là nơi khai trí cho bọn trẻ Xóm Núi. Khi đã vỡ mặt chữ, lũ trẻ phải sang học tiểu học ở làng bên, tuy nhỏ hơn Xóm Núi nhưng gần huyện lộ. Bởi thế, đám trẻ Xóm Núi bỏ học cũng nhiều. Ba cây số đối với trẻ nhỏ không phải là ít, hơn nữa lại phải lội qua con suối. Ngày Hè đã vậy nhưng còn có mùa Đông. Lúc tạnh ráo đã đành nhưng còn hồi mưa gió... Thế nên khi ủy ban xã ra thông báo tiếp nhận quà tặng của công dân Trần Quý Hoan gồm ngôi trường tiểu học mười hai lớp kèm khu văn phòng và thể thao giải trí dân cư Xóm Núi náo loạn cả ngày lẫn đêm. Cái tin đó, dù đã được in rành rành trên giấy trắng mực đen vẫn giống cơn mơ ban ngày hoặc chuyện thần thoại hơn là sự thật. Người ta nửa tin, nửa ngờ. Nhưng chỉ một tuần sau khi báo tin, hai tốp thợ được chở lên, mỗi tốp trên mười người.
Tốp thứ nhất xây trường tiểu học ngay trên đất dựng đình làng cũ, sau lưng trụ sở ủy ban. Tốp thứ hai dựng nhà cho Hoan trên khu Suối Nhỏ. Khu trại mới này rộng gấp ba lần khu trại cũ của Hoan và tiền thuế đất đã gần bằng tiền thu hoạch nông sản của anh ta hai vụ qua. Khu dinh cơ riêng của Hoan chẳng dính líu gì tới mọi người dù quy mô của nó khiến cả huyện nóng mặt. Nhưng khu trường tiểu học đúng là bài toán hiểm hóc. Không ai hình dung nổi một người bình thường bỗng dưng có thể bỏ tiền túi ra làm một công trình như vậy cho dù đang đứng trên núi của. Trước mắt dân Xóm Núi Hoan là kẻ điên khùng hoặc một tay thương gia cáo già xảo quyệt đang giăng một cái bẫy khổng lồ để chụp bắt một con mồi khổng lồ mà họ chưa thể mường tượng nổi. Trong dòng đời tẻ nhạt miền sơn dã, nơi ánh điện chưa tới, tiếng máy nổ một trăm bốn mươi mã lực của Hoan giống trận núi lở hoặc cơn mưa đá vài chục năm mới xuất hiện một lần. Khu trại thợ xây sáng rực cuốn hút đám trai trẻ và niên thiếu trong vùng lui tới. Còn dân làng đổ ra, xúm quanh các đoàn ô tô chở nguyên vật liệu. Những thứ gạch lát sáng bóng màu sắc rực rỡ họ chưa từng thấy, những thiết bị phòng tắm và vệ sinh bằng sứ trắng muốt, trắng hơn cả bát đĩa họ vẫn dùng, các tấm vải lớn thêu hoa lộng lẫy để căng trong nhà thể thao và giải trí... thảy thảy những thứ đó đập vào mắt họ, làm gan ruột họ nôn nao, xốn xang. Mọi thắc mắc đều trút vào buổi tối hội họp. Các gia chủ không dám chối từ, vả chăng chính họ cũng đầy tò mò thắc thỏm, cũng ở trong cơn lốc. Và như thế, các câu lạc bộ gia đình Xóm Núi gần như tụ tập hàng ngày. Không khí chẳng giống ngày giỗ tết, cũng không phải hội hè nhưng là một thứ nao nức bất thường, một nhu cầu bất thường, một niềm đam mê bất thường cùng một lần chi phối đời sống của đám cư dân miền sơn dã...
Vào một tối như thế, nhà cụ Phiều chuyện râm ran nở như ngô rang. Mới tắt mặt trời nhưng người ta đã hối hả ăn cơm, hối hả cài cây tăm vào miệng rồi xách đèn ra đi. Trước thềm nhà vị gia chủ, hơn một chục cây đèn đứng giăng hàng giống như cảnh nhà có đám. Cụ Phiều đã sai con dâu ngào bỏng nếp với mật từ chiều. Bỏng được đơm đầy có ngọn trong những chiếc đĩa sành cổ lớn vành. Gần chục phích nước sôi sắp hàng sẵn để khách pha trà. Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ cả nước sôi lẫn ấm chén sạch gia đình chủ nhà mới kéo xuống gian nhà ngang ăn bữa tối. Ngoài sân, tiếng rít thuốc lào vang lên ròn rã và chuyện khởi đầu vẫn là câu hỏi về sự hào hiệp đến mức điên rồ của gã lái buôn gốc rễ thị thành:
- Trên đời này chẳng ai dám gánh vàng đi đổ xuống sông. Chắc chắn, anh ta phải có mưu cầu gì đấy... Người thành phố khôn ngoan lắm, đồng tiền bỏ trong túi họ sinh sôi nảy nở, mà đồng tiền thảy ra ngoài túi họ cũng phải đẻ lời đẻ lãi. Đám dân quê chúng ta làm sao biết được?
- Hay khu Suối Nhỏ có mỏ vàng bên dưới?
- Đúng... Tôi đã ngờ chuyện đó từ lâu. Hẳn tay Hoan cầm chắc bỏ túi hàng tạ vàng mới dám liều thảy ra vài chục thẻ xây trường cho đám dân Xóm Núi.
- Nếu Suối Nhỏ có vàng thì khu Suối Lớn và trang trại của gia đình bác Thới với tôi đây cũng có... Nhưng xin các ông đừng mơ mòng. Tôi đã đi xem nhiều khu vực đãi vàng, chẳng nơi nào sơn địa giống nơi đây. Tổ tiên chúng ta chẳng có số bắt được của, đành bới đất lặt cỏ mà ăn thôi....
- Ông nói thế nghĩa là tay Hoan bỏ ra một núi của chỉ để lấy tiếng thơm thôi à? Thời nay làm đếch gì có kiểu người như vậy?
- Tôi không biết. Nhưng tôi bảo đảm rằng khu Suối Nhỏ lẫn khu Suối Lớn đều chẳng có vàng. Tôi không nói liều, bởi tự tay tôi đã đào nát cùng đất ấy... Các vị có nhớ thằng cháu gọi tôi là cậu ruột ở tỉnh Thanh vào đây chơi hay không? Nửa năm trời hai cậu cháu tôi đi săn thỏ với đào trút... Nói vậy, nhưng chúng tôi không săn thỏ cũng chẳng săn cáo, chúng tôi bới đất tìm vàng. Chúng tôi đã mơ mộng và đã hành động trước các vị. Đói thì đầu gối phải bò... Những thằng nghèo là những thằng hay mơ mộng và tìm kiếm...
- A... Ra thế... Ra anh cũng gớm thật. Vậy mà hồi đó tôi cứ ngỡ anh xách lưới đi bẫy cáo...
- Tôi cũng không tin vùng ta có vàng. Vả chăng, nếu có tay Hoan cũng không được tùy tiện khai thác. Anh ta nộp thuế đất để canh tác chứ không phải để đào quặng. Trong trường hợp phát hiện ra mỏ vàng, nhà nước sẽ thu hồi tức thì... Gì chứ tiền với vàng thì thiên hạ ngửi ra mùi nhanh lắm. Mà chính phủ thì còn thính mũi hơn dân...
- Thế ông bảo tay Hoan quay lại đây chỉ vì tiếc cô vợ hay sao?
- Trước mắt, tôi chưa tìm được lý do nào khác. Chính tôi gặp anh ta dẫn con trai vào nhà cậu Bôn sớm hôm ấy, sau đợt cô Miên từ bệnh viện thành phố trở về.
- Trông anh ta ra sao?
- Gày hơn chút đỉnh nhưng trắng hơn. Nom mắt anh ta cứ rầu rầu.
- Xì ì ì... Mắt thằng cha ấy lúc đếch nào chẳng mơ mơ như mắt lũ thầy dòng?
- Tôi lạ gì anh ta... Trước đây chiều chiều tôi vẫn uống trà trên sân thượng nhà ấy với cánh ông Chi, ông Trác... Nhưng rõ rành anh ta buồn hơn xưa...
- Người chứ gỗ đá đâu mà chẳng buồn... Gì thì họ cũng đang sống yên vui, đầu gối tay ấp, đứa con lại đẹp như tiên đồng, trẻ thành phố so với nó cũng chạy mất dép...
- Thế hôm ấy tay Bôn có nhà không?
- Có.
- Hai thằng đực rựa chạm trán nhau ra sao?
- Tôi làm sao biết được? Chẳng nhẽ đâm bổ vào nhà người ta hóa ra quân tọc mạch à?
- Vẽ... Tôi thì tôi cứ chạy vọt vào... Hàng xóm láng tỏi... Nếu không thế cũng là người trong làng ngoài xóm. Có gì mà ngại?
- Ông nói thối bỏ mẹ... Trong làng ngoài xóm? Vậy từ xưa đến nay đã có láng giềng nào nhảy bổ vào nhà ông lúc ông đang tụt quần bà ấy ra hay không?
- Thôi thôi... Vớ vẩn lại sinh sự, sự sinh bây giờ... Để tôi hỏi đã: Sớm ấy ông không nói chuyện với tay Hoan hay sao?
- Có chứ... Nhưng chỉ là vài lời thăm hỏi thông thường. Chỗ quen biết cũ làm sao tôi dám thọc vào chuyện riêng tư của họ... Anh ta cũng chỉ đáp vội vàng vài lời rồi chào tôi đi. Lúc đó, đã ở xéo ngõ nhà cậu Bôn. Tôi nhìn theo, thấy cậu Bôn xách ấm nước từ trong bếp đi ra đứng sững giữa sân như trời trồng. Tuồng như họ chưa bao giờ thấy mặt nhau và đó là lần đầu tiên hai anh chồng chạm trán.
- Rồi sao nữa?
- Chẳng sao cả. Tôi cút. Không lẽ đứng đó mà dòm ngó, nhỡ anh ta quay đầu lại mặt tôi hóa cái mo à?
- Bà xã nhà tôi nghe đám láng giềng bà Huyên kể rằng tay Hoan ăn nói rất nhún nhường nhã nhặn. Anh ta hỏi han tình hình sức khỏe lẫn việc làm ăn của cậu Bôn rồi mời cậu ta về nhà mình ở.
- Cùng với cô Miên?
- Có lẽ vậy.
- Thằng cha này điên là cái chắc.
- Điên cái con củ khẹc... Nó là thằng buôn giỏi nhất thành phố giàu nhất thành phố. Nó vờ vĩnh hỏi thăm thằng Bôn làm phép thôi. Ai chẳng biết cậu ta dặt dẹo, chưa kiếm nổi nửa đồng xu toàn sống bám vào váy vợ... Tôi cho cái giống thị thành là chúa đểu. Họ biết đủ cách làm nhục người nghèo.
- Chúa đểu anh ta cũng vẫn nuôi cô Miên và nuôi cả cậu Bôn ngần ấy tháng ngày... Ông tử tế vậy cả đời ông, ông đã cho ai được nửa bát gạo hay chưa?
- Tôi cắm mặt xuống đất còn chưa kiếm đủ cơm đủ cá bỏ vào lỗ miệng vợ con... Tôi móc cứt ra cho thiên hạ à?
- Thế thì đừng hàm hồ chửi người đời là đồ đểu... Mai mốt cái đồ đểu ấy nó xây xong trường, ông có cho con ông tới học hay không?
- Thôi thôi... xin các ông, dẹp cái máu cá nhân đi. Nếu ngứa lưỡi đã có sẵn mấy bụi dứa sau vườn...
- Tôi hỏi đã... Hôm đó cậu Bôn trả lời ra sao?
- Tất nhiên cậu ta từ chối. Nhà mình dẫu túp lều rách cũng vẫn là hương hỏa... Mặt mũi nào rúc dưới mái nhà kẻ tình địch...
- Họ có đánh nhau đâu mà gọi là tình địch?
- Không đánh nhau nhưng cùng yêu chung một người đàn bà, chẳng tình địch còn gọi là gì?
- Thế cô Miên nói sao với tay Hoan?
- Nghe đâu cô ta ôm chặt lấy anh ta mà khóc như mưa như gió.
- Trời đất... Ôm anh chồng thứ hai khóc trước mặt ông chồng thứ nhất? Đàn bà thời nay lố lăng đến thế là cùng. Ngày trước chỉ đàn ông mới năm thê bảy thiếp. Bây giờ, chẳng ai được quyền hai vợ. Ông nào giỏi chấm mút cũng phải giấu cho kín, nếu không chính quyền làng xóm chẳng để yên. Vậy mà cô Miên một lúc ôm cả hai thằng đàn ông giữa thanh thiên bạch nhật...
Người đàn ông nói những lời cay cú ấy có một giọng riết róng, không ra thổ cũng chẳng phải kim, nghe như tinh nứa cạo vào nhau. Sau khi chép miệng một hồi ông tay quay chiếc cằm nhọn hoắt với chòm râu dê sang đám đàn bà con gái đang ngồi túm tụm trên hai manh chiếu rải trước cửa bếp:
- Thế nào? Các bà các cô có thèm được ôm hai thằng chồng một lúc không? Phát biểu thẳng thắn cho chúng tôi rõ... Đám đàn bà Xóm Núi gần đây mới dám đặt chân tới các câu lạc bộ gia đình, nhưng họ không tự do như các ông chồng vì lúc nào cũng kéo theo vài cái đuôi con hoặc cháu. Đến đâu họ cũng chỉ dám ngồi trong góc tối để có thể tỉ mẩn làm việc vặt và dỗ dánh lũ trẻ khi chúng lăn ra ngủ. Thường họ ngồi lặng lẽ, giỏng tai nghe chứ không dám lên tiếng. Tối ấy, các cô con dâu của cụ Phiều đã tranh thủ kéo ra hai bao tải lạc. Thế là hơn một chục bà và cô ngồi bóc lạc tí tách. Nghe gã đàn ông có chòm râu dê cao giọng hỏi, không ai biết đối đáp cứ lí nhí trong họng. Chỉ có tiếng vỏ lạc bị kẹp vỡ nổ lép bép một cách ròn rã hơn. Sau vài giây ngưng lắng một người nào đó giọng oang oang, trẻ trung và tự tin cất lên xóa vỡ sự im lặng:
- Thôi, để các bà các cô được yên tâm bóc lạc. Họ không nhiễu sự như cánh đàn ông chúng ta. Nhưng dù các ông có bình phẩm kiểu gì cũng mặc, tôi vẫn phải công nhận rằng khắp thiên hạ khó có người đàn ông thứ hai nào xử sự được như anh ta. Trừ phi Hoan có âm mưu lừa cậu Bôn về nhà mình để đầu độc hoặc giết hại ngấm ngầm...
- Đứa nào dại dột làm chuyện đó để ngồi tù mọt gông?
- Biết đâu được ái tình? Đã mê thì muội. Các cụ vẫn dạy từ xưa....
- Người ta giàu có, cái nhà với họ đáng là bao? Vả chăng, anh ta thương vợ. Anh ta không nỡ nhìn vợ sống nơi nhà tranh vách nát.
- Xin lỗi... Có của chất cao bằng núi cũng chẳng ai đi đón thằng đàn ông đã ngủ với vợ mình về sống dưới mái nhà do công sức mình tu tạo...
- Anh ta không biết ghen à?
- Ông đi mà hỏi anh ta... Tôi làm sao biết được...
- Lòng vả cũng như lòng sung. Đã là người thằng chó nào chẳng có máu ghen.
- Mà tôi cũng lạ... Tại sao anh ta không lấy vợ khác? Thành phố có hàng tạ gái trẻ nõn nà như tiên giáng thế. Cô Miên có đẹp cũng vẫn là nái sề... Tôi mà giàu có lại bảnh trai như thế, tôi sẽ cưới một đứa còn trinh, mười bảy mười tám da thịt thơm tho óng ả... Không gì bằng gái trẻ. Một cái l... lạ bằng một tạ l... quen...
Tới đó đám đàn ông phá lên cười. Dứt tràng cười của họ, từ trong góc tối giọng một người đàn bà cất lên, khàn, lạnh như nước khe tháng chạp:
- Nói năng hay hớm nhỉ? Vậy từ rày đừng rúc vào cái l... quen nữa nhá... Tổ sư cái giống bạc tình, tài hèn sức mọn không bám vào váy vợ thì đến điếu thuốc lào cũng chẳng có mà hút. Đã không biết phận biết thân còn thích nói thánh nói tướng.
Đám đàn ông im bặt. Không một ai ho khan hoặc hắng giọng. Im lặng đến mức nghe rõ cả tiếng muỗi vo ve. Đám đàn bà cũng ngừng tay bóc lạc và không ai bảo ai tất cả cùng dỏng tai lên nghe ngóng, chờ đón. Sau vài tích tắc ghê rợn đó, người đàn bà có giọng khàn khàn kia tiếp tục:
- Này, dựng tai lên mà nghe tôi nói cho tường. Các người túm năm tụm ba tối này đến tối khác bàn chuyện nhà cô Miên cũng chỉ vì ghen tị. Cả làng này đố thằng nào có túi tiền to hơn túi tiền của anh ta, đố thằng nào đẹp mã hơn anh ta, cũng đố thằng nào chiều vợ hơn anh ta. Bây giờ, bỗng dưng anh ta bỏ ra một đống tiền xây trường học cho con cái các người, ai nấy bụng sướng mê tơi nhưng mồm khép chặt như mồm cóc. Có mấy người dám công khai mở miệng khen ngợi anh ta, cảm ơn anh ta? Chả là khen người thì hóa ra mình hèn quá nhục quá... Nếu anh ta cũng ốm đau quặt quẹo như cậu Bôn, cũng đẻ con quái thai vì nhiễm chất độc da cam như cậu ta, hẳn các người sung sướng như mở cờ trong bụng. Miệng nói thương xót nhưng lòng bảo dạ: "Mày chẳng bằng ông". Xưa nay thiên hạ thường bảo giống đàn bà nhỏ nhen ghen tị. Thật ra lũ đàn ông còn nhiều lòng ghen hơn chúng tôi, chỉ có điều các ông biết giấu lòng ghen bằng nhiều cách... Như tôi đây này, chẳng quanh co gì, tôi ghen với cô Miên lắm. Nhưng tôi không ghét cô ấy vì như thế chẳng thêm được cái gì. Ai mà chẳng ghen với một người tốt số như vậy? Nhưng trời không cho mình nhan sắc mình đành phải lấy cái thứ đàn ông vô tài thiếu đức loại gà què ăn quẩn cối xay...
Bà ta nói đến đó, cụ Phiều từ trong nhà bước ra cao giọng hòa giải:
- Thôi thôi... tôi xin... chuyện đùa bỗng dưng hóa thật. Bây giờ đề nghị bà con chuyển mục cho. Chẳng hay hớm gì việc tò mò tọc mạch vào gia đình người khác. Tôi quen biết cả anh Hoan lẫn cậu Bôn, tôi quý cả hai người. Họ có nỗi riêng tư mà chúng ta không hiểu... Tốt hơn hết cứ để họ sống cuộc đời của họ.
Không ai đáp. Lại im lặng. Bóng một người đàn bà cao lớn, cứng nhẳng vụt đứng lên, ra ngõ. Chắc chắn đó là người vừa tuyên chiến với đám mày râu và sỉ nhục đức lang quân là loài gà què ăn quẩn. Không rõ mặt nhưng trong bóng tối nhập nhòa vẫn thấy được chị ta có dáng đi đầy nam tính lẫn mái đầu đồ sộ. Theo sau chị vài người nữa, kẻ cõng con người bế cháu. Đám đàn bà còn lại tiếp tục bóc lạc. Chuyện bắt đầu cất lên lẻ tẻ rời rạc trong cánh đàn ông. Chuyện nương vườn, giống má, giá phân bón giá thuốc trừ sâu... Tiếng điếu cầy rít sòng sọc hết góc này sang góc kia và những đám khói trắng hăng xè lơ lửng tan dần trong không trung. Một ai đó ngáp rồi kêu lên:
- Ối... đêm nay sao đầy trời, chi chít như rắc vừng... Mấy giờ rồi nhỉ?
- Bấm cây đèn pin xem sao? Bảy giờ hai mươi lăm phút.
- Còn sớm chán.
Rồi ai đó chợt cao giọng hỏi:
- Tôi nghe người ta nói cái quái thai cô Miên đẻ ra không có đầu. Ông bảo thực hay đồn thổi?
Và thế là câu chuyện lại xoay về người đàn bà nhan sắc với hai ông chồng, bởi thời gian dài rộng quá và chốn sơn dã buồn tẻ này, nơi nhịp đời hiu quạnh trôi như dòng nước lẻ loi, dòng nước nhỏ nhoi không bến bờ không cầu không thuyền không sóng, không đến cả rong rêu và những đám xác vờ... Trong nhịp đời đơn lẻ ấy, người ta không thể chối từ một cơ hội quá may mắn quá hiếm hoi để trí não được hoạt động, và để dựng lại một pháp đình xưa cũ, một pháp đình vô ảnh vô hình nhưng bền vững nơi đó bất cứ kẻ vô danh nào cũng được quyền đội mũ khoác áo quan tòa...
Vào lúc tất cả các câu lạc bộ gia đình Xóm Núi náo động, nhân vật chính ngồi thả khói thuốc ngày ngày trong căn phòng nhỏ. Hoan được trời phú cho biệt tài chọn người và dùng người, ông già Lư tuy gắn bó chưa lâu nhưng giờ đã trở nên thủ túc nghiêm cẩn trung thành, anh có thể phó thác mọi việc lớn nhỏ không cần đong đếm. Ông đã thay mặt anh làm thủ tục, thuê mướn nhân công, tính toán công xá và cũng thay anh kiểm tra toàn bộ hai công trình. Hoan chỉ có mặt ở Xóm Núi ngày khởi công đào móng ngôi nhà mới trên khu Suối Nhỏ, bởi theo tục lệ chính anh phải đứng trước mâm lễ vật cống thổ thần xin các thần linh thâu nạp anh vào miền đất mới và phù hộ độ trì cho anh trong cuộc sống tương lai. Chiều hôm đó, anh đã quay lại thành phố để sáng hôm sau lấy vé máy bay vào Bảo Lộc. Hoan muốn nhượng cổ phần cho người khác, thu lại vốn vì đối với anh chỉ giữ một cửa hàng tại thành phố và mở mang khu trại Suối Nhỏ cũng đã thừa bận rộn. Anh biết trời luôn luôn mỉm cười với anh trong việc làm ăn. Và thêm nữa, anh muốn sống lại cuộc sống đích thực của anh sau quãng thời gian ngưng lặng. Cuộc sống đích thực của anh phải có người đàn bà đó, cùng với người đàn bà đó, và chỉ thế mà thôi... Tại sao? Tại sao? Tại sao? Tại sao? Chỉ gương mặt ấy thôi, chỉ dáng vóc ấy thôi, chỉ da thịt ấy thôi? Liệu có thể thay đổi được không, bởi mọi sự thay đổi đều ở trong tầm tay ta và cuộc sống sẽ bình ổn dễ dàng... Đã nhiều lần anh cất tiếng tự vấn. Và lần nào cũng không tìm được câu trả lời. Hai bà chị anh đều biết anh đã qua lại Xóm Núi đã bỏ một số vốn rất lớn để xây trang trại và trường học, và tất thảy những việc đó đều ngầm chứa quyết định trở về sống chung với người vợ cũ. Cả hai bà đều lo ngại, nhưng không ai đủ can đảm lên tiếng ngăn cản. Hoan biết điều ấy. Anh còn biết rõ hơn là chính anh, anh cũng không hiểu vì sao mình đã quyết định đường đột như vậy... Một buổi sáng nào đó anh thức giấc trên giường, với tay bấm nút chiếc radio nghe tin tức, bỗng bắt gặp một điệu nhạc cũ, khúc nhạc anh từng nghe những ngày đợi cuộc khởi hành của con tàu lên phương Bắc. Điệu nhạc làm trái tim anh tan rỗng. Anh nằm bệt trên giường dù đã qua tám giờ sáng, hút thuốc lá như một kẻ mất trí, càng hút càng thấy chân tay rã rời, càng hút càng thấy trí óc mờ mịt. Một khoảnh khắc nào đó, anh bỗng muốn khóc, rồi một khoảnh khắc sau anh muốn đập nát căn phòng của mình muốn thấy những bức tường đang vây bọc anh đổ sụp, đổ sụp cả cả cái cửa hiệu đầy người mua kẻ bán, đổ sụp cả dãy phố quen, cả cái thành phố anh chán ngán đến từng chân sợi tóc. Anh mường tượng rằng anh có trong tay một cây búa lớn, kiểu búa tạ của thợ rèn, anh sẽ cầm cây búa đó đập nát cái thế giới tồn tại quanh mình, trước tiên là cánh cửa buồng có gắn cái chuông nhỏ bằng đồng đúc...
Chị Nền đứng bên ngoài cánh cửa đó cất tiếng:
- Gần chín giờ sáng rồi, Hoan ơi.
Anh muốn gầm lên nhưng kịp nén cơn rồ dại:
- Em mệt.
Anh đáp và bỗng dưng nước mắt anh từ từ chảy xuống hai đuôi mắt. Những giọt nước mắt lăn qua thái dương bò sâu vào đám chân tóc và lạnh dần đi... Tại sao, ta bỗng dưng muốn điên rồ, bỗng dưng ta muốn nhảy xổ vào bóp cổ bất cứ ai, muốn phá nát thành phố này, cuộc sống này... Anh không tìm được lời giải đáp. Anh nằm dán lưng xuống giường. Nước mắt tiếp tục chảy. Lúc đó, có tiếng gõ cửa rụt rè và lần này là giọng đàn ông:
- Thưa ông... Ông có mệt lắm không?
Giọng ông già Lư. Tức khắc một ngọn triều trào qua tâm hồn anh. Tức khắc trái tim anh thét lên tiếng thét câm lặng rợn hồn... Em... Chính là em. Em hành hạ trái tim đau đớn của tôi, em khiến tôi không thể sống cuộc sống an bình như những người đàn ông khác. Em chính là địa ngục đầy ải tôi, là... Khi tiếng thét chưa ngưng lặng, người đàn bà của anh đã quay về, bằng xương bằng thịt sát kề anh, mùi tóc, mùi áo, nét chân mày, những tia sáng ánh lên dưới rèm mi dầy nặng, và phía sau chị những nương vườn xanh thắm, những dải đồi, gió và nắng, đứa con trai bi bô ngọng nghịu, tất thảy cuộc sống quá vãng ùa về, đầy ngập, quay đảo, bùa chú, mê đắm khiến anh gần như tức thở... ta phải quay về. Cuộc sống của ta chính ở nơi đó. Với em. Cùng em. Bất chấp mọi thứ. Bất chấp tất thảy... Và sau tiếng kêu đó óc não anh nhẹ bổng đi, anh chống tay ngồi lên chòng chành như kẻ đang say sóng. Ngoài cửa, ông già Lư khẽ khàng nhắc lại:
- Thưa ông, liệu ông có tiếp tôi được không? Nếu ông mệt, tôi sẽ quay về Xóm Núi...
Hoan luống cuống tìm chiếc khăn tay lau nước mắt và anh cao giọng đáp:
- Được... được... Tôi ra ngay đây...
Anh quơ chân tìm đôi dép trong khi trái tim anh thét lên: quay về, quay về, quay về... Và anh lao xuống phòng tắm khi ông già Lư ngồi uống trà chờ đợi. Trong phòng tắm, anh xối nước lạnh vào thẳng đầu tóc, mặt mũi nghe da thịt rùng rùng chuyển động:.... Quay về, quay về, quay về... Ta sẽ trở lại Xóm Núi, sẽ sống lại cuộc sống của ta. Không gì ngăn trở được... Và trong lúc da thịt anh rộn ràng ca hát, bộ óc mẫn tiệp lên tiếng hỏi... Vì sao, vì sao mãi đến hôm nay ta mới nghĩ ra điều này? Vì sao ta cứ tự đầy ải hành hạ ta trong những lo âu vớ vẩn những ghen tuông đồi bại. Bởi chính ta mới là kẻ có chủ quyền. Chính ta mới là người được pháp luật ủng hộ...
Vừa lau khô tóc, Hoan vừa nhớ lại thời kỳ u tối mới trải qua khởi đầu bởi tin Miên có thai với người chồng cũ. Cái tin đó không phải ông già Lư mà chính hai bà chị anh mang lại, cả hai đều hớn hở một cách thầm kín khi báo tin cho cậu em trai, hy vọng nó đánh dấu chấm cho cuộc tình với người vợ cũ hy vọng mau mắn có cô em dâu mới để giữ chân anh lại thành phố và nhờ thế việc kinh doanh sẽ mở mang phát đạt hơn... Hoan hiểu rõ những mong muốn thầm kín của hai người đàn bà đó và không tránh khỏi mối ác cảm. Họ, những người ruột thịt của anh, không biết họ độc ác nhường nào khi báo cho anh cái tin sét đánh kia. Giống như cơn cuồng phong nó bật rễ, bẻ gẫy lá cành, thổi tan tác khu vườn nơi tình yêu của anh ẩn náu... Bởi, anh đinh ninh rằng Miên chỉ yêu anh, mình anh, riêng anh và cuộc trở về với người đàn ông đầu tiên chỉ là một sự trẫm mình là cuộc hiến tế cho tinh thần xả thân của những người đàn bà ở một xứ sở chinh chiến liên miên nơi cuộc sống của những người đàn ông chập chờn như cánh phù du và tất thảy sức mạnh của họ được gieo trồng nơi lòng chung thủy và sự cam chịu của những người vợ. Dáng đi lủi thủi của Miên trong buổi sáng sương mù tựa hình ảnh một cuốn phim được chiếu đi chiếu lại hoài hoài trong tâm tưởng... Người đàn bà yêu dấu ra đi, với bị cỏ thạch trinh hương và đôi mắt của một kẻ bước chân vào phòng tù cấm cố. Mỗi bước đi lát một viên gạch trên con đường dẫn tới xứ u tì. Hình ảnh ấy không phai nhạt theo thời gian. Càng ngày nó càng được khắc đậm hơn trong tâm trí anh. Càng ngày càng khiến anh đau đớn. Càng ngày càng thôi thúc phẫn nộ... Vì sao, và vì sao nữa? Em phải chấp nhận cuộc lưu đày và tôi trở về đây như thằng tù biệt xứ? Vì sao? Tuy nhiên, nỗi đau khổ ấy lại là một lý do cho cuộc sống của anh còn ý nghĩa. Giờ đây, bỗng dưng người đàn bà yêu dấu mang thai... Như vậy cuộc ra đi của em không còn là cuộc lưu đày mà là sự khai phá lại một mỏ quặng đã lấp vùi dưới bụi cát thời gian. Em đã từng yêu anh ta với một tình yêu mặn nồng hơn tôi tưởng, hơn ngàn lần những gì em đã nói với tôi... Hóa ra tôi là kẻ dại khờ, và em khôn ngoan hơn tôi nghĩ. Trái tim em già dặn hơn, dạn dĩ hơn, cặp mắt trong veo của em, da thịt em tham lam dâm đãng hơn màu da em thơ trẻ mịn màng... Tôi là kẻ bị lường gạt, dù tôi hơn em bảy tuổi. Người đời nói đúng: Mỗi ả đàn bà mang trong họ một mụ phù thủy già...
Hoan đóng cửa nằm lì trong buồng trễ nải mọi công việc. Nhiều lần Căng đến rủ anh đi vui thú nhưng anh cáo từ. Anh thấy từng sợi gân, từng thớ thịt đều nhão nhùng, mệt mỏi như tâm hồn chán chường rệu rã... Có lẽ họ đã đánh thức được những đắm say thời trước. Có lẽ ngọn lửa hồi ức đã khiến họ tìm kiếm được bóng dáng của chính họ thời thanh xuân. Và giờ là cuộc truy hồi quãng thời gian đánh mất... Anh nhắm mắt nhưng vẫn nhìn thấy Miên vác cái bụng nghễu nghện phía trước. Gan ruột anh buốt rát. Không người đàn ông nào muốn nhìn thấy người đàn bà họ yêu dưới bộ dạng ấy, khi mà cái mầm sống làm méo mó thân hình thanh tú kia không phải là sở hữu của họ. Hồi Miên mang thai thằng cu Hạnh anh say đắm biết bao, anh hân hoan như đứa trẻ được quà, và rồi càng gần tới ngày chị ở cữ, thân thể chị càng sồ sề, mặt và chân chị càng phù nề anh càng thấy chị quyến rũ và xinh đẹp... Giờ anh mường tượng thấy Miên dưới dáng vẻ nặng nề đó, mái tóc rũ bên vai, nhưng gã đàn ông ôm chị, vuốt ve hôn hít chị lại là kẻ khác... Người ta vẫn quý trọng mối tình đầu. Vẻ đẹp hiện lên trong bình minh cuộc đời, tựa ánh mặt trời lúc rạng đông... Câu văn cải lương này mình đọc trong cuốn sách nào nhỉ? Vậy mà thứ văn chương đó lại chính xác. Chỉ riêng ta thiệt thòi. Ta không có tình đầu... Nói cho đúng, mối tình đầu của ta chính là Miên. Này Miên, tôi yêu em và em yêu kẻ khác... Tựu trung trần gian là trò mèo đuổi chuột liên hồi... Em yêu anh ta vì lẽ gì vậy? Anh thầm thắc mắc và biết mình là kẻ ngu ngốc. Tình yêu là tình yêu. Nó chẳng có cơn cớ gì, chính anh hiểu điều ấy. Nhưng sau bao nhiêu dằn vặt anh vẫn không tìm được lối thoát và anh nhục nhã thú nhận với chính anh rằng anh ghen, anh thù cái gã anh chưa từng nhìn rõ mặt, một thanh niên dặt dẹo, đen đủi, bần hàn như người ta thường miêu tả với anh. Anh ghen với kẻ yếu đuối đó bởi vì... kẻ yếu có một thứ vũ khí không ai đọ nổi, ấy là lòng thương cảm họ dấy lên trong trái tim người khác... Này Miên, tôi biết tôi là kẻ chiến bại trong cuộc đọ sức, bởi anh ta có thứ vũ khí đầy ma lực kia... Và rồi anh mơ ước được trở thành một gã đàn ông nào đó, chẳng phải là anh, nghèo nàn và bất lực... miễn để kêu gọi nơi trái tim người đàn bà anh yêu niềm thương cảm...
Quãng thời gian đó kéo qua một mùa Xuân, rồi tới ngày bất chợt ông già Lư xuất hiện. Một nỗi lo âu trên gương mặt khắc khổ của người quản gia trung thành:
- Thưa ông, có việc đột xuất khiến tôi phải đến lĩnh ý của ông.
Anh bảo ông già ngồi uống trà rồi hỏi:
- Bác nói đi, có gì vừa xảy ra trên đó?
- Thưa ông, tôi vừa đưa bà từ bệnh viện về.
Anh cúi xuống châm thuốc để tránh ánh mắt của kẻ đối thoại, và sau khi kéo mấy hơi thuốc dài anh cất tiếng, vẻ bình thản lạnh lùng:
- Mọi sự tốt lành cả chứ?
Ông già nhìn anh dò hỏi:
- Thưa ông, ông muốn nói điều chi?
Hoan bảo:
- Bác chăm sóc cô ấy đầy đủ như tôi dặn chứ.
- Thưa vâng.
- Tốt.
Anh gật đầu và trong cử chỉ ấy tim anh đau nhói dường như một sợi gân nơi cổ được nối thẳng với quả tim làm nó thương tổn. Có lẽ người quản gia phát hiện được trên gương mặt anh điều chi lạ lùng, ông ta bối rối ngừng lời, còn anh, anh đứng lên sải bước trong phòng vài lượt rồi bất chợt quay lại hỏi:
- Trai hay gái?
Ông già Lư ngẩng lên nhìn anh. Nỗi bối rối. Nỗi bối rối khiến cặp mi bạc phếch chớp lia lịa:
- Thưa ông... Ông không hay biết gì sao?
- Biết gì nhỉ?
Hoan hỏi lại và đột nhiên anh thấy nhịp tim anh ngừng hẳn, dường như có một biến cố thật khủng khiếp sắp xảy ra, một biến cố không chờ đợi, cũng không thể đoán định:
- Nào, bác nói đi...
Anh dằn từng lời và ngồi xuống ghế, nhìn thẳng vào mặt người quản gia. Ông già Lư không chịu nổi ánh mắt đó, cúi xuống:
- Thưa ông, bà nhà không sinh con.
- Bác nói gì?
- Ông Bôn không có khả năng sinh con bình thường. Vả lại, chính bà nhà đã có lần tự hủy thai, và lần bạo động ấy đã khiến bà nằm ốm liệt cho tới ngày ở cữ.
- Tự hủy thai?
Hoan gần như quát.
Ông già Lư chưa kịp trả lời, anh đã nhắc lại câu hỏi:
- Bác nói cho rõ, tự hủy thai là thế nào?
- Thưa ông, bà nhà đã lao vào cánh cửa buồng nhà ông Bôn mấy bận cho cái thai trụy ra... Không riêng bà Huyên mà cả Xóm Núi biết rõ chuyện này...
... Cả Xóm Núi biết nhưng hai bà chị ta không hề cất tiếng... Những người đàn bà xảo quyệt này. Thật sự là họ đã đầy ải ta mấy tháng ròng. Ta sẽ trừng trị họ... Ta sẽ không tha thứ...
Ý nghĩ đó bật lên trước tiên. Hoan đưa mắt nhìn hai bà chị nhưng họ mải giao hàng cho khách. Anh uống một ngụm trà rồi nói:
- Đáng tiếc thật.
Và anh châm điếu thuốc thứ hai với dáng điệu lạnh lùng điềm tĩnh trong lúc con tim hổn hển từng lời... Em không yêu anh ta, không yêu, không yêu... Em muốn xóa bỏ dấu tích của cuộc chung chạ. Chỉ tình yêu đích thực mới xứng đáng đơm hoa kết trái. Vậy cuộc chung sống của em với anh ta vẫn chỉ là cuộc lưu đầy. Trái tim em vẫn thuộc về tôi. Với tôi, bấy nhiêu là đủ...
Anh uống cạn chén trà và hỏi:
- Tại sao bác không nói chuyện này sớm hơn?
Người quản gia ngớ ra một khoảnh khắc, đoạn hạ giọng:
- Thưa ông, mọi chuyện xảy ra tôi không tiện nói thẳng với ông, nhưng có kể tường tận với bà Châu... Chính bà Châu yêu cầu như vậy...
- A... Có lẽ chị tôi quên mất... Đợt vừa qua thay đổi nhiều mặt hàng...
Hoan trả lời nhưng một lần nữa cơn giận dữ lại sôi lên trong máu. Ông già Lư tiếp tục:
- Thưa ông, sức khỏe của bà không tốt. Tôi muốn đưa bà về nhà nhưng bà nhất quyết chối từ.
- Tại sao? Bác cần nói cho cô ấy hiểu rằng đó chính là nhà của cô ấy, và cô ấy có toàn quyền sử dụng.
- Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần. Nhưng bà vẫn khăng khăng từ chối. Bà nói rằng bà không muốn làm ô uế căn nhà chung. Bà giữ sự thanh sạch đó cho cậu Hạnh...
Trời đất ơi, em muốn giữ cho ngôi nhà không ô uế? Nó là Thánh địa của em, là ngôi đền thờ phụng tình yêu không thể để rác rưởi lạc vào... Bởi thế em tự giam cầm mình trong căn nhà lá tồi tàn nhất vùng, trong gia cảnh bần hàn ti tiện...
Hoan mường tượng tới căn nhà tranh nơi Miên đang sống. Anh tin chắc nó cũng tựa như những nơi lụp xụp tồi tàn anh từng chứng kiến. Một mái lá sơ sài, ẩn chứa các loại sâu bọ gián kiến và côn trùng, thường gần kề bếp nấu và chuồng nuôi gia súc, mùi khói rơm ra lẫn mùi phân tẩm liễm không gian. Nơi đó, Miên sẽ phải gò lưng thổi lửa, sẽ ràn rụa nước mắt khi gió đổi chiều, sẽ chẳng có một góc tắm rửa kín đáo, kể chi đến than củi đun nước nóng thường xuyên... Vợ anh đã phải chịu cảnh sống bần hàn đó chỉ vì chị muốn giữ sự vẹn toàn của tình yêu cũ, không dám mang tấm thân chẳng còn trinh tiết trở về Thánh địa lưu giữ những di vật tình yêu.
Người vợ tội nghiệp của tôi, em muốn giữ ngôi đền thanh sạch nhưng thân xác chúng ta đều đã ô uế mất rồi...
Ý nghĩ ấy khiến anh mỉm cười chua chát. Qua đám khói thuốc anh thấy hiển hiện lên gian buồng nhơ nhớp che tấm màn đỏ, chum nước vắt tấm khăn ướt sũng, chiếc thau nhôm đựng nước tiểu meo móp dưới gầm giường, anh hình dung gương mặt mỏng quẹt với chiếc cằm nhọn hoắt của cô điếm, cặp mắt chó giấy tô vẽ, những chiếc móng tay sơn long lở bấu lên cánh tay anh... Liệu Miên có hình dung nổi những tình cảnh anh trải qua hay không? Chắc hẳn là không. Một người đàn bà chất phác, tâm hồn tẩm liễm những niềm tin tôn giáo như chị không thể tưởng tượng nổi cái cảnh "vào nhà xí công cộng đại tiện"... như anh đã cùng trải nghiệm với gã lái buôn Căng. Có lẽ trong suy nghĩ của chị, anh đang tìm kiếm một tình yêu mới, tiến hành một cuộc hôn nhân mới. Và hẳn trong niềm tin của chị, anh luôn luôn là người phong nhã, trang anh hùng mã thượng chứ không phải gã đàn ông vậm vạp hổn hển chạy theo Căng, chui qua mọi cánh cửa tăm tối, lách qua những con hẻm ngập ngụa nước cống lẫn nước tiểu, những mảnh sân dồn tụ rác thối, leo qua cây cầu thang bụi bặm để chui vào một ổ chứa mạt hạng nơi ngoại ô...
Trong giây lát, quãng đời đã qua như cuốn phim chiếu lại, các hình ảnh tiếp nối lướt trôi, cuộc diễu hành của dĩ vãng cuồn cuộn như nước thoát nơi cửa sông, và trong dòng chảy đó mọi cảm xúc đan chéo chồng chất xô đẩy, mạch thời gian hòa trộn, các đường dây đứt nối, gút thắt, rối ren... Hoan vừa ngửi thấy mùi ẩm mốc hôi hám nơi ổ điếm, lại vừa nhớ cung bậc giai điệu của các loài hoa trước sân ngôi nhà Xóm Núi, dạ hương góc này và hoàng lan góc kia... những mùi hương câm lặng bỗng dưng cùng cất tiếng thở than, hờ gọi. Anh vừa nhìn thấy anh trơ trọi trên bãi biển, thấy anh xanh xao phờ phạc trong góc một quán trà lại vừa thấy anh dạo bước trên những con đường Xóm Núi, trên mảnh sân xạc xào lá rụng, giữa những rặng cà-phê chín. Rồi anh nhớ những lưỡi lửa vàng liếm dưới đáy chảo, trong gian bếp ấm sực, nơi Miên thường nấu những món ăn quen, không biết tiếng cười của chị hay lửa đã làm tan sương giá mùa Đông?
Khi em quay lưng đi, búi tóc xổ xuống đầy lưng... Suối tóc huyền... Ta thích cách nói của văn chương thời lãng mạn. Bởi cho dù cũ kĩ, chỉ nó mới tả được vẻ đẹp của Miên... Nhưng sao bỗng dưng ta lại nghĩ đến văn chương? Cuộc sống chẳng văn chương chút nào. Nó trần trụi và khốn khổ...
Phải, cuộc sống trần trụi khốn khổ, anh đón trước điều ấy vì anh hơn Miên bảy tuổi đời và anh là đàn ông, người có trách nhiệm lèo lái con thuyền. Anh đã phòng ngừa cái khốn khó và đểu giả của cuộc đời bằng sự mẫn tiệp lẫn lòng trắc ẩn. Vào cái tuần lễ cuối cùng họ chung sống, anh đã toan tính trước nỗi nhọc nhằn Miên sẽ phải gánh chịu. Dù họ chìm đắm hai lần vào cơn dày vò chia ly và đam mê tình ái anh vẫn đủ tỉnh táo để thu xếp các món tiền, món đưa trước, món đưa sau, đủ khôn ngoan thuyết phục người đàn bà anh yêu, bởi sự khẳng khái nơi chị khiến anh yêu chị bội phần. Giờ, anh thấy rằng tiền chỉ đỡ cho Miên những khốn khó vật chất nhưng không cứu chị khỏi sự bất hạnh. Còn anh, anh đã không đón trước nổi những dày vò của bản thân, không hình dung nổi cuộc đọa hành thân xác, nỗi đau đớn biệt ly, sự khủng khiếp của cô đơn khi con người bị hất khỏi lãnh địa tình yêu, nơi họ ký thác cuộc chọn lựa của mình... Anh đã không hình dung nổi... Phải, sự thật trần trụi và khốn khổ gấp bội những điều anh tưởng tượng và giờ đây khi ngoái nhìn quãng đời vừa qua anh không khỏi hãi hùng:
Tất thảy cái cuộc sống nhục nhã này, cho anh và cho em, từ đâu tới? Phải chăng chính từ chúng ta, chúng ta hèn nhát ngu muội, chúng ta là bọn lính bỏ chạy trước khi bóp cò súng, là kẻ lái thuyền buông tay trước lúc cầm chèo...
Trong giây lát, cơn bi phẫn lóe lên như tia chớp, soi rọi và xuyên suốt thời gian khiến anh nhìn rõ gương mặt thứ hai của chính anh, một gương mặt nhát nhúa ngu ngơ, vẻ nhẫn nhục vô minh và sự cam chịu của loài bò cày ruộng...
Hoan di mẩu dót thuốc vào chiếc gạt tàn. Cử chỉ ấy có một vẻ quả quyết bạo tàn khiến người quản gia đưa ánh mắt kinh ngạc nhìn anh. Nhưng ông vẫn im lặng. Ông đã giữ im lặng từ rất lâu, để anh đủ thời gian theo đuổi những suy tư thầm kín.
Ông già này quả là một người biết cách im lặng, và biết cách đợi chờ. Trời đã cho ta món quà vô giá...
Hoan nghĩ, và anh tức khắc phác ra kế hoạch hành động. Gần như tất cả mọi sắp xếp mọi toan tính đã được ghi trước nơi thầm kín nào đó trong óc não anh và lúc này các con toán chỉ cần hiện trên giấy trắng:
- Bác nhớ khu đồi Suối Nhỏ chứ?
- Dạ, khu đó cách vườn tiêu thứ ba chừng non hai cây số.
- Chúng ta đã cùng xem đất, đúng không?
- Dạ, ông nói thứ đất Suối Nhỏ thích hợp với giống tiêu Mã Lai.
- Còn gì nữa?
- Bên kia suối có thể san thành hai vườn cà-phê, độ chênh lệch chừng ba mươi lăm cen-ti-mét và người ta có thể đặt trạm bơm giữa hai vườn.
- Còn gì nữa?
- Cách chỗ lội chừng hai trăm thước có hỏm đất rộng, có thể cải tạo thành giếng lộ thiên tích nước. Và ông tính lượng nước chứa ở đó thừa thãi tưới cây ngay cả trong mùa hạn.
- Còn gì nữa?
- Phía dưới khu đồi xây trang trại là hẻm khuất gió, rất thuận lợi nếu đặt một chuồng nuôi gia súc và kho chứa cỏ khô.
- Cảm ơn. Trí nhớ của bác rất tốt.
- Ông quá khen.
- Tôi quyết định dựng khu trại Suối Nhỏ.
- Dạ, tôi nghe.
- Bác sẽ lên kế hoạch tỉ mỉ về việc này.
- Ông cần trong bao lâu?
- Càng sớm càng tốt.
- Tôi sẽ gắng.
- Thêm nữa, bác cũng phải lên kế hoạch xây trường tiểu học cho xã, ngay trên đất đình Xóm Núi. Việc này phải song song với việc xây khu trại. Đây là món quà nhất thiết phải có với dân cư. Sau này chính có thể con trai tôi cũng sẽ học ở đó... Nhưng dù nó không học, trẻ trong xóm cũng cần đủ tiện nghi. Việc này với bác có khó khăn hay không?
- Thưa ông, không có gì đáng lo.
- Vậy bác quay về Xóm Núi ngay. Tôi muốn tất cả được thực hiện trong thời gian ngắn nhất.
- Tôi hiểu.
Người quản gia đáp.
Và ông ra về.
Hoan thầm hỏi. Nhưng anh không tìm câu trả lời. Toàn bộ kế hoạch cho cuộc quay về vừa chỉ hiện hình trong giây lát đã được thực thi tức khắc. Chưa bao giờ trong đời anh, anh có một quyết định đột ngột như vậy. Ngoại trừ lần gặp Miên trên đồi tiêu.
Lần ấy ngay tức khắc tim ta thốt tiếng kêu: Chính em là người tôi tìm kiếm, em là tình yêu của tôi cuộc đời của tôi. Và lần này cũng vậy. Quay về, đó là tiếng kêu của định mệnh...
 
 
Chương 24


Miên thức dậy lúc sáu giờ sáng. Chuông đồng hồ gõ thong thả từng tiếng một. Nằm trên giường, chị nhẩm đếm cho tới âm thanh sau chót. Tiếng chuông ấy, kèm theo khúc nhạc vui vẻ lảnh lót làm chị ngỡ ngàng. Chị ngồi dậy thầm nói với mình: Đây chính là nhà ta, của ta, và tiếng chuông kia vốn là những âm thanh cũ... Tuy thế, Miên vẫn ra phòng ngoài, ngắm lại chiếc đồng hồ treo tường như chưa tin rằng nó đã treo ở đó từ lâu, từ lúc ngôi nhà này vừa được quét vôi còn khu bếp và nhà tắm đang xây dang dở. Chiếc đồng hồ treo tường cổ, khung gỗ chạm cực tinh xảo và điệu nhạc thánh thót khiến không gian như cũng muốn ngân nga theo. Hoan đã mua nó tận Nha Trang, một thành phố chị luôn nghe anh nhắc tới: Bây giờ có nhiều loại đồng hồ báo thức. Đủ mặt hàng của Nga, của Pháp, của Mỹ, của Đức, của Nhật. Nhưng anh mua cho mẹ con em chiếc đồng hồ Thụy Sĩ bởi trước đây cha ưa thích điệu nhạc báo giờ này... Miên không biết gì về các loại đồng hồ nhưng đối với chị, điều Hoan đã nói tức là chân lý. Và ngay tức khắc, khúc nhạc thánh thót báo giờ hòa nhập vào tâm hồn chị. Nó, cũng như ngôi nhà, khu vườn, căn bếp không chỉ là một thứ tài sản nhưng là một bộ phận tạo thành cuộc sống. Từ ngày Hoan đón chị trở lại, tất cả bỗng như mới mẻ ngỡ ngàng. Chính Miên cũng không hiểu vì sao chị có cảm giác kì lạ ấy. Lúc đang còn sống dưới mái nhà Bôn, ngày ngày dắt cu Hạnh trở về đây, chị thấy mình như kẻ bị nhốt dưới hầm được trồi lên mặt đất. Mỗi sáng, khi đi qua cổng, giật dây chuông, đẩy cánh cửa gỗ, một niềm vui sướng trẻ thơ xâm chiếm tâm hồn chị, và chị bước trên con đường nhỏ dẫn vào sân như kẻ được dẫn tới địa đàng. Chị thường tỉ mẩn nhổ những mầm cỏ trồi lên nơi kẽ gạch, thường cặm cụi tỉa lá cho các khóm địa lan và đứng hàng giờ ngắm những chùm hoa mong manh đọng đầy sương sớm. Chị cũng thường vun lá khô, lượm những trái cam rơi hoặc những đám hoàng lan chín nẫu rụng tơi bời quanh gốc...
Tất thảy những công việc vặt vãnh ông già Lư đã nhiều lần năn nỉ chị để đó cho ông... Bất cứ thứ gì liên quan đến ngôi nhà đều làm chị say mê. Dường như mọi vật có linh hồn, chúng chờ đợi chị. Và chị, bao lần thầm nói: Tất cả những gì nơi đây, trong khu vườn này, trên mảnh đất này, dưới mái nhà này là của tôi, thuộc về tôi...
Giờ đây, khi đã thật sự quay về, khi đã thật sự ngồi dưới mái nhà cũ, chị lại hoang mang. Một nỗi hoang mang câm lặng. Nó không dám cất lời dù là lời thầm trong óc não. Nó cũng không dám nghĩ, bởi nó chỉ là sự manh nha của ý nghĩ, vụng lén và nhát nhúa, nhát nhúa và hèn mọn đến mức cái manh nha đó mãi mãi đứng trong cõi mù mờ, không bao giờ khởi phát thành ngôn từ... Nhưng Miên biết rằng sự hoang mang đang ngự trị. Nó cũng như khí trời. Không nhìn thấy, nhưng biết rằng có. Đang có... Chị đứng ngây dại ngắm chiếc đồng hồ, những đường trổ xung quanh mặt kính, và quả lắc đong đưa không mệt mỏi. Buổi tối đầu tiên từ nhà Bôn quay về chị mời dì Huyên ngủ lại. Hai người đàn bà nằm hai bên, đứa trẻ ở giữa. Nó là kẻ sung sướng nhất bởi nó được lấp đầy và nó ngủ tức khắc giấc ngủ thần tiên. Miên không ngủ. Chị nhìn ra vườn.
Khuôn cửa rộng với hai tấm rèm vừa giặt sạch. Bao đêm chị mơ được quay về đây, ngủ trên chiếc giường này nhìn vườn cam bên ngoài xao động. Đêm không trăng. Và khuôn cửa im lìm. Ngọn nến cháy trên chiếc giá đồng đặt trên cây kỷ cũ. Vẫn chiếc tủ chân quỳ ba buồng, và bên kia là tấm gương lớn, nơi Hoan bắt chị thử lần lượt những tấm váy anh mua. Gian buồng được giữ nguyên như cũ. Đồ đạc không đổi thay, không thêm bớt. Vật nào ở đúng vị trí vật nấy, không xê dịch một ly. Chị muốn như vậy. Hoan cũng muốn như vậy. Và người quản gia đã thực thi ý muốn đó một cách trung thành.
Như cũ... nguyên như cũ... Nhưng chẳng thể nào như cũ. Miên không còn là Miên ngày trước...
Chị giật mình khi thấy chị buộc miệng thành lời. Dì Huyên cựa quậy đôi vai, thở dài:
- Cố mà ngủ đi con.
- Con tưởng dì đã ngủ?
- Sao dễ dàng thế được...
- Con không hiểu rồi đây sẽ sống ra sao?
- Chỉ Trời Phật mới hiểu được mọi sự... Người trần mắt thịt sống đến đâu hay tới đấy thôi... Dì chỉ e xóm làng đàm tiếu.
- Con chẳng sợ đàm tiếu... Kẻ nào mở miệng nói kẻ ấy tự giỏng tai nghe.
Bà già thở dài lần thứ hai và sau một hồi yên lặng bà cất tiếng:
- Từ xưa cổ nhân đã dạy: Giơ tay mà hứng nước trời, tránh sao cho nổi những lời thế gian... Vậy mà cha ông ta cho đến đám con cháu bây giờ vẫn sợ nhất lời bấc tiếng chì của xóm giềng làng nước... Cứ nhớ lại hồi thằng Bôn mới về, đám đàn bà Xóm Núi rỉa rói, cạnh khóe mà ghê răng...
- Qua cái đận ấy rồi dì ạ... Giờ đứa nào xỏ xiên con mắng vào giữa mặt...
Dì Huyên không đáp. Thái độ cứng rắn của Miên làm bà kinh ngạc.
Lần đầu bà nhận thấy đứa cháu nhu mì đã thay đổi và sự thay đổi ấy khiến bà vừa ngỡ ngàng vừa kính nể. Nhưng vốn là người kín đáo bà im lặng.
Miên không nói gì thêm. Đêm ngập đầy tiếng côn trùng than thở. Vài giờ nữa trôi qua, trong các xóm xa tiếng gà báo canh táo tác cất lên sau đó tiếng lạch cạch ngoài phòng khách vọng vào, kèm theo mùi trà ướp nhài thơm ngát. Người quản gia đã thức giấc pha trà uống. Trong gia tài còm cõi ông đem tới đây có bộ độc ẩm, đó là vật bất ly thân của ông cả ngày lẫn đêm. Giống loài hạc, ông ăn ít, ngủ ít, nhưng lúc nào cũng tỉnh táo và thường mỗi bận uống trà cặp mắt ông khép lại dường như chất nước kích thích kia không đem cho ông sự hưng phấn mà mang tới những cơn mơ thức cùng những giây phút mơ màng.
Sau tiếng gáy dáo dác của lũ gà trong xóm, bầy trống chuồng nhà nhất loạt gáy theo. Dì Huyên nhỏm dậy:
- Cố ngủ đi con... Tao ra kiếm chén trà vậy.
Bà già ra phòng ngoài, tiếng dép lê lệt xệt. Miên nghe tiếng người quản gia mở tủ kính, hẳn để lấy ấm lớn pha trà, rồi tiếng trao đổi thì thào của dì Huyên với ông, cả hai đều cố giữ yên lặng cho chị ngủ cho dù họ biết rõ giấc ngủ đó đêm nay không thể tới... Vì sao, vì sao nhỉ? Chị cất tiếng thầm hỏi mà không biết muốn hỏi điều gì, chỉ thấy một sự bất an, một nỗi tròng trành đang đu đẩy. Như chị không nằm trên giường mà trong một con thuyền không buồm không lái. Cu Hạnh trở mình. Miên lui ra một chút, nhắm mắt, bất chợt chị thấy hai cánh tay mình đang gác trên trán. Chị kéo tay xuống, một tay đặt lên đùi con trai, tay kia thả xuôi, ép vào hông... Vì sao nhỉ? Câu hỏi mơ hồ kia lặp lại như tiếng sóng từ con hồ xa ngái, con hồ thơ ấu miền quê xưa vọng tới. Miên lơ mơ ngủ, nhưng vài phút sau chị giật mình khi thấy cả hai cánh tay chị đã tự động gác lên trán, và thân chị cứng đơ trong tư thế xác chết chuẩn bị nhập quan... Hiểu rồi, hiểu rồi, giờ ta đã hiểu ra rồi... Một ý nghĩ vụt tới như dao chém khiến chị ngồi bật dậy. Cuộc chung sống với Bôn tuy không dài lâu nhưng đã tạo cho chị những thói quen gớm ghiếc. Chị đã quá quen với tư thế của một kẻ bất hợp tác, dù có đôi lúc phải tòng phục nhưng luôn luôn sống trong ý thức đối kháng và phòng ngừa. Chị không còn nhận thấy kiểu nằm ngủ cứng đơ, thẳng cẳng với hai cánh tay gác lên trán, vừa bất động như một xác chết vừa gìm giữ và chuẩn bị các khả năng phản công là kì quái đối với những người đàn bà bình thường. Trở lại căn phòng cũ chị mới thấy mình lạc lõng. Khi cánh tay chị vật xuống, nó không gặp tấm chiếu trải trên lớp ván gỗ như ở giường nhà Bôn mà là lớp vải phủ trên nệm dày mềm mại. Một bên vai và sườn chị luôn co cứng, bởi phía đó tiếp giáp với Bôn, các cơ bắp bị gắn còi báo động thường trực không dễ đàn hồi. Đã mấy lần Miên cố tình nằm nghiêng, đè lên vai trái để xóa đi những tín hiệu cũ nhưng lát sau sự ngột ngạt và nỗi lo sợ cố hữu khiến chị phải đổi lại tư thế. Như vậy, không chỉ những chung chạ, không chỉ nỗi ê chề của lần thai nghén và kỉ niệm kinh hoàng khi sinh nở khiến chị không bao giờ còn trở lại là Miên ngày xưa mà ngay đến những thói quen nhỏ trong sinh hoạt cũng đã đẩy chị sang một con bờ khác...
Gà gáy sang canh hai, rồi gà gáy canh ba... Dì Huyên vẫn ngồi uống trà to nhỏ chuyện trò với người quản gia. Còn chị, chị ngồi nhìn nến cháy, nhìn đứa con trai say ngủ, những đồ vật trong căn buồng... vương quốc bị mất đi giờ đã chiếm lại được, duy chỉ có chủ nhân của chúng là không thể tìm lại niềm vui sướng và sự an bình đã mất...
Từ đêm ấy đến sáng hôm nay đã ba tuần hơn, sắp một tháng tròn, Miên vẫn chưa xóa được sự lạc lõng ngay chính trong tâm hồn chị. Chị đã tập, và đã kéo được một cánh tay xuống. Bây giờ chị chỉ gác một cánh tay phải lên trán khi ngủ, chị cũng đã nằm nghiêng được sang bên trái tuy chỉ một vào khoảnh khắc thôi. Nhưng nỗi hoang mang vô ngôn và mù mờ kia vẫn theo sát chị, nó như một thứ sương mù, một đám hơi ngưng đọng trong khe núi, không thể nắm bắt, không thể xua đuổi. Có những buổi sáng, khi mở mắt không nhìn thấy những đốm nắng lọt qua kẽ mái tranh đầu hồi nhà Bôn, chị ngơ ngác chẳng biết mình mê hay tỉnh. Cho tới khi cu Hạnh thức dậy hoặc nhõng nhẽo vòi ăn sáng, hoặc rúc vào đùi chị đòi ngủ nướng Miên mới tin rằng chị đã trở về nhà cũ và sống cuộc sống thật sự của mình. Nhưng ngay cả cái cuộc sống chị nhiều lần tự khẳng định với bản thân cũng tròng trành như con thuyền không lái...
- Thưa bà, bà có uống trà để tôi pha.
Người quản gia đã tới sang lưng chị, lên tiếng. Ông luôn có giọng nói nhẹ nhàng, bình thản. Không chờ Miên trả lời ông nói tiếp:
- Điệu nhạc của chiếc đồng hồ này hay lắm. Ông nhà thật sành.
Miên quay lại:
- Bác biết nhiều loại đồng hồ chứ?
- Thưa vâng... Tôi đã làm công cho rất nhiều chủ. Nhiều người giàu sang hơn ông, nhưng không sành, dù họ lớn tuổi và chán chê lăn lộn.
Miên không biết nói gì thêm. Thật sự chị cũng không thể nói gì thêm với ông bởi có lẽ ông còn hiểu Hoan và biết đánh giá anh rành mạch phân minh hơn chị. Chị chưa từng đi tới thành phố nào ngoài thành phố sinh ra anh, chưa từng biết chân trời nào ngoài những chân trời anh đã vạch ra cho chị. Anh là vũ trụ lớn lao bao bọc, che trùm và bởi thế vừa gần gụi vừa không sao đo lường cho thấu... Chừng như đọc được nỗi bối rối của Miên, người quản gia nói:
- Giờ đã sáng, bà dùng bữa trước hay đợi cậu nhà?
- Sao cũng được bác ạ.
- Vậy mời bà xuống bếp, tôi đã nấu sẵn nồi súp bò. Ông muốn bà chú ý tới các bữa ăn hơn.
- Bác không nên quá bận tâm vì tôi... Tôi tự lo được.
- Không có gì đáng bàn, thưa bà.
- Một mình bác phải toan tính cả khu Suối Nhỏ lẫn trường học.
- Mọi việc đã xong xuôi, tôi đã khoán và người thợ cả phải trông coi. Họ làm tới đâu, tôi sẽ ra nghiệm thu tới đó. Tiền công chỉ được trả sau khi nghiệm thu tốt.
Miên trùm khăn trước khi bước xuống sân. Chị vẫn chưa hồi sức. Buổi sáng thức dậy chị vơ được cả nắm tóc rụng trên mặt gối. Một gợn gió nhẹ cũng làm chị ù tai, những cơn ù tai kéo rất dài và đôi khi có tiếng rít ghê rợn tựa hồ có ai đặt bễ than lò rèn trong đầu chị. Lần sinh cu Hạnh, chị chẳng thấy mảy may những dấu hiệu đó. Lần này... Nhưng làm sao mà so sánh được? Sông nhiều khúc và đời nhiều ngả rẽ. Có lẽ kiếp trước chị đã nợ nần Bôn nên kiếp này chị phải trả anh... Mình đã từng thù oán, đã từng căm ghét con người đó nhưng bây giờ không còn như thế... Mình đã từng hả hê khi nhìn thấy anh ta đau khổ nhưng bây giờ... Chị nghĩ, khi kéo hai vạt khăn che kín tai kín cổ để đi qua khoảng sân rộng đầy gió. Sân rộng, vườn cũng rộng, ngõ sâu nên gió thổi lồng lộng như ngoài đường. Bước vào bếp, Miên khép kín cửa.
Ông già Lư đã đặt sẵn lò than sưởi dưới chân Miên. Chờ chị ngồi xuống ghế ông đem tới bát súp nóng. Mùi thịt bò ướp ngũ vị bốc lên đánh thức cơn đói và cùng với cơn đói, nó kéo đến một câu hỏi mơ hồ... Ăn gì nhỉ? Anh ấy ăn gì buổi sáng hôm nay? Những đồng tiền ta để lại chắc đã cạn từ lâu. Trong căn nhà đó không móc ra vật gì có thể bỏ vào nồi, nương tiêu với nương cà-phê đang còn lút cỏ... Khốn khổ cho Bôn. Cái câu hỏi mù mờ đó mỗi lúc mỗi rõ rệt hơn thoạt đầu nó giống như một âm vọng xa vời rồi dần dà nó cất thành tiếng, bật thành câu rành rọt và mạch lạc. Lúc Miên ăn hết bát súp, ông già Lư mang tới cho chị chén trà gừng nóng chị uống từng ngụm, cứ mỗi ngụm chị lại hình dung thấy gương mặt Bôn một cách sống động hơn... Ta không còn căm ghét Bôn bởi chính anh ấy cũng chẳng sung sướng nỗi gì, bởi anh ấy cũng biết phận mình nhục nhã... nếu ta ở trong tình cảnh của Bôn... Chị tự hỏi, và mường tượng lại buổi sáng khủng khiếp chị đã lao vào cánh cửa để trụy thai ra trước mặt Bôn, chị đã sung sướng hả hê, nỗi hả hê ác độc chị chưa từng biết, một sự sung sướng man rợ và tàn nhẫn chị chưa từng mường tượng sẽ nếm trải trong đời...
Hôm ấy Bôn đã quỳ xuống lạy sống chị ngay trước mặt dì Huyên. Nhiều ngày sau đó anh nhìn chị với cặp mắt kẻ tội đồ. Lưng Bôn còng xuống, mặt xám ngoét, nhiều lúc anh thở dốc và hụt hơi như một lão già sắp tới cõi. Đêm đêm anh không còn dám trèo lên giường cùng lúc với chị. Anh thường quanh quẩn từ trong nhà ra sân, rồi từ sân lại vào nhà chờ chị lên giường trước. Miên yên vị hồi lâu anh mới rón rén trèo lên, nằm ép sát vào mép giường hệt như con gián. Những đêm ấy Miên khó ngủ, chị thường gác hai cánh tay lên trán, lặng lẽ quan sát anh. Một chút dửng dưng, một chút lạ lùng, một chút thương hại. Chị biết anh đã hoàn toàn kiệt sức sau một đêm rồ dại và giờ đây chỉ còn là bóng của chính cái mầm sống anh đã gieo trong thân xác chị. Rồi một đêm nào đó, chị ngủ thiếp đi. Khi chị bừng tỉnh giấc gà đã gáy canh hai. Bôn chưa ngủ, ngồi chồm chỗm dưới chân giường hai tay bó gối. Ánh đèn hắt vào cặp mắt u tối của anh.
Đôi mắt ấy như hang động bị bỏ quên, chưa ai từng đặt chân tới chưa ánh đuốc nào soi rọi. Anh ngồi như tượng đá khiến chị không dám cựa mình. Thời gian tiếp tục trôi và chị tiếp tục theo dõi anh với nỗi tò mò khắc khoải. Chị thấy anh bắt đầu thầm thĩ vơi ai đó, như với ngọn đèn, với bóng tối ngoài sân, hoặc với chính anh. Những tiếng thầm thĩ rất khẽ, quá đỗi khẽ khàng, như không còn là tiếng người mà tiếng hồn ma. Từ hai hốc mắt anh, những dòng lệ từ từ chảy, ánh lửa soi vào chúng, lấp lánh. Bôn không đưa tay áo chùi, có lẽ anh không biết mình đang khóc. Những dòng nước mắt lặng lẽ chảy qua hai gò má, xuống cằm, sau rốt rớt xuống tấm áo quân nhân cũ anh thường mặc khi đi ngủ. Chị nao lòng. Tựa lúc anh đưa cho chị bánh xà-phòng thơm, món quà duy nhất anh mang về sau mười bốn năm chinh chiến...
Tội nghiệp cho Bôn... Giá ta là đàn ông, và ở vào tình cảnh của anh ấy... Ý nghĩ ấy bất chợt dấy lên chút xót xa. Sáng hôm sau thức giấc, nỗi xót xa kia biến mất khi tiếng chửi con của Tá vang lên tru tréo:
- A, tổ sư con đĩ non này, mày không dậy đi làm lấy cứt đổ vào mồm hay sao? Vào nhà xem có còn hột gạo nào dính dưới đáy nồi không? Không có phải lo ra đồng lên nương xem ai còn hột thóc rơi củ sắn thối lượm về... Mày có số làm đĩ ngồi dạng háng ra cũng sẵn của ngon vật lạ đổ vào mồm không hả? Mày có phận ăn trên ngồi trốc mưa không đến mặt nắng chẳng xuống đầu cũng ních tiền đầy túi, gạo đầy chum hay không?
Từ ngày những đứa con Tá ném ớt bột vào mắt cu Hạnh, Miên không cho mẹ con họ vay gạo nữa... Tôi không có phận sự nuôi lũ vô loài. Anh nghe nhân gian nói đấy, chẳng ai mặc áo cà sa đi với ma... Chị bảo thẳng vào mặt Bôn và anh giữ im lặng. Những đứa cháu Bôn và người chị lăng loàn của anh không chịu được sự đổi thay ấy. Món viện trợ thường trực bị cắt, cuộc sống của họ bỗng trở lại cảnh lao đao khốn đốn thuở xưa, cái thuở chưa lâu nhưng họ đã kịp quên lãng. Bôn hiểu rằng đối với người dân quê, cái ý tưởng: Một người giàu sang cả họ được nhờ là lẽ đương nhiên, đương nhiên một bà mợ giàu phải bao bọc những đứa cháu nghèo đói bởi nếu không bà ta sẽ phải chịu sự dè bỉu của thiên hạ... Cái quân xanh vỏ đỏ lòng, mặt tươi như hoa mà lòng sâu dạ hiểm. Ai lạ gì lũ chúng nó: keo cú thì mới có, tham lam như chó mới giàu... Nhưng chúng bay đừng tưởng đời đời kiếp kiếp như vậy, rồi diều quạ sẽ mổ sạch kho tiền, lang sói sẽ tha nhẵn của nả, tới lúc chúng bay trần như nhộng không mảnh khố che thân... Rút cuộc, không chờ người đời dè bỉu mà chính Tá nhảy dựng lên chửi.
Miên đáp lại bằng sự im lặng khinh bỉ và một nỗi thích thú ác độc mà trước kia chị chưa từng có... Chị thường mở toang cửa buồng ngồi điềm nhiên nhìn người đàn bà bẩn thỉu rạc rài lồng lộn ngoài sân. Không hiểu ánh mắt dáng vẻ đài các hoặc chính làn da nước tóc cái nhan sắc trời cho của chị đã khiến Tá điên cuồng. Thấy những lời lẽ ác độc của mình không hề chạm đến da thịt, không gây vết xước cỏn con nào trong tâm hồn người em dâu, chị ta có cảm giác tất thảy những lời lẽ gươm đâm dao cắt kia quay trở lại nhắm vào mình. Tá nhảy lồng lên túm tóc đứa con này hoặc nắm lưng đứa con kia trút túi bụi vào chúng tất cả sự phẫn nộ và oán thù chứa đựng trong tâm hồn hoang dã và dơ dáy.
Những lúc ấy Bôn lặng thinh. Hoặc anh quay mặt vào tường vờ ngủ hoặc anh vớ mấy tờ họa báo cũ nát giở ra xem. Nhưng đến bữa cơm anh cúi gằm mặt không nhìn ra sân, ở đó lũ cháu anh đang xúm quanh rổ khoai ngô nấu... Lúc ấy ta đã hả hê bởi những kẻ ác độc phải sống một cuộc sống tương xứng với chúng, bởi loại đàn bà vừa lười biếng vừa dâm đãng lăng loàn như Tá phải chịu cảnh bần hàn ti tiện họ không đáng được hưởng một cuộc đời may mắn hơn... Giờ đây ta không còn hả hê... Giờ đây ta đã quên... đã quên...
Miên tự nhủ, có lẽ chị đã quên cái kỷ niệm đau xót ấy? Thực ra, chị nhớ rõ như nó vừa xảy ra ngày hôm qua. Nhưng chị đã quên lòng hận thù. Chị quên rằng khi nhìn thấy cặp mắt sưng phồng của đứa con trai, chị đã tính đập nát đầu từng đứa cháu của Bôn, chị đã tính ném mồi lửa vào mái nhà tranh của họ, hoặc xô từng đứa trẻ xuống giếng cho chúng dãy dụa dưới đó và thay vì con chị bị bỏng mắt thì chúng sẽ chết đuối trương phình hoặc ít nhất cũng no bụng nước... Tất thảy những hành vi độc ác nhất mà trái tim đau đớn và hận thù của người mẹ có thể nghĩ ra. Nhưng vào phút chót, chị chợt hiểu rằng đối với đám trẻ hoang dã kia mọi sự trả thù đều vô nghĩa, bởi chúng chưa phải loại người biết đau khổ. Bởi chúng chưa hiểu sự nhục nhã. Mẹ chúng cũng gần như vậy. Trong gia đình họ, người có khả năng đau khổ và nhục nhã nhất chính là Bôn, và vì thế chị đã để mặc cho lũ trẻ độc ác, những tên tội phạm chính thức đứng ngoài sân và hướng toàn bộ ngọn đòn thù vào anh, biết rằng sự tính toán của mình hoàn toàn chính xác...
Trong buổi sáng này, kỷ niệm kia trở lại, giống cảnh đồi núi ngày Thu với những nét phân cắt rõ ràng và một nỗi buồn không minh bạch... Vì sao nhỉ? Vì sao? Trên những giải đồi xào xạc mùa Thu thường mọc loài cỏ khô màu xám bạc, lá dài như ngọn lau trổ bông li ti mỏng manh, những sợi tơ mảnh hơn tơ bồ công anh, mảnh đến mức mắt thường khó nhìn thấy, những đám tơ cỏ ấy theo gió bay, vương vào tóc, đọng trong nếp áo quần, khi trở về nhà mới biết. Miên nhận ra nỗi buồn đang giăng mắc trong không gian chị hít thở, vây bọc chị cũng tựa như loài bông cỏ kia, nhìn không rõ nhưng chúng lặng lẽ chất đầy những góc sâu kín, ngóc ngách trong tim chị... Vì sao nhỉ? Vì sao? Khi ở dưới mái nhà Bôn, lòng oán thù pha trộn nỗi xa xót. Có lúc chị thương anh, và tưởng rằng chị có thể nghiến răng sống nốt quãng đời còn lại cho kẻ đã một lần mắc nợ...
Nhưng những khoảnh khắc đó càng ngày càng trở nên hiếm hoi, trong khi nỗi hờn oán lớn dần, tích tụ không ngừng, ngày qua ngày, tháng qua tháng.
Cứ cho rằng kiếp trước ta có nợ với Bôn, nhưng nào ai chứng kiến được điều đó? Vả chăng, dù có nợ, ta cũng đã trả đủ. Ta không thể tiếp tục sống với một hồn ma nhập thể. Thà rằng nhảy xuống vực còn hơn sống kiếp dang dở này...
Đã nhiều lần bụng bảo dạ, Miên mường tượng tới cảnh chị nhảy xuống vực sâu như một lối thoát chóng vánh, thuận tiện, và chị đã nghĩ sẵn những lời trăn trối với con trai, với dì Huyên, với Hoan. Trong cơn tưởng tượng đó, chị đã tự khóc than mình, tự đi sau quan tài đưa mình về nghĩa địa, tự đắp cho mình những nhát xẻng cuối cùng để nấm mộ được cao và chị đã tự do đếm xem trong đám tang của chị, ai sẽ khóc nhiều hơn cả, đau khổ nhiều hơn cả. Rồi những cơn tưởng tượng qua đi, chị lại từ đáy vực trồi lên, tới nhà dì Huyên bồng bế hôn hít đứa con xinh đẹp, dắt nó về nhà cũ chơi, làm cho nó những món ăn và không ngừng mơ tưởng tới người đàn ông dưới thành phố. Chị biết chị chưa thể chết, bởi chưng ông Trời chưa thuận. Và bởi phía sau hình ảnh oai nghiêm và cao vòi vọi của ông Trời, vẫn là một người bằng xương bằng thịt, gương mặt sáng ngời với món tóc xòa trên vầng trán, khuôn miệng đam mê và đôi mắt nhìn như ve vuốt. Lần nào trở về nhà cũ chị cũng tới giường ngủ, ôm con nằm lên đó khi đứa bé bi bô trò chuyện chị nhắm mắt lại truy tìm những cuộc ân ái trong quá vãng. Thi thoảng chị dắt con leo lên sân thượng, ở đó, chị đưa mắt nhìn về phía chân trời, mênh mang nghĩ một ngày nào đó hai mẹ con sẽ đi về phía Đông, nơi mặt trời mọc, nơi thành phố giam cầm một gương mặt yêu dấu.
Trong đáy sâu tâm hồn chị, tiếng thét câm lặng vọt lên: Ta sẽ cùng nhau, ta sẽ sống cuộc sống xưa cũ... Bất chấp tất cả... Không còn gì có thể chia ly, không còn gì ngăn cách... Tiếng thét đó câm. Vì câm lặng, nó dồn tích ngày này qua tháng khác trong tim chị chẳng khác chi những viên đá ném chồng chất lên nhau trong một hang sâu. Vì là tiếng thét nó rạch lên tâm hồn chị những vết cắt buốt xót chằng chịt. Càng ngày Miên càng thấy chị bị dồn đẩy, bị xô dạt tới bến bờ nào đó mà chị không định hướng nổi.
Nhưng chị biết giông bão đã tích tụ và chị vừa sợ hãi vừa chờ đợi tiếng sét... Cho tới buổi sáng Hoan dắt cu Hạnh bước vào gian phòng của Bôn, ấy là buổi sáng định mệnh. Chị ngồi bật lên khi nghe tiếng động đầu tiên, tiếng giày cu Hạnh đá vào cánh cửa. Con trai chị có thói quen ấy, không biết ai dạy, và dù chị đã nhắc nhở rất nhiều lần thằng bé vẫn không bỏ đi được. Miên vừa định cất tiếng gọi con bỗng nhìn thấy Hoan. Anh đang cúi đầu chui qua khuôn cửa. Khi bước vào phòng, anh ngẩng lên và bốn mắt họ gặp nhau. Tức khắc, Miên đổ xuống như một cây chuối bị chặt, òa khóc, Hoan nhảy một bước tới giường, bồng vợ trên tay. Vậy là sấm đã nổ, sét đánh tan những đám mây giông tích tụ bao ngày tháng. Những dòng nước mắt được gìn giữ tuôn trào. Bao nhiêu buồn tủi, hờn oán bị dồn nén cất thành những cơn nức nở những tiếng kêu vô nghĩa vừa trẻ nhỏ vừa não nề. Miên không biết chị đã khóc trong bao lâu, chỉ nhớ rằng đó là một quãng thời gian dài rộng bù đắp lại những khổ đau đã phải chịu.
Thoạt tiên, con trai chị sợ hãi khóc theo. Nhưng Hoan dỗ dành nó và chắc hẳn nó đoán được đằng sau tiếng khóc ấy mẹ nó không chỉ đau đớn mà còn sung sướng. Đã từ lâu lắm, trước mặt nó mới hiện diện cùng một lúc cả hai người, dấu hiệu trọng đại đó hứa hẹn những tốt lành mới mẻ. Nó đứng im lặng bên cạnh Hoan, nghiêm nghị như một ông lão, mặc dù những đứa bé nhà Tá và nhà xóm giềng đang đứng lô nhô lốc nhốc ngoài cửa buồng trong số đó vài đứa đang cố sức nghểnh cổ kiễng chân, lè lưỡi ra trêu cợt. Miên khóc như vậy cho tới khi những cơn nức nở dần nguôi giảm. Lúc đó, Bôn bước vào. Anh đặt siêu nước cạnh chân giường, bước tới trước mặt Hoan:
- Đây là nhà tôi.
Hoan gật đầu:
- Đúng. Tôi không có ý định chiếm nhà của anh.
Bôn lại bảo:
- Miên là vợ tôi.
Hoan cười:
- Điều ấy cần xem lại. Anh có thể cho tôi xem giấy kết hôn của anh với Miên?
Bôn tái mặt. Gần như anh đột ngột bị câm. Và anh đưa mắt nhìn chị. Lúc đó, Miên ngừng khóc, chị nói rành rọt từng lời, vẻ lạnh lẽo và đôi phần tàn ác:
- Giấy kết hôn của anh đã đốt cùng mấy tấm quần áo cũ, vào ngày giỗ đầu. Ngày đó, cả xóm cùng chứng kiến.
Hoan chờ chị ngừng lời, móc trong túi một tấm giấy gập làm tư:
- Đây là giấy kết hôn của chúng tôi, anh có thể xem.
Mặt Bôn xám ngắt. Bỗng dưng những tia lửa dữ dằn vụt cháy trong đôi mắt sầu thảm của anh. Anh giật mảnh giấy trên tay Hoan xé tơi bời, ném xuống nền nhà. Miên chồm lên định giật lại nhưng Hoan ghìm vợ xuống thản nhiên nói:
- Anh vừa xé bản sao. Tôi còn bản chính với một đống bản sao nữa ở nhà... Hãy nhìn kĩ lại xem: bản sao nên con dấu in mực đen còn bản chính con dấu đóng bằng mực đỏ.
Tới đó, Bôn không nói được lời nào cặp mắt anh đờ dại dần và toàn thân anh bắt đầu run bắn lên trước hết là đôi bàn tay buông thõng bên mình sau đó tới đôi vai rồi sau chót tới cái cằm, những thớ thịt hai bên cổ và mi mắt. Cái nhìn mờ mịt của anh hướng tới Miên như tia sáng cuối cùng của chiều tà, như bàn tay cuối cùng của kẻ sắp chết đuối vói lên mặt nước. Lúc ấy, Miên chẳng mảy may động lòng, chỉ thấy bực tức, nôn nóng khó chịu, giống kẻ bị đầy ải sống trong hang sâu rừng rậm quá lâu muốn ra khỏi những vách đá bịt bùng để thở hít nơi khí trời thoáng đãng.
Chính chị đã lên tiếng trước:
- Mình đi thôi, anh Hoan.
Hoan đáp:
- Phải, anh tới đây để đón em.
Chị nói tiếp:
- Để em thu xếp áo quần.
Hoan lắc đầu:
- Bỏ tất cả lại. Miên đứng lên tức khắc cầm tay con trai và hai mẹ con bước ra cửa.
Chính lúc đó, Hoan dừng lại:
- Anh Bôn, chúng ta đều là những người đàn ông không oán thù không nợ nần. Tôi rất cảm thông với hoàn cảnh của anh, nhưng cuộc đời có đường đi nước bước riêng của nó cả anh lẫn tôi đều không thể chống lại... Nhưng anh hãy tin rằng tôi luôn sẵn sàng giúp anh khi cần thiết. Nếu có lúc nào đó anh thấy rằng không thể sống ở đây, cứ lại đằng kia. Nơi đó, bây giờ là nhà của riêng Miên.
Trên gương mặt u ám của Bôn cặp môi nhợt như môi tử thi mấp máy:
- Tôi sống dưới mái nhà của tôi.
Hoan bước ra cửa, nhưng trước khi đi còn ngoái lại:
- Anh cứ suy nghĩ thêm... Chào anh...
Đám trẻ con tò mò xúm đông xúm đỏ trước cửa buồng giãn ra nhường lối cho họ. Ngoài cổng, chiếc xe máy quen thuộc của Hoan đã dựng sẵn. Anh quay lại bảo Miên:
- Nào, em hãy trùm khăn lên.
Chị lẳng lặng trùm khăn, ngoan ngoãn như xưa và anh đưa mẹ con chị về nhà, trước những cặp mắt tò mò ẩn nấp sau các rặng rào và những cánh cửa láng giềng...
Ngồi trên xe Miên thở như người sắp chết ngạt được truyền khí lành, như một tù binh vừa thoát khỏi nhà giam không còn can đảm ngoái lại một lần nhìn nơi chốn cũ. Chị đã nghĩ không bao giờ còn quay lại cái ngõ lầy lội với cánh cổng bằng tre đan sơ sài tiều tụy đó, rằng tất cả đã ở lại phía sau và không sức mạnh nào có thể bắt chị ngoái lại. Những ngày tháng chịu đầy ải đã khiến chị trở nên bạo dạn, lì lợm, biết mài nanh giũa vuốt để tự bảo vệ mình, chị sẵn sàng nhảy xổ vào bất cứ kẻ nào dám tấn công, hoặc chị sẽ bước lên đấu trường trước tiên nếu kẻ thù hiện diện. Buổi sáng đưa Miên về, Hoan đã dặn ông già Lư làm sẵn bữa cơm. Trưa hôm đó họ đoàn tụ trong gian bếp cũ, ngồi ăn bên chiếc bàn thênh thang cũ, Miên ngỡ rằng cuộc sống của chị sẽ tái sinh và nhịp điệu xưa của cuộc đời sẽ hồi thức không mảy may suy suyển. Nhưng sau bữa cơm, Hoan bảo chị:
- Anh phải quay lại thành phố ngay. Sáng mai anh bay vào Bảo Lộc thu xếp công việc. Em ở lại cùng con. Đây sẽ là nhà của em...
Chị kinh ngạc nhìn anh:
- Nhà của em? Anh nói năng sao lạ lùng?
Hoan nở nụ cười thầm kín và thay vì đáp lời chị, anh cúi xuống xoa đầu đứa con trai:
- Ở nhà với mẹ ngoan nhé... Lần này ba sẽ mua cho con hộp xếp chữ.
Miên hỏi:
- Anh đi luôn sao?
Và chị nhìn anh với cái nhìn buồn tủi, dằn dỗi nhưng anh không ngẩng đầu lên cứ ôm riết lấy đứa con để lảng tránh tia nhìn trách móc đó:
- Em hãy giữ gìn sức khỏe... Mọi việc anh đã dặn bác Lư...
Hướng gương mặt ra sân, anh đặt bàn tay ấm áp lên lưng chị thay cho một lời chào rồi ra đi. Miên ngồi lặng, cố ghìm giữ để khỏi òa khóc trước mặt người quản gia:
Anh ấy đã đón ta về đây rồi bỏ xuống thành phố tức thì. Ta chẳng còn nguyên vẹn như xưa... Và cuộc sống cũ chẳng còn trở lại.
Chờ cho tiếng xe máy của Hoan xa hẳn, chị vào buồng thầm khóc. Khi đã khóc no nê, chị đành tự an ủi mình rằng dẫu sao ở dưới mái nhà cũ, chị sẽ có được cuộc sống đích thực của mình. Nhưng cái cuộc sống đích thực ấy cũng không đến dễ dàng như chị tưởng tượng. Cảm giác lạc lõng khiến nhiều lúc chị tự hình dung mình là khách trọ còn chủ nhân chính của ngôi nhà này là ông quản gia với đứa con trai.
Chị đã chuẩn bị chống lại những kẻ tò mò tọc mạch, những kẻ ghen ghét đố kị, những bóng ma cư trú trong tâm khảm, những vong linh đầy quyền uy từng ngự trị hàng vạn năm trên cõi đất này đã buộc chị phải quay lại sống với Bôn... Thậm chí, chị đã tự dàn ra trong óc cảnh tượng ngày nào đó ông chủ tịch xã ông bí thư đảng ủy hay bà chủ tịch huyện hội phụ nữ sẽ rung chuông gọi cổng gặp chị và tuôn ra những thứ lý thuyết tràng giang đại hải để kết án chị, để kêu gọi lương tâm, tinh thần trách nhiệm và đứa hạnh truyền thống... Và trong tâm hồn đau đớn, trong trái tim giận dữ của chị bỗng vọt lên một dòng thác ngôn từ không phải thứ ngôn ngữ của những kẻ uyên bác mà là dòng nham thạch của người đàn bà bị đầy ải trong cơn phẫn nộ... Giống như kẻ mài gươm, ngày ngày chị mài sắc mọi lý lẽ để chống trả thiên hạ, để bảo vệ quyền sống của mình... Nhưng kẻ thù không hiện diện, ông chủ tịch xã, ông bí thư đảng ủy xã, bà chủ tịch huyện hội phụ nữ không tới. Các bóng ma truyền thống không còn xuất hiện dù những sớm sương mù hoặc đêm trăng suông lạnh... Ngày nào đó chuông cửa rung lên nhưng là vài người láng giềng tới thăm hỏi, ngày khác họ tới xin ít dầu cạo gió hoặc thìa đường về pha nước chấm, ngày khác nữa họ tới mượn chiếc cối xay cà-phê.
Thật lạ lùng, trong tất cả những câu chuyện xóm giềng nói với chị không mảy may có nửa lời ám chỉ cuộc sống của chị với Bôn, dường như điều đó không có thật, dường như chưa bao giờ chị bước chân khỏi ngôi nhà này, rời bỏ xóm giềng này để tới sống dưới mái nhà khác, với người đàn ông khác và gần gũi những người láng giềng khác... Kẻ thù đã chết. Những người sống giữa vẻ bình thản vô can như họ chưa từng xém đen xúm đỏ trong ngôi nhà của chị ngày Bôn về, chưa từng soi vào chị những ánh mắt đầy soi mói ác độc chờ đợi, chưa từng cất những lời răn dạy chì chiết bóng gió... Và các hồn ma cũng hoàn toàn biến mất, hẳn là từng đoàn từng lũ bóng ma xưa đã bị nhấn chìm trong chuyến đò qua sông âm phủ... Nhưng nỗi hoang mang không theo kẻ thù ra đi, Miên chợt nhận thấy nỗi hoang mang đã thay thế các bóng ma quá vãng, đã thay thế cái sức mạnh áp đảo vô ảnh vô hình của đám đông, cái thứ quyền năng người ta thường gọi là công luận và giờ đây chính nó ám ảnh, chính nó dằn vặt con tim chị.
- Thưa bà, bà uống cạn chén trà cho nóng. Trà gừng đối với phụ nữ sau khi... ốm là tốt lắm...
Ông già Lư cất tiếng.
Miên biết rằng chỉ chút nữa ông đã nói: Phụ nữ sau cơn sinh sản nhưng ông kịp tránh đi. Chị vừa thầm cảm ơn ông, vừa buồn:
Đó là sự thực, tất cả mọi người đều biết, dù nói hay không. Ta đã từng sinh con với Bôn, dù chẳng được làm người nó vẫn là một chút máu rơi... Ta chưa nhìn thấy nó, cái khối máu thịt ta đã mang trong dạ ngót chín tháng trời...
Chị nhớ gương mặt ngây dại của Bôn khi người ta đuổi anh khỏi phòng hộ sinh, đó không còn là gương mặt con người, đó là nấm mồ nơi niềm hy vọng lẫn niềm vui sống của anh đã chết đã chôn vùi đã thối rữa. Chị nhớ cặp môi tái tê của anh run rẩy và từng lời thoát khỏi cặp môi đó, rơi xuống, lăn rời rạc như ai đó lăn từng từng viên sỏi trên sườn dốc. Anh gọi tên chị, anh gọi cái thai nhi vĩnh viễn không được sống kiếp người với một giọng khiếp nhược đau đớn xa vời giống người ta gọi các hồn ma bởi chính anh cũng là hồn ma đối với chị, là thây xác vật vờ bị oán thù muôn kiếp đối với cái sinh linh bé nhỏ bất thành nhân dạng kia vì lẽ anh vừa là kẻ tạo tác lại cũng vừa là đao phủ đối với nó, anh chưa cho nó sống cuộc sống của con người đã đầy ải nó xuống cõi ma nơi ấy trong bóng tối vĩnh hằng nó sẽ lạnh lẽo côi cút mù lòa câm điếc muốn kêu nhưng không có âm thanh muốn khóc mà không có nước mắt muốn than thở nhưng không có lời, và vĩnh viễn trái tim nhỏ bé trong cái hồn ma bất toàn ấy phải cam chịu nỗi đau khổ vĩnh hằng của kiếp ma không đầu...
Tại sao ta không nhìn nó một lần, dù chỉ trong giây lát. Ta là người mẹ nhẫn tâm...
Ngoài sân, gió lạnh bỗng ào ào thổi tung những đám lá khô, bốc bay lên như lũ bướm rồi ném chúng sang góc sân khác. Những chiếc lá khô vàng gợi tới các khu vườn mùa hạ, nơi chúng còn đang tung tẩy vẫy gió, nô đùa cùng chim chóc và vẩy lên trời muôn ngàn tia diệp lục... Khu vườn mùa hạ và những cánh rừng xanh thắm vừa thay lá. Tuổi thanh xuân... ai cũng có một thời son trẻ... Bất kể ai. Bôn cũng vậy. Anh ấy từng là một chàng trai khỏe mạnh, nồng nàn những ngày đến với chị... Miên nhớ buổi sáng hạ nào đấy, khi họ mới chớm yêu nhau, Bôn tới rủ chị lên rừng hái củi. Họ đã phải đi thật sớm để tránh lũ bạn thóc mách. Buổi sáng đó Miên không nhớ tới kì kinh nguyệt, chị đã không đem theo đồ lót phòng bị. Như tất cả các cô gái quê nghèo khó, chị thường dùng những tấm vải xô mềm để thấm máu rồi lựa lúc vắng người đem giặt. Lần ấy, chị đã kinh hoảng vì không thể tìm được mảnh vải hay nắm bông giữa chốn rú sâu. Máu chảy ròng ròng, chị đành bỏ gánh củi xuống, đứng sững giữa lối mòn khép chặt hai đùi cho máu thấm vào chiếc quần lụa đen. Bôn đi sau thấy Miên đứng khổ sở trong cái tư thế kì quặc ấy mà không dám nói với anh nửa lời. Khi anh hỏi:
- Làm sao vậy?
Chị không đáp, nước mắt vòng quanh. Bôn đã cười phá lên rồi bảo:
- Đằng ấy phong kiến bỏ xừ, có ai nề hà chuyện ấy?
Rồi anh cởi tấm áo sơ-mi đang mặc, xé phăng hai cánh tay áo đưa cho chị:
- Cầm lấy này. Tớ ngồi quay lưng lại cho mà thay.
Lúc đó, dáng vẻ của anh mới đĩnh đạc làm sao, cặp mắt anh long lanh niềm vui sống, tràn ngập sự tự tin và những tia sáng hắt lên từ cặp mắt đó vừa tươi rói trẻ trung vừa thăm thẳm như chứa đựng phía sau những miền đất miền rừng chưa khai phá. Bôn không đẹp nhưng cặp mắt đen của anh có sức cuốn hút. Dân làng vẫn bảo:
- Không biết tổ tiên thằng này có phải người Chàm không? Sao mắt nó giống hệt mắt dân Chàm vùng Thuận Hải...
Chị chưa từng đến Thuận Hải, cũng chưa gặp người Chàm, nhưng chị đã từng có lúc say đắm đôi mắt anh, bóng tối luân chuyển dưới rèm mi dầy đen ẩm ướt sầu buồn, chị đã có lúc nhớ nhung đôi mắt và hình dáng đó...
Sao bỗng dưng ta nhớ lại buổi sáng hôm ấy, cánh rừng ấy, con đường ấy và tiếng cười trẻ trung của Bôn. Mắt anh ấy long lanh như lửa khi đưa cho ta hai mảnh cánh tay áo. Hai mảnh vải phim xanh kẻ ô trắng, chiếc sơ-mi cũ Bôn thường mặc lúc làm vờn hoặc lên rú hái củi đốt than.
Sao trước đây ta không thể nhớ được điều này?
Chị ngạc nhiên bởi khi đang còn sống với Bôn dưới mái nhà anh, biết bao nhiêu lần chị tự thuyết phục rằng mình đã có với Bôn mối tình sâu nặng, rằng điều ấy khiến chị phải gắn bó với anh cho tới lúc xuống mồ, đã bao lần chị triệu hồi cuộc tình cũ, bới tro than quá vãng hòng vãn hồi ngọn lửa lụi tàn... Nhưng chị càng muốn phục sinh cho mối tình đầu nó càng chìm nghỉm dưới đáy vực đen, những vọng âm tắt nghỉm trong tiếng gió gào, những hình ảnh cũ tan thành bụi tro trong khung trời mờ mịt khói, vẩn đục sương mù, những khung trời cũng nát tan rạn vỡ cũng bị hủy diệt như ngôi lều tranh lửa thời gian thiêu rụi... Giờ đây, khi chị đã về ngôi nhà của chị tin chắc rằng không bao giờ còn trở lại chung sống với người chồng thứ nhất, đinh ninh rằng anh chỉ là một đống đổ nát ở lại sau lưng và chị không cần thiết ngoái đầu nhìn... Phải, vào chính lúc đó các hình ảnh xưa sống lại, kỉ niệm này kêu gọi kỉ niệm khác và quãng đời đã qua lần giở như cuộn chỉ, tuy không dài nhưng đủ làm rối ren gan ruột...
Không, ta đã trả đủ món nợ đời. Cả Xóm Núi không ai dám trách ta là người đơn bạc. Và nếu có ai dẩu miệng gây sự ta sẵn sàng cho họ nếm những lời chua chát. Ta chẳng còn nghĩa vụ phải quay đầu lại với Bôn...
Miên tự dằn lòng. Chị biết rằng đối với dân Xóm Núi sự cư xử của chị với Bôn là ngoại lệ. Không người đàn bà nào đủ khả năng tài chính lẫn sự hào phóng để nuôi một ông chồng bệnh như chị nuôi anh thời gian qua. Đối với họ, tiền có giá trị rất lớn. Đối với chị, chịu đựng những cuộc làm tình của Bôn mới là nỗi kinh hoàng, là cái giá thật sự phải trả cho quãng đời tòng phục luân lý truyền thống. Chị biết chị không còn yêu anh, không thể có khả năng yêu anh. Chị đã săm sắn ra đi cùng với đứa con trai, đã tự giải thoát, và giờ đây, khi ngồi trong căn nhà sang trọng của mình, bóng tối mái tranh tồi tàn kia trở về ám ảnh.
Anh ấy ăn gì nhỉ, trong buổi sáng hôm nay? Trời đã trở lạnh và Bôn không thể chỉ ăn cháo suông cho qua bữa. Không lẽ anh ấy lại tìm đến nhà Xá chột? Anh Xá tốt thật nhưng không giàu, và còn ba đứa con nhỏ sau lưng... Nhưng tại sao ta băn khoăn mãi chuyện này? Bôn phải tự lo liệu cuộc đời của anh ấy. Bôn bằng tuổi ta, không phải một ông lão tám mươi cũng chẳng phải đứa bé lên bảy...
Miên tự bực dọc vì những ý nghĩ quanh quẩn. Chị quay lại bảo người quản gia:
- Bác cho tôi ấm trà, tôi tự rót lấy.
Ông già Lư mang tới bình trà. Miên rót đầy một chén, uống hết rồi lại tiếp tục rót chén thứ hai và cũng uống một hơi dù bụng no căng. Chị muốn rót đầy chất nước gừng nóng ra vào dạ cho quên hết mọi suy nghĩ. Rồi chị trùm khăn, lên nhà, hy vọng trong không gian khác chị sẽ nghĩ tới những điều khác. Cu Hạnh vẫn ngủ say. Miên ngồi bên con, nhìn ra vườn. Những cành cam đã chuyển màu khi lá rụng, cành nào cũng như khô xác đi.
Màu nâu mốc kia sao giống màu da phượng. Hoa càng đỏ thân cây càng mốc thếch...
Miên bật lên ý nghĩ đó và lập tức chị nhớ lại con đường tới rặng phượng đầu thôn, những đồi dứa hai bên, bờ rào với những chùm lau phơ phất. Rặng phượng đó chứng kiến những nụ hôn đầu đời chị, cảm giác ngất ngây của da thịt chạm vào da thịt, những vết bầm đỏ Bôn để lại trên cổ và chị phải choàng khăn lên để che mắt thế gian... Một lần, dì Huyên bảo:
- Con ơi, trời nóng thế này mà suốt ngày quàng khăn làm sao cho tiện?
Nói xong, không chờ chị trả lời, bà bỏ đi. Chị trả lời sao được? Cơn lốc đam mê của tuổi mười bảy, chói chang như màu phượng, thiêu đốt như nắng hè... Tất cả đã xa xôi... Và giờ đây, tất cả lại như gần kề, như nắng trên thềm buổi chiều hôm trước... Phép lạ thần tiên hay bùa mê ma quỷ? Miên không hiểu. Chị chỉ biết rằng khi chị không còn nguy cơ trở lại với Bôn, khi chị đủ can đảm để sống cuộc đời như chị muốn, đẩy anh sang giải bờ bên kia và anh đã ở lại đó, lẻ loi, run rẩy, bị tước hết mọi ưu thế, bị tước hết hy vọng không còn mảy may năng lực để kéo chị quay lại, không mảy may cơ hội để đấu tranh, anh, lão già suy kiệt, đứa trẻ ngu ngơ, người đàn ông bất lực, con người vô năng toàn diện đó bất chợt gợi lại mùa hè thời thơ trẻ, trong sự cam chịu nhẫn nhục lặng lẽ, bóng ma anh triệu hồi những kỉ niệm ái ân, những hình ảnh tươi thắm của một rạng đông ngắn ngủi đã qua và đã vùi lấy dưới bao tầng tro bụi.
Ta đã từng ghê sợ và căm ghét Bôn. Vì sao vậy? Ta là một người đàn bà bất công và đỏng đảnh. Liệu ta còn có thể yêu chăng?
Nhưng mới chỉ nghĩ tới đó, trái tim chị thét lên kinh hoàng. Không, không, không, không bao giờ nữa...
Và chị hiểu rằng giờ đây nếu một sức mạnh ma quỷ nào ép buộc chị quay lại chung sống với anh, mọi chuyện sẽ diễn lại như xưa, chị sẽ nằm ngủ đêm đêm trong tư thế xác chết thẳng cẳng, hai cánh tay gác trên vầng trán, một nửa thân bên trái của chị sẽ trở lại trạng thái căng thẳng thường trực và đêm đêm chị sẽ hé mắt nhìn anh, cái hồn ma nhập thế, người đàn ông khốn khổ ngồi chầu hẫu dưới chân giường, với cặp mắt yêu mê tuyệt vọng nhục nhằn hờn oán, với hơi thở địa ngục, với thân xác không còn kêu gọi nơi da thịt chị niềm say mê hoặc sự hòa nhập mà chỉ còn nỗi ghê sợ hay sự xa lạ nhờm tởm...
- Không, không, không bao giờ nữa...
Tâm hồn chị lại thét lên, không chỉ kinh hoàng mà còn điên cuồng giận dữ. Giờ đây nếu ai đó ép chị phải sống lại cuộc sống lứa đôi với Bôn hẳn chị sẽ giết chết kẻ đó, hoặc chính chị sẽ kết liễu mạng sống của mình.
Vậy ta muốn gì? Ta không thể sống với Bôn vì điều đó ngang bằng cái chết. Nhưng ta cũng không thể bỏ anh ấy chơ vơ trong tình cảnh này... Giá như Bôn có thể yêu thương ai đó, nếu một người nào thuận tình sống với Bôn...
Chị gần như phát điên vì những ý nghĩ quanh quẩn, không thể xua đuổi chúng, cũng không thể dàn xếp chúng cho yên ổn. Rồi khi đã quá mệt, chị nằm vật xuống giường ngủ thiếp đi, không còn biết đứa con thức dậy lúc nào và ông già Lư hay dì Huyên đã dắt nó khỏi buồng...
Non chiều Miên mới thức giấc. Người quản gia đã đi. Dì Huyên cũng đã đưa cu Hạnh sang nhà hoặc chơi quanh quẩn trong xóm. Chị xuống bếp ăn phần cơm ông già Lư ủ trong chiếc ấm đựng bình pha trà. Thức ăn riêng cho chị là bắp bò gân bò kho nước mắm ngon với rất nhiều gừng, gần như hai phần thịt bò một phần gừng lại rắc thêm tiêu bột. Mùi gia vị thơm sực gian bếp. Người quản gia không có gia đình, nhưng ông biết nấu hết thảy những món ăn kiêng cho đàn bà đẻ và ông cũng biết cách thức săn sóc họ. Chính ông đã dạy Miên cách rửa chân nước gừng nóng trước khi đi tất, dạy chị cách nút hai lỗ tai bằng bông tránh gió, dạy chị cách day chân tóc và chải đầu một cách nhẹ nhàng để tóc khỏi rụng nhiều. Cũng chính ông bảo chị rằng chớ ăn rau cải, rau muống, rau dền, rau tàu bay trong thời gian kiêng cữ. Và lần nào đó ông đọc cho Miên nghe câu ngạn ngữ: "Ăn miếng ngon thì chồng con trả người." Lần ấy chị nhìn ông xiết bao kinh ngạc nghĩ rằng hẳn ông đã trải qua một cuộc sống gia đình lâu dài, kĩ lưỡng nhưng rút cục nó đã tan vỡ hoặc đã để lại cho ông những kỉ niệm quá đỗi đau buồn nên ông đã bịa ra một lịch sử độc thân để che giấu quá khứ. Làm như vô tình, chị bất thần cất tiếng hỏi:
- Bác gái cùng quê với bác phải không?
Người quản gia lúc đó đang lúi húi pha trà, ông không quay đầu lại, đáp với giọng bình thản, nhẹ nhàng:
- Tôi đã kể cho bà rồi mà... Đời tôi chưa từng cưới vợ.
Miên đáp:
- Có lẽ lâu rồi nên tôi quên mất... Nhưng thời trẻ bác cũng phải yêu một người đàn bà nào chứ? Dù là cùng quê hay khác quê... Dù có hôn nhân hay là không...
- Thưa bà, đã là con người ai cũng trải qua ngần ấy cảnh khổ. Chỉ có điều mỗi phận mỗi khác thôi.
Ông đáp, cũng với giọng bình thản xa vời. Miên không dám hỏi thêm. Từ đó chị cũng không trở lại nỗi tò mò ấy mặc dù nó vẫn còn nguyên. Đôi mắt người quản gia rất lạ. Cặp mi mỏng nhàu nát trên đôi tròng mắt sâu. Cái nhìn gần như bất động có một vẻ chăm chú, đau đớn và điều chi đó giống với sự dịu dàng. Từ ngày Miên trở lại đây, trong cái nhìn ông hướng về chị ẩn náu sự dò hỏi, niềm an ủi và cả sự nhẫn nại đợi chờ. Miên không hiểu sao chị có những cảm giác đó, những cảm giác hết sức rõ rệt tuy nhiên rất đỗi xa vời rất đỗi mơ hồ và chị không lý giải được.
Ông ta đợi chờ gì nơi ta? Trong cái nhìn khôn ngoan dò hỏi và câm lặng kia có bao nhiêu ẩn ý mà ta không đoán nổi. Nhưng chắc hẳn những điều đó liên quan tới Hoan. Ông ta là thủ túc trung thành thân tín của Hoan. Dường như trời sinh họ ra là để gặp nhau vậy...
Bỗng dưng chị thấy mình có nỗi ghen tuông thầm kín đối với người quản gia, dường như ông gần gũi thân thiết nhất với Hoan chứ không phải chị. Ông là một bộ phận của anh, đón biết mọi ý tưởng thầm kín của anh, thực hiện mọi mong muốn và toan tính ngầm ẩn của anh... Và tất thảy những điều đó ở ngoài chị. Rõ ràng là quá khứ đã đào một vực sâu ngăn cách chị với người đàn ông chị yêu dấu và giờ đây, tình yêu giữa họ vẫn còn, nhưng đã có nhiều điều không thể chia sẻ.
Nhưng vì sao ta lại đòi hỏi Hoan chia sẻ với ta mọi điều, khi ta sống dưới mái nhà này, ăn cơm trong gian bếp này, choàng tấm khăn do Hoan mua và ta xót xa cho Bôn, ta thương cảm cái người đã ở lại bên kia giải bờ phân cắt...
Chị nhìn thấy rõ rệt hình ảnh của chính mình. Một kẻ đứng bên ngoài khung trời của cả hai người đàn ông, bị nung nấu cả từ hai phía mặt trời bên này hay mặt trời bên kia đều bỏng rát tuy hai thứ lửa khác biệt nhau. Đó là hình ảnh của một thứ tội đồ trọng đại, khủng khiếp xưa: tội ngựa xé thây.
Chính ta đã rời bỏ mái tranh của Bôn, và hành động đó là chuẩn xác. Ta phải quên Bôn đi. Ấy là điều duy nhất cần làm lúc này...
Chị hạ lệnh cho mình. Chị tìm công việc để khỏa lấy thời gian, hoặc nấu một món ăn nhẹ nhàng, hoặc đan chiếc mũ mới cho cu Hạnh nhưng chỉ một lát sau, chị lại thấy màu trời xanh lơ xa thẳm, vòm phượng nặng trĩu nghiêng đỏ khung trời, con đường mòn với ngọn cỏ leo phơ phất... chị lại thấy dòng suối thời con gái róc rách ngập tràn, những tảng đá bám đầy rêu, nơi chị ngoi ngóp thở và chàng trai mười bảy có cặp mắt u sầu chìa bàn tay cho chị, chị lại nhớ một buổi trưa nào đó, chim cu rừng gáy nức nở trong các vòm cây, Bôn đã hái cho chị một chùm vả chín và ngồi bó gối nhìn chị ăn vả, với ánh mắt xiết bao mê đắm dịu dàng...
Cứ như thế, người đàn bà đếm những buổi chiều với tâm trạng của kẻ bị phân thây. Hai tuần lễ trôi qua. Tới tuần trăng mới, mùi nhang khói từ nhà này bay sang nhà kia vương vấn thôn xóm. Miên đã cùng đám đàn bà đi chợ, mua hoa quả nấu xôi chè cúng tuần. Sức khỏe chị hồi phục trong khi trái tim chị càng ngày càng bị dày xé. Chị rất muốn hỏi thăm tin tức của Bôn nhưng không dám, những người láng giềng lại càng ý tứ hơn, họ lảng tránh tất thảy những chuyện dính líu hoặc có thể gợi tới Bôn và gia đình Tá. Thậm chí, ngay cả nhắc đến Xá chột, người bạn thân tín của Bôn họ cũng ngượng ngùng. Miên hiểu rằng mọi người đều chờ ngôi trường xây xong để con cái họ được cắp sách tới đó, thụ hưởng những tiện nghi mà ngay cả đám trẻ thành phố cũng mơ ước và nhờ vậy tương lai lũ trẻ Xóm Núi sẽ có cơ may cải thiện. Món quà tặng của Hoan là một thứ ở ngoài trí tưởng tượng của mọi người vì thế giờ đây anh có một sức mạnh ở ngoài họ. Không một ai dám chạm tới anh.
Tội nghiệp cho Bôn... Bôn lẻ loi, bần hàn. Bôn thành kẻ trắng tay... Nếu như ta cũng như Bôn, ra đi từ tuổi mười bảy rồi sau mười bốn năm trở về với chiếc ba-lô giống cái bị rách của gã ăn mày? Nếu ta là Bôn, là Bôn...
Tâm hồn chị rên rỉ và bỗng nhiên chị căm ghét tất thảy cái đám gọi là dân trong làng ngoài xóm. Ngày Bôn trở về họ đã từng ủng hộ anh cũng như họ thần phục Hoan ngày hôm nay. Chị lờ mờ thấy rằng đám đông không có lương tri mà chỉ tuân phục kẻ mạnh. Khi Bôn trở về anh là người anh hùng của họ bởi dưới cái thân xác như ma dại anh gợi lại một thời oanh liệt đã qua cái thời mọi gia đình mọi cá nhân đều muốn gá vào để chia phần kiêu hãnh. Giờ đây anh trở thành kẻ thất sủng. Người anh hùng của thời mới là Hoan.
Vậy mà ta đã ra đi vì khiếp sợ họ. Buổi sáng hôm ấy, ta bước chân đi óc tối như mây mù. Trời cũng đầy sương mù và ta cắm đầu bước chân theo Bôn, chẳng vì tình yêu mà vì sự tuân phục mù lòa như con thuyền trôi vào dòng lênh đênh không chèo không lái. Nguy xuẩn quá...
Chị thầm nghĩ và rồi chị muốn làm một điều gì đó để chống lại đám đông, để trả thù cái buổi sáng mù sương chị đã phải bỏ ngôi nhà của mình ra đi trên con đường vô định.
Ta không thể như họ, ta nhất định không hành động như họ...
Chị thầm nhủ sẽ làm một điều gì đó trái ngược lại đám đông để chứng tỏ họ là những kẻ hèn hạ:
Nhất định ta sẽ làm... Ta sẽ làm...
Nhưng làm cái gì, chị chưa nghĩ ra. Điều đó cũng hệt như kẻ đi kiếm đỏ ong rừng, đã tưởng tượng thấy bọng mật nhưng đi về hướng núi nào, chưa biết...
Năm ngày sau buổi chợ, dì Huyên sang sớm như thường lệ. Bà già chơi với cu Hạnh quanh quẩn dưới sân. Miên ngồi uống trà với người quản gia trong bếp. Khi uống xong tuần trà, ông già Lư ra công trường. Lúc đó, bà mới bước vào bếp, bảo Miên:
- Này, dì nghe nói thằng Bôn ốm lắm.
- Anh ấy ốm từ bao giờ?
- Ngót ngét mươi ngày thì phải. Chiều qua gặp thằng cu lớn con Xá chột xách âu cháo sang. Tội nghiệp, âu cháo loãng ngoét, có vài mẫu hành lá với mấy miếng thịt lều bều. Anh Xá đang lên rừng với cánh sơn tràng, có mỗi cô Soan ở nhà xoay xỏa.
Ta phải nuôi Bôn. Ta không thể để anh ấy chết mòn trong cái nhà tranh ấy...
Ý nghĩ đó bật lên tức khắc trong óc não người đàn bà. Và tức khắc những ý nghĩ khác nối tiếp xô đến như dòng nước:
Nếu có một người anh trai bất hạnh như Bôn, liệu ta có bỏ rơi anh ấy trong lúc khốn cùng không? Không. Không đời nào. Vậy sao ta bỏ rơi Bôn tàn nhẫn thế? Tình đã chết nhưng nghĩa vẫn còn. Phải cưu mang Bôn như cưu mang một người anh ruột thịt. Chính vào lúc này, lúc anh ấy không còn mảy may ưu thế cô độc lẻ loi bị người đời quên lãng...
Bởi nếu Bôn chết đi trong khốn cùng cô độc, ta không thể sống bình yên. Anh ấy là một mảnh đời quá khứ. Dù muốn hay không cũng chẳng xóa trắng được trang giấy đã viết. Dù muốn hay không ta cũng không thể làm Bôn biến khỏi trí nhớ của mình.
Nhưng còn Hoan, liệu Hoan có chấp thuận việc này không? Và nếu vì việc này, Hoan chẳng còn yêu ta nữa? Ta sẽ là kẻ bơ vơ giữa cõi đời lúc đó chính ta lại trắng tay:
Không, Hoan đón ta trở về, nghĩa là chấp nhận ta như ngày hôm nay, một người đàn bà có nợ trong quá vãng. Hoan thông minh hẳn anh ấy hiểu rằng thời chiến, rủi ro thua thiệt có thể rơi lên đầu bất cứ ai, chẳng riêng Bôn. Và anh ấy cần có đủ lòng khoan dung để xử thế. Nếu Hoan không chấp thuận điều kiện này, Hoan cũng chẳng còn đáng yêu, đáng tôn thờ như xưa...
Một khi anh ấy không còn đáng yêu, đáng tôn thờ, có xa cách cũng chẳng còn bao nhiêu đau khổ...
Những ý nghĩ mạch lạc và rõ rệt. Miên kinh ngạc. Chị không hiểu sao bỗng dưng chị suy nghĩ một cách quả quyết và mau lẹ như vậy. Giống như kẻ vừa kết thúc một họa phẩm lùi ra xa nhìn lại thành quả lao động của mình, chị cũng lùi ra xa kiểm định lại những ý tưởng vừa nảy sinh, không khỏi ngỡ ngàng:
Sao ta có thể vội vàng như vậy? Ta đã qua bao nhiêu cực nhục mới quay trở lại được nơi đây, giờ lại tự ý dấn thân vào cảnh rắc rối, trớ trêu... Phải chăng ta đã mua dây mà trói chân mình. Giá như Hoan chẳng còn yêu ta nữa? Ta sẽ sống ra sao?
Một ảnh tượng hãi hùng tràn ngập tâm hồn chị. Và người đàn bà cảm thấy nỗi sợ hãi khiến chị rùng mình ớn lạnh, nỗi sợ hãi như cơn gió đầu mùa làm con người run rẩy không phải vì nó quá lạnh mà bởi nó báo trước một mùa khắc nghiệt bạo tàn mà họ đã quên lãng. Nhưng khi nỗi sợ hãi lướt qua, một giọng thì thầm bướng bỉnh vang lên:
>Ta phải hành động theo lương tâm mình. Cha đã dạy rồi, con người nhiều khi yếu hèn hơn loài thú, nhưng họ trở thành người vì họ có lương tâm. Hoan chấp nhận hay bất bình, anh ấy còn yêu thương ta hay sẽ cạn tàu ráo máng, đó là việc của trời, chỉ có trời mới biết hết mọi ngả đi lối về của cuộc đời. Chúng ta, những kẻ phàm trần sống kiếp bọt bèo, nước chảy tới đâu bèo trôi tới đấy...
Tâm hồn chị bỗng dưng trong trẻo êm lặng tựa khung trời sau cơn mưa. Chị bảo dì Huyên:
- Dì bắt gà trong chuồng nấu giùm con nồi cháo. Con vẫn chưa dám nhúng tay vào nước lạnh.
Bà già đưa mắt nhìn chị với cái nhìn dò hỏi lưỡng lự nhưng không cất tiếng. Miên nhắc lại, giọng quả quyết lạnh lùng:
- Dì làm giùm con ngay đi. Chút nữa con sẽ mang nồi cháo sang cho Bôn.
Dì Huyên bước khỏi gian bếp. Miên nhìn theo bà vài giây rồi thắt lại tấm khăn trùm đầu, bước ra sân chơi với con trai trong tâm trạng của kẻ đã nhảy xuống sông dù sang được bờ bên kia hay bị sóng cuốn trôi cũng không thể quay lại chỉ còn cách duy nhất là bơi về phía trước.






Chương 25



L
úc Miên mở cánh cửa bước vào buồng đã non trưa. Như trời xui đất khiến, Bôn ngồi phắt dậy đạp tấm chăn xuống chân giường. Anh im lặng. Miên cũng im lặng. Chị đặt liễn cháo lên mặt bàn đưa mắt nhìn quanh để tìm cái bát sạch, không còn cái bát ăn nào trong gian buồng của Bôn, chạn bát lẫn đống bát đĩa chị đem tới mẹ con Tá đã tha lôi đi hết. Chị bước tới chum đựng gạo nhìn vào dù biết trước sẽ chẳng sót hạt nào. Một chiếc quần bẩn vắt lòng thòng trên miệng chum, vài chiếc may-ô lẫn sơ-mi bẩn cuộn thành nùi đặt trên nắp hòm quần áo của chị. Chiếc hòm được khóa cẩn thận, hẳn nó là vật duy nhất không bị lục lọi trong gian buồng này. Trên mặt bàn lẫn trên sàn nhà đầy những vỏ khoai lang khô và cứt chuột. Hai đứa con nhỏ của Tá ngồi chầu hẫu nơi cửa buồng nhìn chị dù trời đã lạnh chúng vẫn cởi truồng và con cu đen thủi đen thui chấm xuống nền gạch bẩn. Sau lưng chúng, ngay trên hè một rổ khoai lang rễ luộc ăn dở dang, vương vãi đầu mẫu lẫn những vụn khoai bị giẫm be bét... Không có gì thay đổi ở nơi đây, đúng như Miên dự đoán, có điều cảnh tượng còn tồi tệ hơn bởi khi chị không còn sống với Bôn, sự bần hàn dơ dáy kéo anh xuống với gia đình bà chị. Miên xuống gian bếp thấy đống bát đĩa đã bị tống vào cái trạn bẩn thỉu của mẹ con Tá, còn chiếc trạn của chị bị trưng dụng thành chỗ nhét quần áo của lũ trẻ. Chị lấy một chiếc bát đem rửa rồi mang lên múc cháo cho Bôn:
- Anh ăn đi.
Bôn không nói gì, lẳng lặng đón bát cháo từ tay chị xúc ăn. Cháo rất nóng vì chị ủ liễn cháo trong tấm khăn bông, hơi nghi ngút. Mồ hôi Bôn rịn trên trán, nơi hai thái dương. Miên kéo tấm khăn phơi trên dây đưa cho anh:
- Anh lau mặt đi, ra mồ hôi như thế rất tốt.
Bôn lau mặt. Chị nhìn những ngón tay khô xác run rẩy của anh và nghĩ tới mảnh đất xã chia cho anh đang còn rậm rì cỏ mọc:
Làm sao Bôn kiếm nổi miếng cơm với những ngón tay đó? Đất đầy sỏi và cỏ tranh, không nước tưới và không tiền mua phân bón...
Chị đã từng vỡ đất trồng tiêu và trong vài năm đầu sống với Hoan họ cũng từng làm cỏ tưới nương như tất cả mọi người, chị biết rằng phải có sức khỏe mới vượt được giai đoạn khởi đầu gian nan ấy. Nghề trồng tiêu và cà-phê cũng từa tựa như buôn lớn, không hòng kiếm lãi ngay, vốn càng trường càng thắng đậm. Làm sao Bôn bước nổi vào chiếu của các ông chủ trại?
Không tiền, không kinh nghiệm, vốn tối thiểu là sức khỏe cũng không. Giờ đây, anh còn suy kiệt hơn cả những ông già sáu mươi trong Xóm Núi. Dạo chị mới quay về sống với Bôn, đang còn tràn đầy hy vọng và lòng hăng hái anh đã hai lần ra vỡ đất, lần nào anh cũng cảm nằm bệt cả tuần. Hồi đó, anh vẫn thường bảo chị:
- Thôi, mình đàng chờ cho tôi lại sức... Dù sao cũng phải có thời gian, chúng ta còn trẻ và rồi đây...
Và rồi đây... Ấy là câu cửa miệng của Bôn và mỗi lần lặp lại câu nói ấy, mắt long lanh như lửa rọi. Ngọn lửa đó đã tắt rụi chẳng còn mảy may tia khói từ lúc người hộ lý trong phòng hộ sinh chỉ cho Bôn thấy cái thai nhi không đầu. Khi bà ta xách xô đi, Bôn đã túm lấy chân chị, hai bàn tay anh lạnh như nước đá cặp mắt vô hồn và môi anh mấp máy ngọng nghịu như kẻ tật nguyền:
- Miên... Miên... Con đâu? Con đâu âu...?
Lúc đó chị không trả lời anh. Chị mệt mỏi sau cơn sinh nở. Chị cũng thấy hụt hẫng. Nhưng cùng với sự hụt hẫng còn có cả sự thanh thản và nơi đáy sâu con tim chị một niềm vui tăm tối mà chị không dám thú nhận ngay với chính mình.
Tội nghiệp cho Bôn. Ta chẳng muốn thế nhưng cũng không thể nào khác...
Bôn ăn xong đặt bát xuống giường mà không nhìn chị. Miên đem bát đi rửa rồi mang trở lại chiếc bát sạch đặt lên mặt bàn:
- Em để sẵn cho anh ăn bữa chiều.
Anh lắng nghe nhưng không trả lời đưa mắt thẫn thờ nhìn khuôn cửa. Trời không nắng. Gió đu mấy ngọn xoan xơ xác ngoài vườn. Trên sân hai đứa cháu tồng ngồng của anh đang chúi đầu chơi đáo. Miên thấy anh cứ nhìn mãi vào đám xoan, bèn đứng lên:
- Em về đây.
Lúc đó Bôn giật nẩy mình và đôi mắt thẫn thờ của anh chợt nhớn nhác nhìn chị:
- Miên đi đâu?
Chị đáp:
- Em về nhà em.
Trên gương mặt xa vắng của Bôn chợt thoáng qua một nét nhăn đau đớn, dường như anh vừa bị nghiến một ngón tay hoặc bị xé rách một thớ thịt:
- Miên về nhà...
Bôn lặp lại, không trả lời và cũng không để hỏi. Đơn thuần chỉ là một câu lặp, một hồi âm, như tiếng dội khi ta cất tiếng kêu giữa một thung lũng bốn bề là vách đá. Miên nhìn anh và hồi nhớ tuổi trẻ của mình, hồi nhớ những ngày cùng lũ con gái trong xóm đi kiếm củi, họ thi nhau hét vào hang nghe xem tiếng vọng của ai âm vang hơn, ngân dài hơn. Rồi họ đứng bên này suối, xem đứa nào ném trúng bụi sơn trà. Rồi họ cùng nhau hái sim mùa sim chín, dải đồi nhấp nhô, nhấp nhô, tiếng cười lanh lảnh từ đồi này vọng sang đồi khác, mùi trái chín và những cặp môi nhỏ nhuộm màu sim... Không hiểu vì sao tiếng nói vô hồn của Bôn bỗng gọi về đầy ắp âm thanh và màu sắc thời con gái, những hồi nhớ đó khiến tim chị xót xa, và chị không còn muốn chấp nê sự câm lặng lạnh lùng của Bôn. Chị ngồi xuống ghế, kéo ghế gần lại trước anh và nói:
- Anh Bôn, hãy theo em về đằng kia.
- Không.
- Đằng kia là nhà của em, của riêng em. Anh Hoan đang cất nhà trên khu Suối Nhỏ.
- Tôi ở nhà của tôi.
- Anh với em tình đã cạn, duyên đã hết. Chúng ta không thể là vợ chồng. Nhưng dẫu sao, cũng đã từng chia sẻ gối chăn. Một ngày nên nghĩa. Em không yêu anh nhưng em có thể chăm sóc anh như anh ruột mình.
- Không.
- Anh không thể sống ở đây. Chị Tá không giúp anh được. Sức khỏe của anh bây giờ còn tệ hơn hồi anh mới về. Anh Xá tốt thật nhưng còn cả một đàn con.
- Miên mặc tôi.
- Anh cứ nghĩ kĩ đi...
Chị nói tiếp một cách nhẫn nại:
- Anh cứ nghĩ kĩ đi. Chúng ta dù không có con sống nhưng cũng có chung con chết... Em vẫn còn nặng nghĩa với anh...
Nói xong, Miên đứng lên ngay, ra về. Chị không muốn ngồi lại thêm bởi sợ phải nhìn thấy Bôn khóc. Chị không muốn, không bao giờ muốn nhìn thấy nước mắt trên gương mặt một người đàn ông. Và chị nhớ lại cái đêm bất thần mở mắt, thấy anh ngồi chầu hẩu dưới chân giường, nước mắt tuôn như suối. Cảnh tượng đó não nề sao và nó có cái gì đó khiến cho chị vừa đau đớn vừa nhục nhã. Chị rảo bước khỏi căn ngõ, hai thái dương nóng bừng bừng trái tim chị cũng cháy như lửa bừng bừng nửa xót xa nửa vui sướng:
Không, không... ta không thể nào yêu Bôn được. Ta trở về mái nhà của ta là đúng. Giống như kẻ đã đến cửa địa phủ lại tìm được lối về cõi nhân gian... Nhưng ta sẽ cam lòng nuôi Bôn, như nuôi một người anh em bị tật nguyền, cam lòng gánh anh ấy cho tới ngày mãn kiếp...
Hôm sau, Miên quay lại gian buồng của Bôn từ sáng sớm. Chị lại đem cho anh liễn cháo với mấy tấm bánh nếp. Bôn rất thích ăn bánh nếp nhân mặn. Họ không nói chuyện gì bởi Miên phải vội trở về trông con. Người quản gia lên công trường ngay sau bữa ăn sáng còn dì Huyên theo mấy bà trong Xóm Núi xuống phố huyện:
- Anh gắng ăn cho hết mọi thứ. Mai em sẽ nhờ người xuống phố mua thuốc.
Anh không trả lời đưa mắt nhìn chị với cái nhìn âu sầu nửa như hờn dỗi nửa như chấp thuận.
Hôm sau nữa Miên bới cơm và thức ăn mặn đem cho anh. Chị ngồi chờ anh ăn xong bữa để thu dọn bát đĩa đem về. Liễn đựng cháo hôm qua lũ cháu Bôn đã mang ra sân thả cá con, chiếc thìa bị bẻ cong lên làm xẻng đào đất. Bôn ngượng ngùng nói:
- Tôi ốm nằm đây, không bảo được lũ trẻ.
Miên lặng im. Chờ anh ăn xong, chị nói:
- Hiện giờ em còn có thể mang cơm cho anh. Nhưng ít bữa nữa em sẽ phải coi sóc nương vườn vì ông già Lư hàng ngày lên công trường theo đám thợ.
Bôn im lặng. Miên nói tiếp:
- Nếu anh có gia đình thân quyến ăn nên làm ra như người khác đã đi một nhẽ. Nhưng hiện tình anh không thể bấu víu vào ai... Anh hãy nghĩ kĩ điều em nói.
Anh không trả lời. Họ cùng ngồi im lặng như thế hồi lâu, cùng đưa mắt nhìn ra sân vì không còn gì để nhìn trong gian buồng tăm tối đó. Ánh sáng trắng đục của một rạng đông không mặt trời tràn ngập không gian. Mảnh sân vắng con mèo láng giềng sang cào kẽ gạch tìm bắt dế. Mấy đứa con Tá đã rủ nhau đi chơi đâu không rõ để lại mấy mẫu khoai luộc lăn lóc trên chiếc đĩa nhôm đầu hè. Chỉ mấy ngọn xoan ngoài vườn là nhúc nhích trong khung cảnh ơ hờ buồn tẻ ấy. Những ngọn xoan đong đưa trong gió, đong đưa kiếp sống lắt lay của chúng trên đám thân cành khẳng khiu, trong khu vườn cằn lụi đến mức chỉ còn trơ những gân đất, cỏ cũng không buồn mọc. Gian nhà của Bôn không có tiếng động nào ngoài tiếng thạch sùng tắc lưỡi và thi thoảng, một con chuột rúc rích trong xó, sau chum đựng gạo, hẳn để kiếm một cách tuyệt vọng vài hột gạo rơi. Miên lắng nghe những tiếng động đó, lần đầu tiên chị chú ý tới chúng:
Vậy mà ta đã sống ở đây bao nhiêu ngày tháng. Chẳng ngờ được. Giờ quay lại nhìn cứ ngỡ chuyện của ai...
Miên thầm nghĩ và chị tự hỏi chị làm cách nào để nuốt trôi thời gian trong gian buồng này, với người đàn ông ngồi trên chiếc giường cách chị nửa sải tay đang đưa cặp mắt trống rỗng nhìn những ngọn xoan đong đưa trong gió. Đôi mắt anh giờ này âm thầm quá. Nhìn vào chúng tựa nhìn vào những ngôi mả hoang nơi người sống không còn lai vãng. Anh nghĩ gì vào lúc này hoặc chẳng nghĩ gì hết? Chị thầm hỏi và không tìm được câu trả lời. Chị đành ngồi lặng lẽ chờ anh lên tiếng trước. Thời gian cứ thế trôi. Rồi có tiếng lao xao của đám người nào vẳng tới. Lát sau, gió đổi chiều đưa mùi khói bếp, lẫn mùi khói bếp là mùi tỏi phi mỡ thơm phức. Bất chợt Bôn cất tiếng bâng quơ:
- Nhà ai xào rau muống nhỉ? Điếc mũi...
Miên hỏi:
- Anh thích rau muống xào à?
Bôn gật đầu:
- Món tủ của tôi đấy. Hồi trước mỗi bận bị điều xuống làm bếp tôi với cậu Cảnh vẫn đi lùng tỏi xào rau muống. Tiểu đội trưởng thích nhất món ấy mà các thủ trởng lớn trên quân đoàn xuống đơn vị chơi cũng đòi ăn món ấy.
Dứt lời, anh chợt mỉm cười với ai đó trên ngọn xoan và cặp mắt vô hồn của anh thoáng qua ánh ngày. Miên chờ Bôn dứt cơn trầm ngâm, lên tiếng:
- Em cũng thích ăn rau muống xào tỏi. Nhưng rau bí non hoặc rau cải ngồng xào tỏi còn ngon hơn...
Bôn gật đầu:
- Ờ... ờ...
Miên nói tiếp:
- Anh định hôm nào lại đằng kia?
- Tôi... tôi chưa biết... Tùy Miên...
- Hôm nay trời không nắng, gió cũng êm... Chỉ e anh chưa chịu nổi...
- Chẳng sao. Tôi cũng dứt cơn sốt mấy hôm nay rồi.
- Để em đi thu xếp quần áo cho anh.
- Ờ, cứ mặc tôi...
Bôn ậm ừ, đưa mắt luống cuống nhìn chị. Nhưng Miên đã quay đi tức khắc. Chị đến góc buồng nơi chiếc ba-lô của Bôn nằm bẹp dí dưới đống đồ lặt vặt. Kéo chiếc ba-lô lên, Miên đập bụi xếp quần áo của Bôn và bỗng dưng một giọt lệ trào ra, qua gò má lăn xuống khóe môi chị vừa ấm vừa mặn:
Gia tài của Bôn đây, sau mười bốn năm rời làng xa xóm... Ngoại trừ bánh xà-phòng anh ấy đưa cho ta, phần còn lại đúng là chiếc bị ăn mày...



Dương Thu Hương
(còn 1 kỳ)



*


Mời đọc:


Bạch hóa Thái thượng hoàng

Xã trưởng tân truyện

5 anh một…một duột

Ảo Vọng

Đạo và thằng gian




6

 

Click vào:

Amazon Sấp Ngửa

 

Và có bán tại:

Tự Lực

Tú Quỳnh

 

*



Tran Triet's photo.

Click vào:

 Amazon Mẫu Hệ


Có bán tại:


Người Việt Shop

Tự Lực

Tú Quỳnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn