DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,771,558

Dương Thu Hương - Chốn Vắng (hết)

07 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 3421)
Dương Thu Hương - Chốn Vắng (hết)

Chốn Vắng




blank



Chương 26


N
gày lại tháng qua, mọi sự kiện đưa đẩy theo dòng đời, vài ba sự kiện lưu lại lềnh bềnh như đám bèo trên mặt sóng còn đa phần cuốn trôi cùng làn nước. Ngày nào đó Xóm Núi râm ran tiếng pháo mừng khánh thành trường tiểu học, xe lớn xe nhỏ đậu ngổn ngang nơi bãi Đồi, quan huyện quan tỉnh kéo về nườm nượp để chứng kiến phút cắt băng lụa đỏ, dân chúng mừng rỡ cuống cuồng nháo nhác từ trẻ đến già, đám học sinh trong xã được phát nào cặp mới, mũ mới, sách vở mới đi đi lại lại xốn xang, trống cà-rùng gõ đinh tai nhức óc... cái không khí hội hè lạ lùng tựa không khí trong chuyện thần thoại tưởng sẽ mãi mãi không phai nhạt... ngày đó đã qua, đã qua khá lâu, và dòng đời cô tịch lại trở về ngự trị miền sơn dã.
Đã qua những đêm Thu tạnh ráo sao đầy trời, gạo nếp rang nở bung trong chảo, chuyện vãn của đám dân quê nở bung quanh các ấm trà, các bát điếu, những ngọn đèn thắp lên những đóa lửa hồng điểm tô cho bóng tối mênh mông nỗi an bình dịu ngọt. Cũng đã qua những đêm Đông gió giật, nương vườn trở nên thâm u, bóng người đi lại trên các nẻo đường đong đưa cây đèn bão trông leo lắt chập chờn như lũ ma tội đồ đi rắc lửa địa ngục, lẫn cùng gió thi thoảng một con hoẵng kêu sương vọng về, nghe như tiếng của lạc loài của đơn côi của những nhục nhằn câm lặng. Bất chợt một sáng những mầm cỏ trắng li ti nở ra giữa các búi cỏ xám già và tiếng vỗ cánh của chim non trên ngọn cây lay động một góc cỏn con của bầu trời, chợt vỡ òa một màu lơ trong suốt như pha-lê, lấp lánh bọt nước và từ khoảng rạn vỡ của khung trời đó, một biển lơ xanh thắm tuôn tràn.
Dân Xóm Núi đổ ra nương vườn, điểm tụ bạ không còn là các câu lạc bộ gia đình mà là các bóng cây hoặc những lán tranh tạm trú, nơi họ ngừng tay uống nước hoặc ăn bữa cơm trưa. Sau bữa trưa từng đám người nằm duỗi dài trên cỏ khô, rơm khô hoặc các tấm cót rộng. Lũ trai trẻ có thể chợp mắt làm một giấc ngủ ngắn gọn nhưng ngon lành còn những người lớn tuổi thường chỉ nằm cho giãn xương lưng. Trong khoảng thời gian đó, các câu chuyện lại cất lên ròn rã và không bao giờ ngưng lặng nếu họ chưa dựng nên được một pháp đình và ai đó chưa được đóng vai trò của pháp quan, ít nhất một lần, trong cuộc đời bình lặng và buồn nản của họ...
Bây giờ, nhân vật thường được bênh vực lại là Hoan, chủ trại Suối Nhỏ, ân nhân chung thân của dân toàn xã:
- Suy đi tính lại chẳng ai thiệt như tay Hoan. Dinh cơ của mình bỗng dưng thằng khác tới ở, phải bỏ tiền xây nhà mới. Vợ con mình bỗng dưng phân cách, sáng nào cũng phải phóng xe vượt mấy cây số tới đón, lặn mặt trời lại phải vượt mấy cây số đèo về... Rõ ràng không phải trời đầy mà người đầy. Kiểu tù này là tù không án.
- Ờ, cũng lạ cho họ. Tại sao cô Miên không dọn về ở hẳn trại Suối Nhỏ với anh ta?
- Như thế, cậu Bôn còn danh nghĩa gì để trụ lại dưới mái nhà của cô ấy?
- Danh nghĩa có đem ra gặm được đâu? Sự thật sờ sờ trước mắt là cậu ta quanh quẩn suốt ngày với ông cụ Lư. Hai thằng đực rựa ăn cơm với nhau cả trưa lẫn chiều... Họa hoằn buổi sáng cô Miên mới ngồi cùng mâm vài phút.
- Nhưng người ta vẫn cần danh nghĩa. Ví như bà Huyên, sang trại Suối Nhỏ ở với tay Hoan từ lâu nhưng vẫn khóa trái ba gian nhà lại, ai hỏi mua cũng không bán. Đó là đất lui chân. Như cậu Bôn vậy, đất lui chân của cậu ta là danh nghĩa vợ chồng với cô Miên.
- Cò súng của nó hỏng từ lâu, còn chó gì mà vợ với chồng.
- Con cu cậu ta không ngỏng lên được nhưng cái cổ cậu ta vẫn cần ngỏng lên. Phải có lý do để ngửa mặt nhìn thiên hạ chứ...
- Vẽ sự... Đứa trẻ lên năm cũng biết cô Miên nuôi báo cô cậu ấy. Nghĩ cũng nhục... Tôi mà lâm cảnh ấy tôi chết mẹ nó đi cho rồi.
- Vậy ông thử chết xem sao? Chết chẳng dễ đâu. Chưa tới ngày tận số muốn chết trời không buông áo cho đi đất cũng không mở cửa cho đến.
- Ông rủa tôi đấy hả?
- Tôi không rủa nhưng đã nói chuyện phải nói cho cạn lẽ.
- Thôi thôi... Các ông thừa sức hay sao mà gây sự? Dễ hồ họ thuê tiền mướn bạc để các ông cãi nhau?
- Chẳng ai thuê nhưng thấy điều ngang tai chướng mắt vẫn ngứa lưỡi.
- Lưỡi ai cũng ngứa nhưng ở đời đâu dễ nhìn ra lẽ công bằng? Giờ tay Hoan thế mạnh như chẻ tre trong làng ngoài thôn không mấy ai không đến cậy nhờ, bênh anh ta cũng giống khen phò mã tốt áo... Có điều chỉ ai ăn nhạt mới biết thương mèo, rơi vào cảnh bần hàn mới biết sao là cùng khốn.
- A... Ông định ám chỉ tôi là kẻ dửng dưng không đủ lòng tương thân bác ái chăng? Vậy ngày cậu Bôn về làng không con trai tôi dẫn bọn trai tráng tới lợp mái trát tường cho cậu ta thì ai? Lúc đó đâu thấy mặt bố con ông?
- Này các ông, sao bỗng dưng cãi cọ như trẻ ranh... Đầu hai thứ tóc mà còn háo thắng...
- Tôi chẳng háo thắng, nhưng tôi muốn chỉ ra đâu là cái tổ con chuồn chuồn...
- Thôi đi ông ơi, nói cách gì cũng phải công nhận tay Hoan là người quảng đại. Thiếu đâu kẻ giàu, càng giàu càng ăn bẩn... càng giàu càng đểu càng riết nghiệt.
- Ông nghĩ đúng. Nhưng tôi phải thêm rằng anh ta là người quá nhiều may mắn... Các ông nhớ hồi anh ta cưới cô Miên không? Lúc đó họ đâu sẵn của nả như bây giờ, hai vợ chồng cũng trần lưng ra làm như lũ chúng ta đây chồng một nón mê vợ một nón mê cặm cụi suốt ngày trên nương rẫy. Nhưng trời phù cho họ, ngón tay họ đụng đến đâu đất nảy vàng nén bạc thoi tới đó. Số người may mắn như thế chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn lại đa phần là bọn làng ngàng như lũ chúng ta đây hoặc những kẻ bất hạnh, thua thiệt.
- Đúng đấy... Ở đời biết ngửa mặt trông lên song cũng cần biết cúi mặt nhìn xuống. Không phải cứ ăn kẹo uống trà của nhà giàu rồi chỉ biết khen trà nhà giàu thơm ngon mà chẳng thèm nếm nước vối của đám cùng đinh...
- Ông lại máy móc rồi... Ông đứng ở bụi duối nào rình tôi thế?
- Cả đời tôi chưa đứng bụi duối rình ai. Tôi đi trên đường thênh thênh thấy ông ôm lưng chủ tịch xã cưỡi xe vào nhà tay Hoan. Sao dám nói tôi rình?
- Đúng, không riêng tôi mà cả đống người trong Xóm Núi đã trèo lên sân thượng nhà tay Hoan uống trà. Nhưng không phải vì mấy chén trà mà tôi ca tụng anh ta. Đời ông, liệu ông có dám bỏ tòa ngang dãy dọc do chính tay ông làm ra đi để thằng đàn ông khác tới ở hay không? Hơn nữa đó lại chính là kẻ đã từng trèo lên bụng vợ mình?
- Đời mỗi người mỗi cảnh chẳng ai ví được với ai. Bắt chúng ta sống như tay Hoan chẳng được mà bảo cậu Bôn phải đứng lên tự lo liệu tay làm hàm nhai như chúng ta đây hẳn cậu ta cũng chịu. Chính tôi đã cùng cậu ta lên nương vỡ đất. Chưa được một buổi nó đã lăn quay. Tôi phải bồng vào bóng mát, vã nước lạnh cho tỉnh rồi gọi người võng về... Sinh ra đời ai chẳng muốn bằng chị bằng em nhưng lộc trời vãi không đều may mắn chia không khắp, ta chẳng nên riết nghiệt với ai...
- Các ông nghe đây này: Tôi chẳng có con có cháu nên tôi là kẻ duy nhất không chịu ơn tay Hoan. Tôi cũng chẳng phải họ hàng nhà Tá vậy tôi đứng giữa chẳng thiên vị bên nào. Tình cảnh cậu Bôn đáng thương thật nhưng hàng trăm kẻ khác ở vào cảnh đó sẽ phải ra đường hoặc vào trại tế bần. Như thế, trong số những kẻ bất hạnh cậu ta là người trúng độc đắc. Còn tay Hoan, dù ăn một núi lộc trời, vẫn là trang quân tử đời hiếm thấy. Cứ cho xứ Việt Nam mình có một ngàn người rơi vào cảnh oái oăm như thế, tôi không dám chắc có tới người thứ hai cư xử như anh ta...
Những câu lạc bộ ngoài trời của Xóm Núi cứ thế hoạt động khiến chuỗi ngày bận rộn trở nên thơ mộng hơn và công việc bớt đi đôi chút nhọc nhằn. Vài tuần lễ qua rất nhanh, dường như không ai kịp nhận biết. Bất đồ một sáng tiếng kèn mơ hồ từ cánh rừng nào vọng tới. Trong những sóng âm xa vời man dại người ta tưởng nghe tiếng kêu của bầy nai đang soi mình trên suối, tiếng kin kít nặng nề của lũ đại bàng đất, tiếng gõ móng lóc cóc của sơn dương và những cặp hươu đa tình, tiếng thở hồng hộc của những con lợn lòi độc địa thường đi trên lối vắng vừa đi vừa dũi bật các gốc cây với nỗi buồn miên hành sự hung dữ trường cửu và khoái lạc tàn phá. Người ta rời khỏi mái nhà, chui từ những vườn tiêu, vườn cà-phê ra bãi trống hoặc đỉnh đồi nhìn về giải Trường Sơn.
Trong khung trời mênh mông họ mơ tưởng các lối mòn, giải cát ven suối, những bầy công múa trên vạt cỏ, lũ bướm hoang quay cuồng quanh lèn đá xám nơi thi thoảng vươn lên những bông hoa dại màu nhung đỏ và vọt ra những tia nước trong suốt tựa pha lê. Nỗi nhớ rừng mang mang lan tỏa cùng tiếng kèn mơ hồ kia. Một sáng nào đó cơn mưa bụi là là từ chân trời phía Đông bay tới, là là bay từng đám bụi nước như sương trắng như tơ trời. Mùi ẩm ướt của hơi nước đọng trên da thịt khiến máu chảy rần rật trong huyết mạch những tay thợ săn, những chàng trai mới lớn và cả những người đã bước tới ngưỡng cửa tuổi già nhưng nỗi nhớ rừng và khao khát mùa săn chưa thôi cháy. Trưởng phường chưa ra lệnh nhưng khắp xóm các tay săn đã lôi súng ra lau, kiểm tra đạn và sửa soạn đồ lề khác. Vào lúc chiều nhạt nắng trên sân nhà trưởng phường họ tụ họp, uống trà. Bà chủ đem ra một rổ bánh mật nóng hôi hổi, lá gói còn bỏng rảy. Đám thợ săn vừa bóc bánh ăn vừa thổi phù phù. Hết bánh họ uống trà hút thuốc và chuyện bắt đầu ròn như pháo nổ. Sự kiện trọng đại nhất là việc vắng mặt Xá chột. Anh ta đã hạ gấu ngựa năm trước nữa, lại hạ con lợn độc mùa săn vừa rồi, đầy hứa hẹn để trở thành trưởng phường tương lai vì dù sao người đang nhiệm chức cũng đã ngót nghét sáu mươi.
- Tôi tiếc cho cậu ta thật... Cậu ta xứng đáng hơn tất cả các cậu để giữ vai trò này. Tôi dù sao cũng đã mỏi gối chồn chân.
Ông trưởng phường lên giọng trước tiên, giống như lời nhắc nhở. Nếu Xá chột không thay thế vị trí của ông, ắt hẳn một ai đó phải cố gắng để làm chức phận ấy một chức phận không ít vinh hạnh nhưng cũng không dễ dàng gánh vác. Thường trong mỗi phường có dăm ba tay súng cứng xấp xỉ nhau và sự ganh đua giữa họ là thứ men kích thích cho mùa săn thêm sôi động. Những kinh nghiệm thu lượm được sau mỗi mùa, sự đánh giá ngầm ẩn nhưng sắt sói từng đường đi nước bước của kẻ cầm trịch, và các phẩm chất rèn tập lên bậc thủ lĩnh, ấy là tất thảy những gì các ứng cử viên nung nấu thèm muốn. Họ thường phải nung nấu sự thèm muốn đó trong nhiều năm, gắng gỏi trong nhiều năm, và cầu mong sự may mắn trong nhiều năm mới có cơ hội được bước lên ghế trưởng phường. Riêng với Xá chột, dường như mọi sự đều xảy ra ngược lại. Cái gã chột đó chưa kịp thèm muốn người ta nói xưng xưng ra cửa miệng rằng chức trưởng phường nay mai sẽ lọt vào tay gã không đối thủ, gã chưa kịp rèn tập tư cách thủ lĩnh người ta đã trầm trồ rằng gã sinh ra để làm thủ lĩnh nghề săn bắn, gã chưa kịp để tâm đến kinh nghiệm nghề nghiệp mọi người kể cả vị trưởng phường đương chức khả kính cũng phải công nhận rằng gã đầy thiên năng dường như mười kiếp trước gã đã luôn luôn là tộc trưởng một bộ lạc sống bằng săn bắn... Và tất cả những ưu thế đó chẳng phải do những năm chinh chiến đem lại cho gã bởi trong phường săn có tới ngót hai chục tay súng cựu chiến binh nhưng hoàn toàn bởi một thứ may mắn bẩm sinh đặc biệt người ta vẫn gọi là trời cho... Vậy mà Xá chột lại từ bỏ cái vinh quang trong tầm tay, từ bỏ niềm vui sảng khoái nhất, hào hùng nhất trong cuộc sống của gã... Và đó là điều đám thợ săn không mường tượng nổi cho dù sự vắng mặt của Xá đã đem lại niềm vui sướng và cơ hội cạnh tranh cho ít nhất năm tay súng, năm ứng cử viên hạng ruồi này đang thầm lén chuẩn bị và chờ đợi cuộc ganh tài trong mùa săn tới:
- Tôi tiếc thật nhưng dù sao cũng là chuyện đã rồi, không ai chọn được con đường đi cho kẻ khác...
Ông trưởng phường tiếp tục khi chẳng thấy tay súng nào lên tiếng:
- Giờ đến lượt các cậu ganh sức trổ tài. Hoa có lứa đàn bà có thì đàn ông có tuổi, tài giỏi đến mấy vào lúc tuổi già cũng thành kẻ bại trận. Tôi không muốn cầm cờ cho đến tận ngày ngã ngựa đâu. Các cậu hãy lo liệu mau mau...
Tới đấy ông ngừng lời và tất cả các ứng cử viên cùng các tay súng khác đều im lặng. Như vậy, lời tuyên bố đã được chính thức nêu lên và cuộc cạnh tranh được chính thức khởi động. Xá đã đứng ở giải bờ bên kia, hoặc nói cách khác ở lại mảnh đất sau lưng họ. Giờ, họ có thể bàn đến anh như nói tới một láng giềng:
- Vợ Xá nằm ổ được một tuần lễ chưa nhỉ?
- Hơn rồi chứ... Để tôi nhẩm xem... mười một... A, mười hai ngày rồi.
- Tội nghiệp anh chàng, chắc giờ đang lo méo mặt.
- Mày nói gì thế? Có méo cái con đầu b... nó... Nó đang sướng nhảy cẫng lên thì có.
- Tao đếch tin. Thời buổi này hai ba con nuôi đã mệt, giờ nó lại lòi ra đứa thứ bốn... Rồi là chết với chính quyền xã.
- Thằng này ù ù cạc cạc lại thích bình phẩm... Chết làm sao được? Nó tuyệt đối chấp hành chính sách sinh đẻ có kế hoạch, đưa vợ tới trạm xá ngày đầu tiên trong chương trình đặt vòng phòng tránh thai. Vậy thì không chủ tịch với bí thư nào dám hoạnh họe. Còn chuyện vài tháng sau vòng rơi ra và cô Soan có chửa là do trời xui đất khiến, bố ai hiểu nổi chuyện gì xảy ra trong cái nơi thăm thẳm hỏm hòm hom ấy? Bữa mới đón vợ từ trạm xá về, nó quạc mồm oang oang trêu vợ: Thế nào cô mình đã thấy con cu của anh đây oanh liệt hay chưa? Nó húc bắn vòng của chính phủ ra chui vào tận tổ con chuồn chuồn... Thế là bỗng dưng vợ chồng mình có tứ tử trình làng, oai nhất Xóm Núi nhé. Điểm mặt xem, dê xồm như cụ Phiều quanh năm tẩm bổ cao dê với hột dái dê cũng chỉ đẻ được ba mống con trai, còn lại cả tiểu đội thị mẹt. Vậy mà cò súng anh đây nổ liền bốn phát bốn thằng cu...
- Đ... mẹ cái thằng bố láo...
Cả đám phường săn phá lên cười. Ngớt cơn cười, người ta hút thuốc uống trà râm ran đủ thứ chuyện vặt rồi lát sau một người lên tiếng:
- Này, cái thằng cha Xá chột biến đằng nào không thấy? Lẽ ra cũng phải biện cái lễ tạ từ để bọn ta cùng nâng chén lên hạ chén xuống chớ? Làm thằng đàn ông dù hầu vợ hầu con cũng phải có lúc bỏ đi đàn đúm với chúng với bạn, không lẽ suốt ngày úp mặt ngửi hơi cái lò ướt ấy hay sao?
Cả bọn lại cười khành khạch, và người láng giềng của Xá chột cao giọng:
- Cái ông này nói tục bỏ mẹ... Làm như tất tật đàn ông trong thiên hạ đều thích ngửi con ba ba như ông. Xá chột không còn ở làng... Nó chỉ chạy đi chạy lại trông vợ còn công việc chính bây giờ là bán cửa hàng sắt và nguyên vật liệu xây dựng dưới thành phố.
- Ai thuê nó vậy?
- Không ai thuê. Nó giờ là ông chủ. Chủ cũ là chị họ của Xá, gái quá lứa lỡ thì. Những năm trước Xá chột thường qua lại trông nom cửa nhà giúp, hoặc khi thuê thợ sửa nhà chữa điện, hoặc coi sổ sách đỡ đần. Nó học hết cấp ba ngần ấy năm đi lính chữ chưa rơi vãi hết, vả lại nó vốn sáng dạ nên bà chị cũng nhờ vả được nhiều. Bất đồ năm ngoái bà ta vào Sài gòn vớ được ông tình nhân, một lão Tài già hơn bà ta đến hai chục tuổi nhưng còn bảnh bao. Lão này giàu sụ, có tới năm cửa hàng ở Sài gòn và lục tỉnh. Ba đứa con gái đã lấy chồng ở hết bên Tây còn mụ vợ già chết cũng ngót nghét mười lăm năm, vớ được người nhan sắc lão mừng hơn bắt được vàng, đòi tổ chức cưới liền. Cưới xong bà ta thu xếp vào Sài gòn ở hẳn với lão.
Vậy là bỗng dưng Xá chột được hưởng không căn nhà hai tầng với cửa hàng dưới thành phố.
- Người ta nói đúng thật: Số giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu. Khi chưa tới vận đỏ có làm thót hai hột cà cũng chỉ đủ miếng bỏ vào mồm. Khi đến vận đến thời của nả từ trên trời tự dưng rơi trúng cổ.
- Trời cũng chỉ một phần thôi chớ? Cái chính Xá chột là người tốt bụng, hẳn nó đỡ đần cái bà chị độc thân kia rất nhiều nên tới khi giàu sang người ta mới trả quả.
- Đúng. Cứ xem nó giúp cậu Bôn thì rõ. Người dưng nó còn tốt được đến thế huống hồ có dây máu huyết? Giọt máu đào hơn ao nước lã...
- Nghe đâu cửa hàng khá lớn, phải thuê người coi sóc. Cái chỗ ấy là của cậu Bôn nếu cậu ta sáng suốt khỏe mạnh. Nhưng vì Bôn đã lẩn thẩn nên Xá mời Bình kều. Tay này chỉ nặng tình với bạn, còn anh em con chú con bác có cả đống trong làng nó chẳng thèm để mắt tới ai, không phải như ông nói: Giọt máu đào hơn ao nước lã đâu...
- Thế thì nó dại.
- Biết thế nào là dại với khôn? Cái ông cho là khôn thằng khác lại nghĩ là dại và ngược lại.
- Thôi đừng lý sự quèn... Dạo này cậu Bôn lẩn thẩn rồi ư? Tôi nghĩ là cậu ta khá hơn hẳn thời kì trước. Quanh năm suốt tháng ở nhà, mưa không tới mặt nắng chẳng tới đầu ăn uống thuốc thang tẩm bổ đều trông cậu ta vâm vạp lắm.
- Thân sướng đã chắc gì tâm nhàn. Con người ta cũng như cái máy lâu không chạy thì han rỉ.
- Tôi lại nghĩ con người ta như cái ống, có đầu vào phải có đầu ra... Đầu ra của cậu ta bị nút chặt rồi.
- Thằng cha này lại tán bậy... Cậu ta có còn ngó ngoáy được đâu mà tính đầu ra với đầu vào?
- Ai biết được tổ chuồn chuồn ở chỗ nào? Nó còn trẻ thế, lại no cơm ấm cật sao khỏi có lúc dậm dật? Khốn nỗi cửa buồng cô Miên lúc nào cũng đóng chặt. Thêm nữa ba gian nhà giữa có một ông đứng lù lù canh gác, đố mon men được tới gấu quần vợ.
- Vợ hờ thôi... Cô ta có còn yêu nó nữa đâu. Cô ta sống với tay Hoan bụng chửa to bằng cái trống cà-rình cả làng nhìn rõ mười mươi, ai dám hồ nghi... Nhưng cô ấy vẫn nuôi cậu ta như nuôi một ông bố già. Như thế đã là tốt lắm, người đời khó theo được.
- Cậu ta tàng tàng từ hồi nào nhỉ? Trước gặp nó thấy ăn nói vui vẻ hoạt bát lắm.
- Nó tàng từ hồi vợ đẻ ra quái thai. Nghe họ nói cái thai đó là con trai đủ hai tay hai chân lẫn buồi dái nhưng không có đầu. Cổ nó rất to rất dài trên dính cái màng tròn như bọng đái lợn bên trong có đám gium trắng bò ngoằn ngoèo lẫn tia máu.
- Sao biết được?
- Bà chị dâu họ tôi bên xã Vinh Quang nằm viện với cô Miên một ngày. Ông chồng nghe đám y tá xì xào về cái quái thai nên lúc hộ lý xách đi chôn ông ấy chạy theo vạch xô ra xem.
- Lạ nhỉ? Xưa nay chỉ nghe quái thai thiếu hoặc thừa ngón chân ngón tay, hoặc sứt môi sứt mũi... Chưa nghe ai nói quái thai cụt đầu.
- Nghe như vậy thì chưa hẳn cụt đầu, nhưng không có xương sọ và mặt. Tôi cho rằng cái đám giun trắng bò ngoằn ngoèo chính là óc. Các ông ăn óc lợn có thấy hình dạng nó từa tựa như vậy không?
- Thôi đừng nói nữa nghe ghê tai bỏ mẹ... Này, lũ trẻ nhà tôi đi lùa dê nói rằng hồi này cậu Bôn thường luẩn quẩn trên bãi tha ma, có đúng không?
- Đúng đấy, có lúc nó thủ theo con dao rựa. Bữa tôi đi ngang qua cậu ta chào hỏi tử tế còn rút thuốc mời.
- Ông thấy thế nào?
- Tôi đang vội nên chỉ ngồi với cậu ta được tàn điếu thuốc, thấy khẩu khí vẫn đàng hoàng tỉnh táo. Duy có điều đôi lúc đang nói cậu ta lại mỉm cười với ai đó, tuồng như cười với cái kẻ cậu ta đang tơ tưởng rồi sau đấy cậu ta lại tiếp tục nói chuyện như thường.
- Nó đem theo dao rựa làm gì nhỉ?
- Có lẽ cậu ta định chặt gai tầm ma hoặc cây dứa dại.
- Nhà nó có làm nghề phù thủy đâu mà chặt gai tầm ma với dứa dại? Khéo nó đào mồ đào mả của chúng ta thì nguy.
- Đừng lo. Mấy ngôi mả nhà ông xây cả rồi chứ?
- Rồi.
- Vậy làm sao cậu ta đào được gạch xây xi-măng bằng con dao cùn như vậy? Muốn thế nó phải có xà-beng. Dân Xóm Núi dù giàu dù nghèo đều đã xây mộ. Duy chỉ còn gia đình cậu Bôn và ngoài ra là ba ngôi mồ vô chủ từ nhiều đời nay đã lún gần hết, chỉ còn núm cỏ lùm lùm trên mặt đất. Không lẽ Bôn lại tự tay đào mồ cha mẹ mình... Các ông cứ yên trí, dù ngây ngây chứ điên thật cũng chẳng đứa con nào đào mả bố mẹ mình.
- Đã mất trí thì còn hay biết gì nữa?
- Bôn chưa phải người mất trí. Chỉ vì đau mất con nên cậu ta hóa ngơ ngẩn. Phần trí não nào của cậu ta bị mất thì linh hồn tiên tổ và cha mẹ cậu ta sẽ dẫn dắt. Tôi tin như vậy.
- Tội nghiệp... Hồi nhỏ, cậu ta học giỏi lắm, vẫn thường giúp thằng út nhà tôi làm bài...
Chuyện tới đó ông trưởng phường xách ra sân hai cây đèn bão vì trời đã nhọ mặt người. Đặt hai cây đèn lên kệ xong xuôi, ông quay xuống bếp dõng dạc cất tiếng:
- Thế nào, đã xong mẻ bánh mới chưa? Xong rồi đem lên đây cho anh em.
Có tiếng dạ ran của đám đàn bà bao gồm cả vợ cả con gái cả con dâu của ông rồi không đầy phút sau hai cô con gái ông khiêng lên một thúng bánh bốc khói nghi ngút, nước từ thúng bánh nhỏ xuống sân thành một đường ngoằn ngoèo. Ông già quát:
- Chúng bay làm ăn thế hả? Sao không lấy cái chậu hứng bên dưới?
Hai cô con gái mặt đỏ bừng hơi lửa chưa kịp chống chế bà vợ ông đã nói vóng từ bếp lên:
- Chậu đâu... có chậu đây... Rồi bà tong tả xách chiếc thau đồng lớn đem lên, đặt ngay ngắn giữa sân để hai cô con hạ thúng bánh. Xong xuôi, ba mẹ con lại thụt xuống bếp, mảnh đất an toàn và vui thú nhất của họ. Vị gia trưởng lúc đó hài lòng tiếp tục nói:
- Này anh em, ăn bánh uống trà đi. Năm nay hơi hướng đất trời xem ra êm thuận, tôi đang xem giờ để chúng ta xuất phát. Chút nữa quên... Tôi báo một tin vui, phường săn chúng ta năm nay tuy thiếu cậu Xá nhưng lại có thêm hai tay súng mới: chủ tịch xã và anh Hoan, chủ trại Suối Nhỏ. Hai người cùng tới đây xin nhập hội một lần.
- Chủ tịch xã chiều nào chẳng uống trà trên sân thượng nhà tay Hoan. Thế nên họ xin nhập hội một lần cũng là lẽ thường. Phải nói gã nhà giàu này khéo ăn khéo ở thật.
Và thế là đám phường săn lại quay về những nhân vật chính của cặp vợ chồng tay ba giống như trò chơi đổi chỗ, người chồng thứ nhất, người chồng thứ hai và người đàn bà quyến rũ bùa phép cả hai gã đàn ông.
Xóm Núi nhỏ bé quá. Trong thế giới nhỏ bé và tù đọng ấy, niềm vui thoáng qua mau như ánh hồi quang như hơi gió thoảng, nỗi âu sầu quẩn quanh như thứ khí độc hại và mê say của bùa ngải, như thuốc phiện làm mê đắm và tê bại hồn người, bởi trong mỗi tâm hồn yếu ớt lẻ loi man dại đó đều chứa mầm mống bệnh hoạn một thứ thèm khát ngầm ẩn không thú nhận những bi kịch ghê gớm những giông bão đường đột dù rằng cùng với nỗi thèm khát đó, sự sợ hãi thường trực đeo đuổi như kẻ đồng hành...



Chương 27


T
ừ ngày về làng Bôn không nhìn dải Trường Sơn, nghĩ sẽ chẳng bao giờ còn quay lại nơi đó. Màu xanh điệp trùng ẩn chứa bao kinh hoàng. Như kẻ từ địa ngục quay về không dám ngoái nhìn con sông không bờ không đáy phân chia nhân gian với cõi u tỳ anh không muốn nhìn lại dải rừng già con quái vật vô song con ma cà-rồng thiên hình vạn trạng đã hút cạn máu đã hút kiệt nguồn sinh lực và tuổi trẻ của anh. Anh muốn nó vĩnh viễn là mồ chôn quá khứ. Tất cả những gì liên quan tới nó khiến anh hãi hùng. Vì thế khi đám cựu chiến binh trong làng rủ anh gia nhập phường săn anh từ chối phắt. Vì thế mỗi khi mùa săn lảng bảng tới tiếng kèn đâu đó vọng về da thịt anh lại sởn gai ốc. Trong tiếng kèn u uột đó anh nghe trập trùng tiếng kêu của lũ chim ăn xác tiếng thì thào của các bóng ma tiếng rít của bầy rắn đêm tiếng thở than não nề của gió trong hang sâu vực thẳm, anh lại nhìn thấy những đám cây quằn quại sôi nhựa xèo xèo trong lửa na-pan những khúc chân tay bị quăng ném những cái sọ vỡ toang óc trắng nhầy như cháo nếp... Tất cả những gì đã trải nếm là quá sức đối với tâm hồn và thể xác Bôn. Đôi lúc anh hình dung mình đã bước vào dải núi xanh rì kia là một chàng trai trẻ và ra khỏi nó dưới bộ dạng của xác con cua lột, chẳng còn gì bên trong lớp vỏ xác xơ. Bôn thù ghét rừng già, vừa thù ghét vừa khiếp đảm. Nó quá lớn mạnh quá thiêng liêng quá bất trắc quá tàn bạo đối với anh. Anh thèm muốn biển khơi và bất cứ lúc nào rảnh rỗi anh cũng quay về hướng Đông nơi mặt trời mọc nơi có biển có sóng có nghề chài lưới có những đám trai da rám nâu bắp tay bắp chân cuồn cuộn ngửi hít khí trời giông bão nổi ầm ầm như sóng và chắc chắn ngủ với đàn bà không mỏi mệt:
Nếu ta sinh ra trong một làng chài, ta sẽ trở thành...
Giấc mơ cỏn con và muộn màng vẫn thường lặp đi lặp lại.
Vậy mà mùa săn năm nay tiếng kèn xa xôi khởi đầu từ chân trời nào đó vọng tới đã khuấy động tâm hồn thiu thiu ngủ của Bôn. Thoạt tiên, nó là tiếng nức nở tuổi thơ anh âm vang trở lại. Tiếng nức nở nào? Anh không biết. Có thể là trận đòn oan uổng do lũ trẻ láng giềng mách bố mẹ anh hồi anh bé tí ti, có thể là tiếng khóc sau linh cữu khi họ theo nhau về chầu tiên tổ, có thể là lời nỉ non hồn tủi vào khoảnh khắc chông chênh khắc nghiệt khi tuổi niên thiếu chưa qua và tuổi thanh xuân sắp đến anh chợt nhận ra sự thua thiệt ghê gớm khi phải độc hành bước vào tương lai không một chút gia sản trong tay không cha nâng mẹ đỡ... Tiếng nức nở nào... anh không nhớ rõ nhưng chúng khiến tim anh thắt nghẹn:
Mẹ ơi, cha ơi... Tại sao sinh con ra rồi bỏ con trơ trọi lại cõi đời... Giá như...
Giá như, giá như... Anh mường tượng cha mẹ anh khỏe khoắn và giàu sang. Khi anh làm đám cưới cũng như lúc anh trở về họ sẽ dựng rạp lớn rạp nhỏ mổ bò mổ lợn giết dê mời làng xóm ăn mừng. Vợ chồng anh sẽ sống trong ngôi nhà khang trang cao rộng như những đứa con cụ Phiều, ông Hơn, bà Giá... Và rồi họ sẽ nuôi anh tiếp tục học đại học, theo đuổi giấc mơ thời trai trẻ bị đứt đoạn bởi chiến tranh trong lúc Miên ở nhà coi sóc nương vườn và đẻ cho anh những đứa con kháu khỉnh. Giá như những nương tiêu của cha mẹ anh đã xanh rờn, những nương cà-phê đã chín đỏ lúc anh quay về hẳn anh sẽ không phải cuốc đồi vỡ nương tới ngất xỉu, sẽ không phải sống nhờ đồng tiền của Miên và không phải cưu mang gia đình người chị bần hàn vô sỉ... Giá như giấc mơ đó là sự thật, tình thế sẽ khác đi... Giá như, nhưng anh biết chữ giá như đó không có. Cha mẹ anh hiền lành nhưng vô năng. Họ cần mẫn kiếm miếng cơm như lũ kiến kiếm mồi và tất thảy mọi ước mộng dồn trút lên vai anh từ khi anh bé tí... "Làm rạng danh tổ tông, làm dòng tộc nở mày nở mặt với thiên hạ."... Chao ôi giấc mộng lớn lao. Khủng khiếp. Họ đã ăn sắn và ăn ngô dành cho anh cơm trắng, họ ăn mắm tôm vằm ớt sả để xẻ vào bát anh con cá suối bé tẻo teo hoặc miếng thịt lợn vào ngày giỗ tết. Tình yêu của họ giằng trói anh. Tuổi thiếu niên anh đã gánh lệch vai giấc mơ khổng lồ kia cái ước nguyện khổng lồ thiêu đốt trái tim trong trắng như than đỏ trong lò, anh đã lệch vai gánh củi đốt than kiếm tiền đèn sách, anh đã học đến kiệt hơi như thằng rồ ngoài việc cắm mặt xuống trang sách không còn tơ tưởng đến bất cứ trò chơi nào thú vui nào khác... Và cánh cửa tương lai đã mở ra với anh. Vào buổi sáng anh xuống thành phố thi học sinh giỏi toàn diện của tỉnh, thầy giáo chủ nhiệm lẫn thầy hiệu trưởng đều đưa tiễn anh, đều nở nụ cười lạc quan và nụ cười đó, trên gương mặt hom hem với hàm răng ám vàng khói thuốc của họ giống như mảnh bùa hộ mạng dán vào trán anh suốt cuộc chiến tranh đinh ninh rằng khi ra khỏi cuộc chiến này ném đi tấm áo lính ám mùi khói súng anh sẽ mặc lại chiếc sơ-mi trắng để bước vào cửa trường đại học, tuy có chút muộn màng về tuổi tác nhưng vẫn dư thừa niềm tin và sinh lực...
Mười bốn năm trôi qua, trở lại Xóm Núi sinh lực chẳng còn nhưng niềm tin của anh vẫn đầy ắp. Có lẽ cha mẹ anh giàu mơ mộng và sự kế thừa cái tài sản phù du đó đem cho anh những thời khắc tột cùng sung sướng, bay bổng tột cùng trong cõi phù vân. Thay vì ước mộng bước vào trường đại học anh mơ tưởng sẽ trở thành chủ trang trại với người đàn bà anh yêu, anh mơ ngày anh giàu có đủ tiền xây mồ cho cha mẹ, đủ tiền làm một chuyến du lịch khắp đất nước thăm những gia đình bạn hữu, đồng đội, người còn cũng như kẻ mất trước hết là bà cô tiểu đội trưởng. Mơ mộng và mộng mơ... Không có chúng làm sao mà sống được? Nhưng có chúng người ta cũng chẳng thể sống bình an. Vào buổi sáng Hoan bước vào căn buồng tồi tàn của anh, anh biết mọi sự đã hết. Cái người đàn ông cao lớn da trắng môi đỏ mái tóc đổ xuống trán mềm và bóng như tóc đàn bà đó đã khiến anh đứng sững giữa sân, nghẹt thở. Chính hắn, chính anh ta, chủ sở hữu chiếc quần thun màu xám sọc đỏ. Trong giây lát, mắt mũi anh tối sầm, toàn thân anh run bắn, và mồ hôi bắt đầu toát dọc sống lưng. Phải, chính người đàn ông đó. Anh ta giống cái gì đó đã từng quen thuộc và từng làm anh khiếp sợ? Không phải một người bằng xương bằng thịt, nhưng là một thứ thật khủng khiếp, mơ hồ, vĩ đại, bí ẩn, đầy quyền năng... Sau cơn choáng váng dài, rất dài tưởng như không bao giờ chấm dứt, Bôn đã lấy lại được hơi thở và anh hiểu người đàn ông cao lớn đường bệ có vẻ quyến rũ dịu dàng đó là ai: Anh ta là dải Trường Sơn thứ hai, một thực tế toàn năng, một ông trời tàn bạo dưới dáng vẻ ôn hòa, kẻ sẽ thế chân dải rừng già khắc nghiệt kia phá hủy nốt phần đời còn lại của anh, con ma cà-rồng sẽ hút cạn tới giọt cuối cùng hy vọng và niềm vui sống còn rơi sót.
Thế là hết.
Những ngày sau đó trôi qua ra sao, anh không nhớ. Miên đi rồi gian phòng của anh chỉ còn là mái lều hoang, nơi lũ con Tá cùng đám gián chuột tha hồ kiểm soát, nơi thấp thoáng bóng ma xưa thăm hỏi khi là tiểu đội trưởng khi là cha mẹ anh hoặc một vài đồng đội cũ người nào cũng vội vàng người nào cũng câm lặng nhìn anh với cái nhìn xanh xao vàng vọt người nào cũng giơ lên những đốt xương tay vẫy chào anh khi đứng ở ngưỡng cửa buồng. Bao lần anh gọi họ, chẳng ai đáp lời, kể cả tiểu đội trưởng. Vì sao, anh không rõ, đồ chừng các bóng ma không thể cất lời ở những nơi nhiều dương khí. Lũ con Tá và đám trẻ láng giềng khiến họ câm nín và chắc hẳn anh phải ra bãi tha ma hoặc đồi hoang nếu muốn cùng họ chuyện trò. Nhưng anh ốm, không thể cất lưng khỏi giường, anh nằm ngày này qua ngày khác thi thoảng ăn bát cháo do cô Soan hoặc lũ con Xá chột đem tới, ăn vài củ khoai luộc do Tá mang vào. Những ngày ấy khung trời ngoài cửa bị chôn vùi trong mây khói. Anh không thấy màu trời, không thấy các đám mây không thấy cả những ngọn soan xác xơ vẫn thường đong đưa nỗi cô đơn sầu muộn. Anh chỉ hồi nhớ cánh cửa đã một lần hé mở trước mắt anh, cánh cửa tương lai. Anh nhớ cậu thiếu niên hăm hở xuống thành phố, nhận phần thưởng cuộc thi cả gương mặt lẫn hai mang tai nóng ran máu chạy rần rật như kiến bò, anh nhớ tiếng cười xưa cũ... Tất cả ở trên một chuyến tàu chuyến tàu đó chạy đã xa bỏ lại anh trên sân ga hoang phế.
Ta là kẻ lỡ tàu, chuyến tàu đó không bao giờ quay lại. Sân ga chỉ còn cỏ lẫn lá khô, không hành khách đợi tàu, không cả dấu vết con tàu cũ... Phải, ta đã nhầm, con tàu cuộc đời chỉ chạy một ca, đã rời ga không còn trở lại...
Anh đã mang quá nhiều ước vọng và niềm tin, thứ ánh sáng nổi trôi trên dòng nước, càng đuổi bắt chúng càng tuột khỏi tay. Mười bốn năm chiến tranh. Cánh cửa nào đóng trong mười bốn năm cũng rỉ sét không còn cơ mở được.
Ta là kẻ lỡ tàu. Kẻ trắng tay không còn cơ để tự lừa dối bản thân thêm một lần nữa...
Đó là lần đầu tiên anh tự thú nhận rằng anh đã tự lừa, tự huyễn mình suốt thời gian qua. Vào lúc anh bấu chặt tay cánh tay người nữ hộ sinh gào lên:
- Con tôi đâu? Cô giấu nó ở đâu? Cô đánh tráo nó cho ai rồi?
Trái tim anh đầy tràn phẫn nộ và ráo rốt khao khát. Anh nóng lòng nhìn thấy đứa con trai, hy vọng duy nhất cây cầu duy nhất nối anh với tương lai, anh đinh ninh rằng người ta đã đánh tráo nó cho kẻ nào đó khát đứa con thừa tự người ta đã sắp đặt những âm mưu để lừa dối anh một gã đàn ông hiền lành miền sơn dã. Nhưng người nữ hộ sinh to lớn có gương mặt vuông đã quay lại nhìn anh với cặp mắt lạnh như nước đá. Cái nhìn đó rọi thẳng vào mắt anh, uy nghiêm. Rồi hất mái đầu lờm xờm một cách giận dữ, cô ta cất tiếng:
- Anh nói bậy bạ gì thế?
Bôn không đáp, chỉ lập lại câu hỏi:
- Con tôi đâu? Cho tôi xem....
Cô ta gằn giọng:
- Có thật anh muốn xem không?
- Có.
Bôn gào lên tức khắc. Người hộ sinh nắm lấy cánh tay anh kéo xềnh xệch vào phòng trong, căn phòng trắng toát như tấm khăn tang và rồi ở đó, cô ta kéo chiếc xô loảng xoảng trên nền gạch lát, mở chiếc nắp xô cũng với cử chỉ dữ dằn như vậy:
- Đó. Con anh đó. Cúi xuống mà xem.
Anh cúi xuống. Cái đó. Cái vật đó. Cái thai đó. Con anh. Tất cả những gì còn lại trong tương lai và cho tương lai của anh... Anh không dám tin. Một khúc thịt đỏ bầm nằm giữa đám máu lầy nhầy, hai tay và hai chân co lại. Một bộ não hiện lờ mờ dưới tấm màng, như bộ óc người ngâm trong lọ phoóc-môn phòng thí nghiệm trường cấp ba tỉnh. Cái cổ bào thai phình to, giống như quả da ếch. Và không còn gì nữa. Trời ơi, anh đã tơ tưởng bao nhiêu ngày, thầm ước mắt nó giống anh, còn sống mũi làn da khuôn miệng và thân hình giống Miên bởi anh biết anh chỉ có một thứ khả dĩ là đôi mắt. Anh đã đợi chờ phút nó mở mắt để soi mắt anh vào mắt nó để nó hướng về anh cái nhìn trong trẻo bởi ánh sáng trong đôi mắt nó là tất cả nguồn sáng chiếu rọi tương lai anh, bù trả anh khung trời đã mất. Nó là sức mạnh của anh, là lý do để anh tồn tại. Đôi mắt đó không có. Không có cả gương mặt của Miên, sống mũi và khóe môi của Miên. Không gì hết.
Tại sao con người không chết đi khi họ chẳng còn gì để sống?
Anh đã tự hỏi anh bao nhiêu lần. Bấy nhiêu lần anh ra lệnh: Mình phải chết. Cần phải chết. Càng nhanh càng tốt. Một sợi dây thôi. Xà ngang đủ chắc chắn để thực hiện điều đó...
Và sau bấy nhiêu lần anh vẫn nằm dán lưng trên giường, khi Soan đem cháo tới anh ngồi lên lau mặt bằng tấm khăn bông lâu chưa giặt ăn bát cháo nóng do người đàn bà hồn hậu kia nấu rồi lại tiếp tục lau mồ hôi bằng tấm khăn bông, vừa lau vừa lơ mơ cảm thấy một cơn khoan khoái nhẹ nhàng nâng đỡ tâm hồn cùng thể xác.
Mình yếu đuối quá. Mình nhát nhúa quá... Có lẽ vì cha mẹ đã ngăn cản, hoặc vì chưa đến số và trời phật chưa cho phép lìa bỏ cõi trần... Mẹ ơi, sao mà nhớ mẹ...
Anh nghĩ. Sau ý nghĩ đó anh ngủ thiếp đi.
Một sợi dây mong manh lung linh nối liền cuộc sống của anh với cõi xa mù, nơi đó có bóng dáng một người đàn bà. Mẹ anh, Miên, người đàn bà Lào câm điếc hay những cô thanh niên xung phong những thôn nữ anh gặp trong những cuộc gặp gỡ chóng vánh hối hả ven lề chiến tranh? Bôn không biết. Nhưng anh biết đó là đàn bà. Anh ngửi thấy mùi đàn bà. Anh cảm thấy từ trường của họ mùi mồ hôi mùi da thịt mùi tóc và hơi nóng thần bí toát ra từ thân thể họ. Sợi dây mong manh đó giằng trói anh.
Buổi sáng Miên quay lại đem cho anh liễn cháo gà nóng hổi anh đã nhìn chị như nhìn một người đàn bà mới lạ, vừa là người đã từng cùng anh chăn gối vừa như ai đó vừa bước tới từ một cõi đất khác chân trời khác. Buồn và tủi, vui sướng lẫn hững hờ, anh xúc cháo ăn không hiểu vì sao vị cháo ngon lành đến thế và gương mặt chị không còn khiến anh say đắm hãi hùng. Gương mặt đó đã ở ngoài khung trời của anh.
Miên và chẳng còn là Miên...
Anh nghĩ, không còn thấy tim đau thót không còn thấy các mạch máu đập dồn dập nơi thái dương và trên định đầu như trước kia mịi lần anh yêu đương hay hờn giận chị. Cảm giác đó khiến anh đỡ hồi hịp đỡ đau địn. Những cơn quặn thắt cồn cào trong gan ruịt dịu nhẹ dần.
Miên và chẳng còn là Miên...
Ý nghĩ đó được lặp lại, một cách mạch lạc hơn và thanh thản hơn. Mùi cháo thơm nức khiến anh bị lôi cuốn. Khi những giọt mồ hôi lớn toát ra đầy mặt, đầy cổ anh đặt bát cháo xuống rút khăn lau. Càng lau, anh càng thấy dễ chịu. Thân xác anh nhẹ bổng như mây, và tâm hồn anh bình lặng. Ngọn triều đã rút. Và bãi cát phẳng lì phơi trong nắng ấm.
Ngày thứ ba Miên tới, chị bảo anh hãy về cùng với chị. Bôn ư hử nhưng trong thâm tâm, một tiếng đáp tức khắc bật lên:
Sao không? Miên và chẳng còn là Miên ngày xưa. Nhưng một người đàn bà. Miền yên ấm. Giải cát phẳng lặng ven biển khi thủy triều đã lùi xa...
Anh thầm nghĩ và mường tượng giải bờ cát anh đã thấy hồi trai trẻ. Cái sợi dây mong manh lung linh kia nối anh với một người đàn bà, anh chỉ nhìn thấy tấm lưng mà không rõ mặt. Tấm lưng thon nhỏ với cái hông đong đưa mỗi bước chân... Miên, mẹ anh, người đàn bà Lào câm điếc, các cô gái dọc đường hành quân? Người đàn bà có thể mang bất cứ gương mặt nào bởi vì mặt họ ẩn giấu trong sương mù anh chỉ nhìn rõ eo lưng, cặp mông dày và cong, cái hông đong đưa theo nhịp bước.
Khi ngọn gió thổi tới mùi thơm của tỏi xào rau muống anh bỗng nhớ mẹ xống xang gan ruột. Anh xách ba-lô quần áo theo Miên, đúng hơn là theo sau cái người đàn bà vô tên tuổi đã níu giữ anh với trần thế bởi một sợi dây lung linh huyền ảo. Anh không để ý ánh mắt tò mò của làng xóm cũng không để ý tới bất cứ ai anh gặp trên đường, anh chào hỏi họ nhưng tâm hồn anh chìm đắm giữa sương mù kỉ niệm. Mùi rau muống xào tỏi đem lại cho anh nỗi êm dịu khôn cùng. Vừa đi anh vừa mỉm cười:
Mẹ biết không, bao nhiêu lần con đã được tiểu đội trưởng khen vì xào rau muống với tỏi ngon tuyệt... Ấy là nhờ món ăn tủ của mẹ. Hình như trước kia không phải bà ngoại mà là một người bạn lấy chồng dưới phố đã dạy mẹ cách xào rau?
Mẹ mỉm cười. Bà không trả lời nhưng lại vạch áo cho anh thấy bầu vú trái có một nốt ruồi lớn bằng nửa hạt gạo. Hồi nhỏ anh vẫn thích mân mê cái nốt ruồi đó... Anh đưa tay rờ vú mẹ và thấy tuổi thơ ấu tái hồi.
Mẹ ơi, con nhớ mẹ...
Anh kêu to. Mẹ vuốt tóc anh rồi bay đi, bay như một đám khói bốc lên từ miệng nồi cơm vừa bắc trên bếp than xuống. Anh đã sống dưới mái nhà của Miên, như người khách, như người thân, như người bạn cũ:
Ờ, có sao đâu? Chúng ta đã từng yêu nhau từng là vợ chồng và giờ đây là bạn. Như thời tiết luân chuyển, tàn hạ sang thu. Căn nhà này đặt trong từ trường của Miên, của người đàn bà, người thân thiết...
Anh dần quen cuộc sống mới. Ăn cơm sáng với ông Lư, ăn cơm trưa với ông Lư, ăn cơm tối với ông Lư. Khoảng sau bữa cơm tối, có tiếng xe máy ngoài cổng, và Miên dắt con trai vào. Chị vừa bước lên thềm vừa cất tiếng:
- Hôm nay ở nhà mọi người ăn gì thế?
Khi là ông Lư và khi là anh đáp lời:
- Chúng tôi ăn canh dưa nấu cá với lạc rang.
Hoặc:
- Chúng tôi ăn trứng tráng với rau luộc.
Hoặc:
- Hôm nay chúng tôi bắt con gà nấu cháo.
Miên rút trong làn khi vài trái cây mua từ thành phố, khi phong bánh mới hoặc gói kẹo đặt lên bàn:
- Bác Lư cất đi để hai người uống trà.
Sau thủ tục đó chị đem con xuống nhà tắm rửa ráy, thay quần áo cho cả hai mẹ con rồi vào buồng riêng. Bao giờ chị cũng xách theo cái bô tráng men để không phải rời khỏi buồng ban đêm. Sau đó chị gài chốt cửa và khóa lại. Bôn nghe rất rõ tiếng chốt cửa sau đó tiếng khóa xoay trong ổ. Những tiếng động đó đâm nhói vào tim anh, nhưng vì nỗi đau đớn nào, anh không muốn hiểu và không muốn nhớ. Sáng hôm sau, Bôn chưa thức giấc Hoan đã tới đón mẹ con Miên. Thường khi anh rời khỏi giường cũng là lúc tiếng động cơ từ ngoài cổng nhỏ dần rồi tắt hẳn.
Miên đi rồi. Nhọ mặt người cô ấy mới quay lại...
Anh thầm nghĩ rồi xuống bếp uống trà với người quản gia. Và ông Lư tức khắc bắt chuyện, lúc nào ông già gầy như hạc này cũng có chuyện để nói, cặp mắt già nua dường như không bao giờ mỏi mệt và đôi tai dường như không bỏ sót một tiếng động nhỏ nhoi nào. Bôn nghĩ rằng ông ta biết tất cả những gì anh nghĩ nhưng với vẻ câm lặng ôn nhu ông tỏ ra trìu mến với anh. Chính ông đã sắc thuốc cho anh uống, những thang thuốc Miên nhờ người cắt dưới thành phố. Chính ông hỏi và nấu những món ăn anh ưa thích. Cũng chính ông bày cho anh cách ngâm chân vào nước muối nóng trước khi đi ngủ cách xoa bóp lưng lẫn hai đùi khi vừa thức giấc. Trong ngôi nhà thênh thang lẫn vườn tược thênh thang ấy, mối gắn bó giữa hai người đàn ông côi đơn cũng dễ nảy sinh. Khỏe dần lên, Bôn theo ông lên coi sóc các nương tiêu nương cà-phê, một ngày ông chợt hỏi:
- Ông có còn giữ ý định làm nương riêng nữa không?
Bôn lúng búng không trả lời được. Khu đồi xã phân cho anh bỏ hoang lâu giờ đã cho một cặp vợ chồng trẻ khai phá tuy danh nghĩa chỉ là cho mượn. Cặp vợ chồng này đang tuổi trẻ bẻ gẫy sừng trâu lại đang cơn khát khao tát cạn biển Đông nên họ làm ngày làm đêm và giờ đây những cây tiêu đã leo cao già non một thước. Tuy chẳng có văn bản, luật lệ nhưng dù muốn Bôn cũng không thể đòi lại đất, mảnh đất đang sắp sửa hái ra tiền nhờ tưới đẫm mồ hôi kẻ khác. Thấy anh lúng búng ông Lư nói tiếp:
- Tôi thấy bà Miên đối với ông rất tốt.
Biết người quản gia dò ý, anh đáp:
- Tôi rõ điều đó.
Ông cụ gật đầu:
- Ông là người đã từng luân lạc, chắc hiểu sự đời. Chẳng có nơi nào là cõi tiên dành cho đám người trần mắt thịt như chúng ta nhưng cũng có nơi đất lành nơi đất dữ. Chim đã mỏi cánh rồi gặp đất lành thì đậu lại.
- Tôi biết.
Bôn lặp lại câu trả lời cũ và hiểu rằng người quản gia đã nói lên ý nguyện của Hoan và Miên, họ sẵn lòng nuôi anh cho tới mãn đời trong vai trò người anh hoặc người bạn hoặc người quản gia thứ hai cùng ông Lư chăm sóc vườn tược, nhà cửa một khi anh đã hoàn toàn bình phục và muốn làm việc để tránh sự buồn chán trong cảnh ăn không ngồi rồi. Anh sẽ được chấp nhận dưới mái nhà này tới lúc chết nếu anh giữ đúng bản hợp đồng ấy.
Người chồng ngày xưa và người bạn ngày nay. Ta sẽ ăn cơm nơi Miên từng nấu cơm, ta sẽ sống dưới cùng mái nhà với Miên nhưng ở đầu này hồi nhìn sang đầu hồi bên kia như kẻ đứng bên này nhìn sang bờ sông bên kia và giữa hai bờ không phải dòng nước trôi mà là dầu cháy... Nhưng có sao, đời đẩy đưa đến cảnh trớ trêu này. Ta đã theo Miên về đây không phải như người chồng theo vợ mà là kẻ mồ côi đi tới nhà bảo trợ, như kẻ bị bỏ rơi tìm tới miền đất ấm...
- Ngày hôm nay trời đẹp thật.
Bôn bỗng thốt lên dù anh chẳng hề đưa mắt nhìn trời mà đang đăm đăm nhìn chùm cà-phê non nơi kẽ lá. Người quản gia chớp mắt rồi đáp:
- Dạ. Trời đẹp thật. Thời tiết thuận, mùa này hẳn bội thu.
Họ không nói gì thêm.
Từ ngày họ nói chuyện đó tới hôm nay bao nhiêu tuần trăng trôi qua. Bôn ngỡ rằng anh đã hoàn toàn thích ứng với cảnh sống mới nhưng chợt một đêm nào đó cơ thể anh nổi loạn. Anh không ngủ được. Những đợt sóng u cuồng râm ran nổi lên trong da thịt trong máu huyết. Những đợt sóng không thể làm an dịu. Không gì làm nguôi dịu. Chúng cuộn lên, cuộn lên dập dồn dập dồn khiến anh như tắc thở, chúng tràn qua tim anh nhận chìm nó dưới những xung đột hối hả không ngưng nghỉ, chúng vọt lên óc não anh đập tan mọi ý nghĩ, che phủ mọi hình ảnh và chỉ còn lại duy nhất cái hình ảnh trần tục và dâm đãng của những con đàn bà cởi truồng, những con vật giống cái lang thang trong rừng anh từng bắt gặp. Hình ảnh dâm đãng ấy mỗi lúc mỗi nở phồng lên, như được chiếu vào tấm gương phóng đại, nó choán hết tâm trí anh không cho anh lối thoát lui. Anh bóp chặt hai thái dương nóng rực, anh nằm úp mặt xuống chiếu cố tình dùng sức mạnh trấn áp cơn ham muốn, anh nghiến chặt hai hàm răng để khỏi bật ra tiếng rên rỉ. Tất cả đều vô hiệu. Những đợt sóng u cuồng chuyển sắc, từ màu đỏ sang màu đỏ bầm của máu đọng rồi màu tím dữ dằn của ráng mây chiều giông gió. Trong huyết mạch anh không còn máu mà chỉ còn những dòng chì nung lỏng, sôi sục, thiêu đốt khoan xoáy làm tê bại thân xác lẫn tâm hồn, và từ trong cái thân xác quằn quại đó trong cái tâm hồn điên dại ấy bỗng vụt lên tiếng thét:
Miên, Miên... Em là người đàn bà của tôi, của tôi...
Ngồi bật dậy, anh bóp chặt hai đầu gối để chống lại ý muốn chạy sang căn buồng gian hãm người đàn bà của anh, húc đổ cánh cửa dù nó được gài chốt và được khóa bằng ổ khóa lớn hơn cả bàn tay... Anh đủ sức đập tan bất cứ ổ khóa nào đủ sức khá vỡ bất cứ cánh cửa nào... Thời gian đã trả lại cho anh sức lực. Anh đang còn trẻ. Anh mới ngoài tuổi ba mươi... Nhưng anh vẫn bóp chặt hai đầu gối vì hiểu mình đã bị trói buộc bởi một hợp đồng.
Miên không còn yêu ta nữa... Mọi cố gắng đều vô ích... Bởi ta không thể cưỡng ép cô ấy yêu ta...
Phần lý trí sót lại trong anh lên tiếng. Nhưng tức khắc một tiếng nói khác mãnh liệt hơn hung dữ hơn rốt ráo hơn đáp lại:
Nhưng ta yêu Miên, ta đã tìm lại đường về, tìm vầng trăng bằng chính sinh mạng mình, những ngày chui lủi vượt rừng chống lại đói khát muỗi vắt và các bóng ma thù nghịch... những ngày ấy đã hút kiệt sinh lực của ta. Trái tim ta hàng ngàn lần tưởng vỡ vụn vì sợ hãi, ta đã phải tự trói mình vào thân cây ban đêm giấc ngủ mong manh mướt lạnh mồ hôi vì tiếng rít của trăn gió và rắn độc, ta đã phải sống như thú vật bằng cây củ và lá rừng... tất cả những nhục nhằn ấy là vì em... Em không có quyền đuổi tôi ra khỏi trái tim em. Tôi đã đánh canh bạc này bằng chính cuộc đời tôi, hoặc tôi phải được chia phần hoặc tôi chết...
Mắt anh mờ đi, mồ hôi anh vã đầy ngực lẫn hai bả vai. Anh giật cửa ra ngoài.
- Ông không ngủ được hay sao? Ra uống nước chè với tôi. Đêm nay tôi cũng chẳng làm sao chợp mắt...
Người quản gia cất tiếng. Ông ta đang ngồi trước khay trà, ngọn đèn đêm đã được khêu to và dường như tất cả đã sắp đặt:
- A... bác đã dậy rồi ư ư?
Bôn lúng túng đáp hai thái dương vẫn nóng ran.
Ông già Lư đứng lên đổ thêm nước sôi vào ấm trà, ung dung đáp:
- Tôi chưa ngủ... Người già thường ít ngủ.
Và không chờ anh trả lời, ông nói tiếp:
- Trà ướp nhài đợt này thơm lắm, mời ông ra uống cho nóng. Tôi vừa bóc phong bánh đậu xanh bà Miên đưa ngày hôm qua. Ăn thứ bánh này với nước trà thật phải vị.
Bôn không nói được gì, anh đi tới kéo ghế ngồi đối diện với người quản gia tâm hồn sục sôi căm uất:
Thằng già này đúng là con chó săn của tay Hoan. Sẽ có ngày ta cho mi về chầu tiên tổ...
Anh uống trà, nói vài câu nhạt nhẽo với người quản gia hiểu rằng tất cả những thiện cảm ông ta dành cho anh chỉ là chút tình thương phổ biến giữa con người với con người và điều hệ trọng là chính ông, người gác ngục tận tụy trung thành sẽ không bao giờ cho phép anh được bước tới cánh cửa buồng của Miên, người đàn bà của anh hơn mười sáu năm trước, người đàn bà của Hoan bây giờ. Anh uống liên tiếp hai chén trà và tâm hồn anh rền rĩ:
Đồ chó săn già, mi đã bao giờ yêu chưa nhỉ? Mi cũng có tuổi trẻ, không lẽ mi chưa từng yêu chưa từng thất tình chưa từng bị thân xác dày vò hành hạ?
Người quản gia đổ ấm trà cũ, tra nhúm trà mới rồi chế nước sôi, mọi cử chỉ khoan thai. Đôi mắt ông chăm chú nhìn vào ấm pha trà nhưng Bôn biết rằng chúng không bỏ sót hành vi nào của anh và hẳn chúng cũng đọc thấu những gì anh nghĩ. Ngọn đèn đêm mọi ngày vẫn đặt trên nóc tủ chè, đêm nay được khêu tỏ đặt ngay trên mặt bàn uống nước, sát căn buồng của anh. Vẻ mặt ông già chứng tỏ ông đã thức dậy từ lâu, đã nghe rõ tiếng thở hổn hển và những cơn vật vã của anh. Mọi dáng nét, cử chỉ lẫn cặp mắt trầm tư bình thản kia chứng tỏ ông đã tính mọi đường đi nước bước để phòng thủ, và nếu anh có manh động hẳn cũng chẳng thu được chút hy vọng nào.
Ta không thể làm gì được sao? Ta phải sống trong ngôi nhà này như một bóng ma sao?
Trái tim anh tiếp tục rền rĩ và anh tưởng anh có thể chồm qua bàn dáng cây đèn pin hoặc chiếc giá nến đồng vào cái sọ già nua của ông Lư. Nhưng phần tinh khôn sót lại trong óc não anh run sợ. Anh biết con người đó mạnh hơn anh, khôn ngoan hơn anh, tỉnh táo hơn anh, nhiều ưu thắng hơn anh. Vài lần, đi ra nghĩa địa làng anh thấy lũ trẻ đi theo. Thoạt đầu, anh tưởng chúng cùng đi chơi nên quay lại vui vẻ chào hỏi, chuyện trò. Nhưng lần sau, anh chợt nhận thấy nỗi tò mò và sự sợ hãi trong mắt chúng, và dù đi theo anh chúng vẫn chuẩn bị sẵn sàng tư thế quay một trăm tám mươi độ để tháo chạy. Lúc đó, anh nghĩ người đời vốn sợ những kẻ hay lân la ngoài nghĩa địa cho rằng họ thường dắt lối đưa đường cho ma quỷ về thôn xóm trêu ghẹo dân chúng. Nhưng có một ý nghĩ khác lờ mờ ẩn núp sau ý nghĩ đó giống như bóng đen núp sau pho tượng trong chùa. Anh sợ. Anh không dám nghĩ tiếp...
Giờ đây, cái bóng đen phía sau ý nghĩ của anh lại hiện về:
Phải chăng lũ trẻ tò mò kia có lý? Ta điên chăng? Hay ta đã mắc căn bệnh bất thường nào đó mà tất cả mọi người cả Miên cả ông Lư đều không nói cho ta biết?
Một con bướm đêm to tướng bay qua cửa sổ vào nhà, chập chờn múa lượn quanh cây đèn ánh lửa xuyên qua đôi cánh bướm nhuộm thắm những nét vẽ những đốm màu khiến con bướm đẹp một vẻ đẹp anh chưa từng nhận biết. Bôn đặt chén nước xuống, mê mải nhìn con bướm chợt nhớ một mùa Xuân xa xôi, anh cùng Toàn béo, Hải đen đứng ngắm lũ bướm vờn quanh lèn núi. Hàng triệu con bướm cùng bay lượn hân hoan rối rít chấp chới lộng lẫy. Vũ điệu của chúng làm quay cuồng rừng núi. Ba thằng lính nhẩy cẫng. Lần đầu họ thấy một cảnh kì diệu đến thế. Những năm sau màu sắc rực rỡ của lũ bướm xuân không còn cuốn hút họ như trước, họ không còn đứng hàng giờ ngắm chúng múa lượn, lò dò trên bãi cỏ rình những đôi bướm giao phối rơi xuống. Lũ lính trẻ quay sang rình những cặp khỉ phủ nhau. Một lần, họ bắt gặp một cặp đười ươi trong cơn say mê tình ái. Cặp đười ươi đó rất giống người, động tác làm tình cũng vậy, chúng dai dẳng đến độ người ta thần phục và thèm muốn. Bôn hình dung lại cảnh tượng đó, anh nhìn thấy bộ mặt con đực nằm trên, tiếng rên, vành môi nhếch nhe những chiếc răng trắng nhởn... Trong giây lát máu trong cơ thể anh sôi trào lên, anh khép chặt hai đùi nốc cạn chén trà thứ ba rồi nói với người quản gia:
- Bác ngồi uống trà nhé... Tôi đi ngủ.
Ông già gật đầu:
- Ông đi đi. Đêm nay chắc tôi không nhắm mắt được.
Anh vào buồng gài chặt chốt cửa như để tự ngăn cấm vì ngày thường không có lý do nào làm việc ấy. Đoạn anh lên giường phủ phục mặt úp xuống gối như đứa trẻ sắp phải ăn đòn, hai bàn tay nắm chặt.
Thôi đi thôi đi thôi đi...
Anh tự nhủ. Nhưng không thôi được. Bộ phận kín cương cứng như con ngựa chiến sung mãn chờ phút sổng khỏi chuồng. Nó thống lĩnh tâm hồn cùng thể xác anh. Anh không thể nghĩ tới điều gì khác. Màn hình trong óc não anh chỉ hiện lên hình ảnh duy nhất là hình ảnh cặp đười ươi đang làm tình. Cặp vợ chồng khỉ đểu giả đó không ngừng lôi cuốn anh, kích thích anh, kể từ giây lát trí nhớ lôi cuốn chúng khỏi cánh rừng dĩ vãng. Anh nhớ lại từng tiếng kêu khoái lạc của chúng, từng động tác nhỏ nhặt trong giao phối, cánh mũi chúng nở to trong cơn hứng tình, vẻ mệt nhọc đờ đẫn sau khi thỏa mãn...
Trời ơi, sao tôi khốn khổ thế này?
Tâm hồn bầm giập của anh kêu thét lên. Và bỗng dưng anh căm ghét cái nhúm thịt thừa giữa hai bẹn mình, cái cục thịt thối tha đã hành hạ anh một cách giảo quyệt tàn nhẫn. Khi anh cần nó hùng mạnh, anh vỗ về chăm chút nó bằng đủ loại thuốc lẫn các món ăn bổ dưỡng thì nó rũ xuống như lá cờ buộc ở đầu gậy thằng chăn vịt. Khi anh cần nó an nhu, chấp thuận một đời sống êm lành chay tịnh thì nó dựng ngược lên, kêu gào cơn thỏa mãn dục tình:
Địt mẹ mày... Địt con mẹ mày nhé...
Anh thầm cất tiếng chửi, giống năm nào anh chửi lũ kền kền đã moi ruột tiểu đội trưởng trong rừng khộp xem như cách thức bắt buộc để khạc nhổ nỗi uất hận trong lòng. Nhưng nhúm thịt đểu cáng thối tha kia điếc đặc, nó không chịu nghe chửi, nó cứ ngỏng lên một cách lì lợm và tàn nhẫn. Bôn đành thọc tay vào trong quần, tìm mọi cách làm nguôi dịu cái bộ phận cơ thể đã phản bội đã trở thành một con vật xa lạ quái dị, ở ngoài mọi điều anh nghĩ và anh muốn.
Chiều hôm sau Bôn chờ Miên về. Anh vờ bế cu Hạnh mặc dù thằng bé luôn luôn giữ vẻ xa cách và dè chừng. Khi Miên xuống nhà tắm anh bế đứa bé xuống theo, chặn chị ngay ở cửa phòng tắm:
- Miên này, tôi có chuyện muốn nói.
Miên quay lại nhìn anh, anh biết chị đã hiểu điều anh muốn nói. Chính chị lên tiếng trước:
- Anh Bôn, em đã nói rồi. Chúng ta không còn tình nhưng còn nghĩa. Và em sẵn lòng coi anh như anh trai mình. Ngoài ra, không thể có gì hơn.
Anh gật đầu:
- Tôi vẫn biết thế. Nhưng tôi không thể sống mãi như thế này. Tôi biết Miên có người đàn ông khác nhưng tôi vẫn yêu Miên, tôi muốn có phần của tôi.
Chị nhìn anh bằng cặp mắt lạ lùng:
- Em không hiểu.
Anh gắng nuốt nước bọt, gắng ghìm giữ nỗi nhục và nói tiếp:
- Chuyện thường thôi... Ngày xưa người đàn ông có năm thê bảy thiếp. Giờ chúng ta cũng có thể chung sống hòa bình theo kiểu đó... Tôi không dám đòi hỏi nhiều... Nhưng tôi yêu em, tôi phải có phần của tôi.
Mặt Miên vutỳ đỏ dựng lên, chị đưa mắt rất nhanh nhìn về phía bếp như sợ người quản gia nghe thấy. Rồi chị nghiêm mặt lại, một vẻ lạnh lùng dữ tợn hiện trong đôi mắt:
- Anh đừng bao giờ nhắc lại chuyện này lần nữa, với bất cứ ai. Nếu không xóm giềng sẽ cho anh là kẻ điên dại hoặc vô luân. Không người đàn bà tử tế nào lại làm chuyện đó.
Anh không dám nhìn vào mắt chị, nhưng tiếp tục nói:
- Tôi không phải quan hoạn... Tôi không thể sống mãi như thế này.
- Vậy anh có thể rời khỏi đây...
Miên đáp, giọng lạnh lùng và gương mặt chị rắn lại như đá:
- Anh có thể về lại nhà, em sẽ gắng giúp anh vốn làm ăn. Rồi anh tìm người nào đó thương yêu anh xây dựng cuộc đời mới.
- Không. Tôi không muốn...
Anh đáp. Đoạn đặt đứa bé xuống, bỏ lên nhà trên. Miên không gọi anh, không nói gì thêm, bế đứa con vào phòng tắm. Ở đó chị gọi vóng xuống bếp:
- Bác Lư xem giùm tôi nồi nước.
Tiếng người quản gia đáp lại tức thì:
- Nước được từ lâu. Bà chờ tôi đem lại ngay.
Dường như bất cứ lúc nào người quản gia cũng chờ đợi và sẵn sàng làm theo ý muốn của Miên. Bôn nhìn ông ta bưng nồi nước lá qua sân, cái bóng rắn rỏi hắt dài trên nền gạch và biết rằng ông Lư không chỉ là con chó trung thành của Hoan mà còn là kẻ tháp tùng tín cẩn của Miên. Ông ta cùng một lúc sùng phục cả hai, với người này có lẽ do gắn bó quyền lợi và với người kia là tự nguyện. Anh là kẻ đứng một mình trong ngôi nhà này. Và có lẽ anh là kẻ đứng một mình trên trái đất.
Đêm ấy Bôn mơ giấc mơ siêu tuyệt. Giấc mơ đem cho anh cảm giác vẹn toàn về hạnh phúc, một thứ hạnh phúc sung mãn chưa bao giờ mon men tới trong đời sống thật. Anh mơ một cơn đại hồng thủy bao trùm toàn trái đất, nhấn chìm tất cả các châu lục, các quản gia, mọi giống người da vàng da đen da trắng đều chết sạch, duy mình anh được Đấng Tối Cao ban cho cây bè. Trên mặt nước mênh mông có triệu triệu người chết đuối hoặc đang lóp ngóp một cách tuyệt vọng giữa các đám bọt nước anh đã kịp tìm thấy Miên, chị chìa bàn tay chới với trên mặt nước về phía anh, hướng đôi mắt cầu khẩn về phía anh và lần nữa anh trở thành người hùng cứu chị thoát khỏi cái chết. Anh ôm Miên vào lòng, người đàn bà của anh run rẩy nhợt nhạt vì sợ hãi. Anh vuốt ve an ủi chị, vắt kiệt những lọn tóc ướt sũng cho chị, cởi áo mình cho chị rồi lái cây bè vượt qua biển xác chết anh đưa chị tới mỏm đảo hoang duy nhất còn nhô lên trong cơn hồng thủy, biết rằng đó là mảnh đất Đấng Tối Cao dành cho anh, để anh cùng người đàn bà anh yêu sản sinh ra một nhân loại mới. Trên đảo hoang trơ trọi giữa bốn bề nước và thây ma, tình yêu của họ sống lại, mãnh liệt gấp trăm lần thuở trước. Anh ái ân với Miên trên cỏ, dưới trời sao dưới cả nắng mai, những cuộc ái ân hung dữ hơn cơn động tình của hổ báo, dai dẳng hơn loài khỉ đột hoặc đười ươi, dường như trong thân xác họ chảy những dòng máu hòa trộn của muôn loài... Bôn thức giấc vào buổi sáng hôm sau, ngơ ngẩn tiếc, và rờ tay xuống chiếc đũng quần ẩm ướt, anh cố triệu hồi niềm hạnh phúc tót vời thứ khoái lạc tót vời vừa nếm trải...
Rồi ngày nọ tiếp nối ngày kia, anh vẫn lên đồi ra nương cùng người quản gia, ngồi tiếp ông uống trà ăn bánh đậu, vẫn cùng ông lúi húi nấu cháo gà hoặc bún bung những khi họ muốn đổi món, sống cuộc sống sung túc nhiều người dân Xóm Núi thèm muốn. Vào những đêm hứng tình, anh triệu hồi giấc mộng cũ, mơ tưởng mùa ái ân của các loài thú trong rừng, giải thoát cơn hành hạ dục tình một cách khốn khổ và không ngừng thèm muốn đập vỡ một cánh cửa buồng, bẻ gẫy một ổ khóa. Đã đôi lần, anh nghĩ:
Hay ta ra đi... Hãy thử đến cái nông trường Xá chột đã nói. Hơn hai trăm cô thanh niên xung phong quá lứa đang ở đó, tha hồ chọn, còn hơn sống nhục nhã thế này... Như thế, ta cũng giải thoát cho cả Miên, Miên có thể lên trại Suối Nhỏ với Hoan hoặc gọi anh ta trở về ngôi nhà cũ. Hẳn Miên sẽ giúp ta đủ vốn liếng làm ăn. Người đàn ông kia không thiếu tiền, anh ta sẽ chẳng dè dặt khi trả giá cho một hạnh phúc vẹn toàn. Rồi mai đây, ta cũng sẽ có một mái ấm một đứa con với người đàn bà mới, người đàn bà ta tuyển chọn trong đám hơn hai trăm cô gái quá thì...
Thoạt đầu, ý nghĩ mình được quyền tuyển lựa một người đàn bà giữa đám hai trăm cô gái quá lứa làm anh sung sướng, lờ mờ thú nhận điều đó cho phép anh có được quyền năng và sự hãnh diện của một vị vua. Nhưng sau thoáng kiêu hãnh, anh chợt hiểu ra rằng hơn hai trăm cô gái quá lứa kia đối với anh chỉ là một đám bụi mịt mờ, một khối đen đặc không hình thù đường nét không gương mặt nào rõ rệt và lôi cuốn. Hai trăm cô gái chẳng phải là một số lượng ghê gớm bởi anh từng gặp đến ngàn cô gái trên lề chiến tranh... Và chẳng mảy may xúc động... Cũng có thể những cuộc gặp gỡ trong chiến tranh chỉ là những tụ hợp phù du, ít ỏi là vài giờ đồng hồ, nhiều nhặn lắm cũng hai ba ngày không bao giờ đủ thời gian để làm quen... nhưng cũng có thể vì con tim anh đã bị cột chặt với một người đàn bà, mối tình đầu ác hại, và rồi sau đó bởi chính anh đã đặt cược sinh mệnh vào người đàn bà đó, nên anh không còn chỗ tháo lui. Anh đã quăng thân vào bao nhiêu cuộc phiêu lưu đến suy kiệt tinh thần hao mòn thể xác giờ đây những cuộc phiêu lưu đó đọng lại trong anh như một thứ cặn lắng, bít bùng, mờ tối:
Không, không, không, ta không thể xách ba-lô tới một nơi xa lạ, tìm trong đám đông xa lạ kia một người đàn bà nào đó có thể trở thành thân thiết, hơn nữa có thể cùng chia sẻ gối chăn... Ta chẳng còn sức để lao vào một cuộc phiêu lưu như thế...
Chỉ mới nghĩ đến một con đường trải ra phía trước anh đã thấy gân cốt rã rời, những khớp xương muốn long rụng tơi tả. Chỉ mới mường tượng một cuộc ra đi da thịt anh đã ớn lạnh và những chân tóc anh dựng lên như chúng sắp sửa phải chống chọi với hơi giá rừng già, với gió độc lùa dưới vực sâu, với mưa sương trên những vòm lá dày rớt xuống... Không, anh không còn sức cho một cuộc phiêu lưu mới. Vả chăng, tại sao anh phải ra đi như một kẻ trắng tay, để người đàn bà anh yêu hoàn toàn thuộc về người đàn ông khác? Tại sao anh lại chịu thua cuộc nhục nhã và vô điều kiện như thế, sau bấy nhiêu nỗ lực gian truân? Và lờ mờ, trong đáy sâu con tim anh, niềm hy vọng tuy mong manh vẫn le lói chiếu:
Biết đâu đấy, biết đâu một ngày nào?
Anh tự nhủ. Nhưng ngày nào và có sự gì xảy ra, anh mơ tưởng điều gì... anh hoàn toàn không biết.
Và bỗng dưng mùa săn năm nay tiếng kèn xa xăm kia không còn làm anh run sợ. Những âm thanh lúc đều đều buồn tẻ lúc vót gắt rền rĩ của nó lay động góc trời tĩnh lặng trong anh, gọi về tuổi thơ, nức nở khúc ca sầu muộn. Anh ngồi trên đồi vắng khoanh tay nghe giờ này qua giờ khác. Rồi một chiều những âm thanh kia vang động hơn, xô dạt hơn, vừa như sóng biển vừa như nhịp quân hành vẳng lại. Bôn chợt nhìn thấy một khoảng trời trong veo trong vắt, những nương ngô trổ bông phơi dưới nắng chiều, những thân mía tím mập mạp cao trên đầu anh phủ đầy phấn trắng và bao trùm lên tất cả khung cảnh đó là một không gian trầm lặng, thanh sạch với tiếng ong rù rì êm ả...
Khung trời này ở đâu và những nương ngô kia ở đâu? Ta đã từng gặp, đã từng sống... Chúng ở đâu trên cõi đất này?
Anh lục tìm trí nhớ. Quá khứ như hang động mịt mù khói phủ. Lạnh. U buồn. Kinh hoàng. Da diết. Tan loãng. Tơi tả. Ngoài ra anh không thấy một cảnh tượng nào. Anh ngồi đăm đăm nhìn mặt trời từ từ chìm xuống núi. Khi mặt trời tắt trên các rặng núi phía Tây cũng là lúc mặt trời trong trí nhớ anh nhô khỏi cánh rừng u tối thổi tan lớp khói mịt mù, rọi vào cái hang sâu bị rấp lối. Và anh chợt bật lên tiếng kêu:
- Bản Kheo.
Tiếng kêu của anh vọng trên các nương tiêu nương cà-phê lẫn dải đồi xung quanh. Vài người chăn dê chăn bò đang lùa gia súc về làng giật mình đưa mắt nhìn anh nhưng anh không nhận thấy. Đứng thẳng dậy, anh hét thật to cái tên vừa tìm thấy:
- Bản Kheo... Đúng là Bản Kheo. Bản Kheo. Bản Kheo. Bản Kheo...
Và cùng tiếng vọng, âm vang trong anh tiếng xe trâu kẽo kẹt, tiếng gà gáy vọng qua thung lũng, tiếng bọt củi nổ lách tách tiếng sôi của mật nấu trong chảo, tiếng chim ríu ran thanh bình tiếng cười nói lao xao nghe thân ái và nhu mì dù rằng đó là thứ ngôn ngữ lạ lùng anh không rõ nghĩa. Giờ Bôn đã nhận diện được Bản Kheo, nơi anh sống với người đàn bà Lào câm điếc, người chưa cùng anh kết hôn theo thủ tục của Việt Nam nhưng đã kết hôn theo phong tục địa phương cô sinh thành. Bôn nhớ lại vị xôi trắng lẫn thịt nướng ngày đó, nhớ cử chỉ của trưởng tộc khi ông cầu chúc lễ hợp hôn của họ, nhớ gương mặt với cặp mắt xếch sáng loáng của người anh trai cô dâu và rọi soi trên tất cả các ảnh hình ấy, lung linh trên tất cả các ảnh hình ấy là ngọn lửa lớn, một bếp lửa chụm bởi các thân gỗ to hơn đùi người cháy suốt ngày đêm không tàn, ngọn lửa vĩnh cửu nơi Bản Kheo:
Phải, đó chính là nơi ta sống với người đàn bà có một rương đầy váy áo. Cô đã trải tất cả đám váy áo rực rỡ ấy lên sàn cho ta xem trước ngày làm lễ hợp hôn. Và đêm đó cô đã đun nồi nước lá thơm cao gần đến thắt lưng để hai người cùng tắm... Đêm ấy ta đã hạnh phúc. Dẫu sao cũng vẫn là hạnh phúc. Mùi nệm mới ủ lá thơm bốc lên ngào ngạt sao...
Anh nhắm mắt lại, thấy mình được tắm rửa sạch sẽ thơm tho nằm trần truồng trên tấm nệm lanh thêu rực rỡ, thân thể trần truồng của một người đàn bà kề bên. Cách họ chừng vài thước bếp lửa cháy bừng bừng, lửa đỏ tỏa hơi ấm và rọi sáng... Anh nhớ lại cảm giác mãn nguyện khi người đàn bà tì đôi vú nặng của cô vào ngực anh, đôi tay cô ve vuốt cơ thể anh, và những động tác của cuộc làm tình đưa dẫn anh tới ngọn triều khoái lạc. Sự hồi nhớ khiến cơn thèm muốn dục tình trong anh bật dậy.
Ta đã từng được sung sướng với người đàn bà ấy... Tại sao ta rời bỏ cô ta? Giờ ta ao ước được như cặp đười ươi phủ nhau trong xó rừng... Tại sao con người ngu xuẩn như vậy?
Nỗi hối tiếc điên cuồng vò xé tim Bôn. Con giống anh đã dựng ngược lên trong quần. Cái con vật quái gở khốn kiếp đó càng lồng lộn hung dữ, cơn hồi nhớ càng gợi lại rõ rệt những khoái lạc anh từng nếm trải nơi Bản Kheo. Những đường chỉ thêu trên tấm nệm lanh hiện lên cùng cặp vú người đàn bà. Bộ phận thầm kín cùng cặp đùi rắn như sắt của người con gái miền sơn cước. Chính anh đã biến cô thành đàn bà, khi thấy những giọt máu in lên tấm nệm cô ngồi nhỏm dậy, giơ tay chỉ cho anh biết. Vào khoảnh khắc ấy, cô không còn xấu xí, vào khoảnh khắc ấy mắt cô long lanh và ánh lửa rọi biến cô thành một nữ sơn thần với mái tóc xõa quanh vai.
Tại sao ta đã quăng thân vào cuộc phiêu lưu để đến nỗi hơi tàn lực kiệt? Phải chăng ta là kẻ tham mồi bắt bóng, phụ người yêu mình để chạy theo một thứ không thể nắm được trong tay? Và những giây phút cực nhục này là sự trừng phạt xứng đáng? Anh hồi nhớ cặp mắt lạnh như băng của Miên khi chị từ chối lời cầu xin của anh, cầu xin một miếng cháy đáy nồi cơm, một vụn lẻ tình yêu nơi chị. Và anh lại hồi nhớ cặp mắt sưng mọng những tiếng van vỉ ú ớ của người đàn bà Lào, nhớ mái tóc xác xơ phủ phục dưới chân anh, nhớ bóng dáng thảm thê của cô ngồi trước cây cầu thang canh giữ. Không phải riêng cô mà cả gia đình người anh trai cả dân Bản Kheo, đám người khác ngôn ngữ và phong tục ấy đã níu giữ, vây bắt anh không vì một ác ý nào, chỉ vì anh cần cho người con gái thiếu may mắn kia...
Trong ngôi nhà sàn xếp ngay ngắn những dãy bịch đựng ngô đựng nếp, những chum mật, đường phèn xếp thành tầng trên dàn tre giữa các lớp lá chuối khô, bí ngô già chất thành đống. Những lùm cây trước sàn rất nhiều chim, cả rạng đông lẫn chiều hôm tiếng chim ríu ran làm đầy khoảng không gian yên ả. Bầu trời Bản Kheo trong vắt, khói bẩn của chiến tranh không bay tới rẻo đất hẻo lánh này... Tại sao đến tận giờ anh mới nhận thấy cảnh sống thanh bình như vậy đủ lấp đầy cuộc đời gian truân cơ cực của mình? Cái gì đã thúc đẩy anh ra đi, chạy trốn khỏi mái nhà sàn ấm áp đó? Bôn nghĩ mãi, nghĩ mãi nhưng không tìm được lời giải đáp. Anh cứ ngồi trên đồi cho tới lúc đêm đen vây phủ, mê man trong các hồi tưởng, quay quắt vì tìm kiếm lời giải đáp, quằn quại bởi cơn đói dục tình. Tất cả những nỗi dằn vặt ấy hòa trộn nhau, đồng hiện. Chúng căng anh ra như mảnh da bị kéo cả bốn bề. Thời khắc cứ thế trôi. Cỏ xung quanh đã ướt sương, tay Bôn quệt vào chúng. Anh thả tay áo sơ-mi gài cúc tay, gài cúc cổ. Anh quên lối về nhà. Co hai chân lên cho đỡ lạnh, anh bó gối ngửa mặt nhìn trời. Và rồi, trăng lên. Trên riềm núi phía Tây nó từ từ trồi lên như một khối bạc tròn trĩnh, như gương mặt an hòa, thanh thản...
Hằng Nga...
Một cái tên vọt lên giữa đáy vực sâu. Một con cá óng ánh đột nhiên nhảy khỏi mặt hồ ảm đạm. Một tia sáng vụt xuyên qua đường hầm tối trong óc não Bôn.
Anh vùng đứng lên, thét vang trời:
Hằng Nga... Mặt trăng, chính là mặt trăng... Chính nó...
Bây giờ anh đã nhớ. Chính những đêm Bản Kheo anh đã ngửa mặt nhìn trời. Giữa đường cắt hình cánh nhạn của hai trái núi, mặt trăng đã nhô lên như vầng trăng đêm nay. Chính vầng trăng quyến rũ ấy đã mê hoặc, đã bỏ bùa ngải vào trái tim anh, làm tê bại óc não anh và anh đã bỏ trốn đi theo nó, rời khỏi Bản Kheo. Anh đã bỏ người đàn bà hiền lành khốn khổ yêu mê anh, tôn thờ anh như bị thần giáng thế. Chính là trăng, kẻ đầu độc anh, dẫn anh tới nỗi thống khổ này. Anh phải tiêu diệt nó, nếu không có cung tên, anh sẽ dùng súng, và cũng có thể là thuốc nổ. Phải trả thù vầng trăng lừa lọc đó...
Nhưng nó chính là Miên... Sau khối tròn bạc ấy chính là gương mặt của Miên... Người đàn bà ta yêu...
Trái tim anh lên tiếng, và cơm uất hận trong anh như ngọn lửa bị nước dội. Bôn lại buông xuôi hai tay, ngồi xuống. Đám cỏ đọng sương thấm ướt quần. Có lời thầm thì nào đó vừa thoáng qua tai, anh chưa kịp nghe thấy. Anh bó gối, giỏng tai lên chờ đón. Chỉ còn mình anh trên ngọn đồi tối đen này, xung quanh là nương vườn và các đồi dứa chưa tới mùa đơm trái. Gió khẽ rì rầm, rì rầm, nhẹ nhàng và mơn trớn. Côn trùng rỉ ran. Tiếng sột soạt đâu đó của những con chuột núi hoặc lũ chồn cáo. Tiếng rụng của các cọng lá khô... Nhưng anh vẫn kiên tâm chờ đợi tiếng thì thầm... Và sau rốt, lời thì thầm kia lặp lại:
Miên và có thể chẳng là Miên. Em là vầng trăng của tôi và kẻ kia lại là vầng trăng của em. Em đã quyến rũ tôi ra đi và hắn lại quyến rũ em rời bỏ tôi... Đó là trò hoán chỗ...
Trái tim anh dường như ngừng đập. Óc não anh cũng gần như tê liệt trong cơn choáng váng. Khoảnh khắc đó qua đi, anh mới có thể tiếp tục nói với chính mình:
Phải, đó chính là trò chơi đổi chỗ. Điều đấy thật giản đơn mà sao giờ ta mới nghĩ ra? Nàng Thoọng khốn khổ không bắn nổi vầng trăng quyến rũ kia... Nhưng tôi, tôi sẽ bắn rụng vầng trăng của em, để không còn gì lôi cuốn em ra khỏi tôi, và chúng ta sẽ sống cùng nhau, cùng nhau mãi mãi...
Nỗi sung sướng khiến Bôn lặng đi. Lần này anh không hét lên mà cúi xuống hà hơi vào lòng bàn tay, thì thầm:
Bôn ơi là Bôn, sao mà mày ngu dại, sao mà mày chậm hiểu thế? Đáng lẽ mày phải tính đến chuyện này từ lâu, từ lâu...
Trí óc anh trở nên tỉnh táo, sắc bén. Tức khắc, nó phác ra kế hoạch hành động một cách tường tận, tỉ mỉ:
Mai ta đến nhà Xá chột. May sao cậu ta vừa về thăm vợ đẻ. Ta hỏi mượn khẩu súng săn, nói rằng phường săn bên xã thiếu tay súng và vì trưởng phường có họ xa nên ta phải nể tình giúp họ. Xá đang sướng rơn vì cửa hàng mới, vì vợ đẻ con trai nên không thể nghi ngờ. Từ nhà Xá, ta sẽ theo cong đường vòng qua thung lũng Ớt để tránh gặp dân làng. Ta sẽ đón họ ở bìa rừng bên kia Suối Lớn. Ở đó, định hình rất lợi. Vả chăng hắn cao to nhất phường săn một mục tiêu như thế dễ dàng bị hạ. Trước kia, ta bắn cũng không đến nỗi nào. Chẳng là thiện xạ nhưng cũng hơn hẳn gã lái buôn dân thành phố... Ngày mai sẽ là ngày cuối cùng hắn được hưởng cuộc đời may mắn của mình...
Bôn đứng dậy, men theo lối đi đã thuộc trở về làng. Lẹ làng như một con mèo và gian manh như con cáo gã đàn ông đang mưu tính giành giật lại hạnh phúc mỉm cười. Hẳn đó là nụ cười đắc thắng...


Chương 28


M
ùa săn Xóm Núi năm nay thật rủi ro.
Ngược lại những gì ông trưởng phường dự đoán, trong cái buổi tối vui vẻ rộn ràng trước ngày xuất quân họ đã hút thuốc ngon, uống trà ngon, ăn bánh mật nóng hổi và tuy chẳng ai nói ra lời nhưng mọi người đều mơ tưởng tới số thú rừng sẽ được cõng về làng. Nhưng thứ cống vật đầu tiên của mùa săn không phải lợn lòi, gấu ngựa, gấu chó, hươu nai, hoẳng, hay khỉ độc... Cống vật đầu tiên lại là người đàn bà chửa, người đó nằm trên chiếc võng đay sợi thưa, thứ võng thường được đem theo phòng ai đó bị lợn lòi húc hoặc bị gấu ngựa tát... Đám phường săn cởi áo lót vào võng rồi đặt người bị thương lên. Vết thương không nghiêm trọng, chị bị súng cướp cò thổi cụt ngón tay trỏ và ngón giữa, nhưng vì mang thai đến tháng thứ bảy lại chạy một thôi đường dài nên lâm cơn đau sinh nở. Hai gã đàn ông trần trùi trụi khiêng cáng, một đầu là Xá chột, đầu kia là một chàng trai hai mươi mốt tuổi vừa được nhập phường mùa săn trước. Đi bên cáng phía trái là anh chồng thứ nhất, bên phải là anh chồng thứ hai. Một anh tái thâm. Anh kia trắng nhợt. Cả hai đều có cặp mắt lạc tròng. Chủ tịch xã lẫn trưởng phường săn đều nhất trí hủy chuyến săn để đưa Miên trở lại làng đoạn cử người phóng xe máy đi tìm ô-tô đưa xuống bệnh viện thành phố. Ở đó, chắc chắn họ phải băng lại vết thương cho chị rồi mới chuyển sang phòng hộ sinh. Miên nằm trên giường tái nhợt, mồ hôi vã đầy trán nhưng không rên một tiếng. Khi chủ tịch xã tới gần, hỏi:
- Cậu Bôn hay cô nổ súng?
Miên cười:
- Em đó mà... Bỗng dưng em táy máy... Không ngờ chạm phải...
Nụ cười nhợt nhạt nhưng cặp mắt đen láy của chị nhìn thẳng vào người đối diện, sáng một ánh sáng dị thường.
Chủ tịch xã dường như muốn hỏi thêm điều gì đó nhưng lại thôi. Ông trưởng phường săn bảo:
- Thôi, thôi... Để cho cô ấy nghỉ... Vết thương mất nhiều máu lắm.
Không ai nói gì thêm. Họ phải chờ xe.
Ngần ấy người đàn ông ngồi chen chúc trong một gian nhà gạch nhỏ, ngôi nhà ở bìa làng, địa điểm gần nhất có thể tìm một chiếc giường cho Miên nằm tạm. Chủ nhân còn trẻ là thợ săn mới, được nhập phường một lần với chủ tịch xã và Hoan. Anh ta hì hục đun nước pha trà vì cô vợ đã đưa con về chơi bên ngoại cách Xóm Núi ngót mười cây số. Cả nhà chỉ có bốn chiếc chén nên đám thợ săn phải thay nhau uống. Cái sự đợi chờ khốn khổ đó khiến người ta khó bình tâm. Bởi thế chủ tịch xã, sau khi uống một chén trà nóng bỗng cảm thấy bứt rứt không sao chịu nổi bèn sấn tới trước mặt Bôn:
- Này...
Bôn đang ngồi trên chiếc kệ ngoài hè. Anh ta nghiêng đầu nhìn xuống sân như để đếm gạch hoặc để tìm một cây cỏ mọc trong kẽ nứt.
- Này Bôn.
Người chồng thứ nhất ngước lên đôi mắt trống rỗng, trên gương mặt cũng trống rỗng như vỏ trái bầu khô. Anh ta không nói gì cả.
Chủ tịch gằn giọng:
- Cậu cầm súng hay cô Miên cầm súng?
Bôn lắc đầu:
- Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Chủ tịch gắt:
- Cậu hay nhỉ? Tôi hỏi cậu cầm súng hay cô Miên cầm súng?
Bôn lặp lại, khẽ hơn, gần như thì thầm:
- Tôi không bắn... Tôi không bắn Miên...
Và sau đó anh ta cứ lặp đi lặp lại mãi câu nói đó với một giọng khẽ khàng thầm thĩ, tựa giọng tâm tình giữa những cặp tình nhân. Trên gương mặt vô hồn, chẳng còn mảy may chút ánh sáng của ý thức.
Chủ tịch xã thở dài cau có quay vào nhà
- Tôi không bắn... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn Miên...
Bôn tiếp tục nói, không còn là nói mà như một kiểu nhai lại của trâu bò:
- Tôi không bắn... Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Những âm thanh phát ra đều đều liên tục, như tiếng phát ra từ cuốn băng ghi âm cũ. Những người thợ sơn im lặng đưa mắt nhìn anh ta. Tiếng Bôn lập đi lặp lại vang trong yên lặng. Dù anh ta nói rất khẽ nhưng tất cả mọi người đều lặng im, kể cả người bị thương nên tiếng nói của Bôn là âm thanh duy nhất khua động không gian.
- Tôi không bắn Miên... Tôi không bắn...
Cái điệp khúc vô tận đưa đẩy con người, như những con sóng nhỏ vô hình xô dạt họ vào nỗi bức bối. Nỗi bức bối tăng theo thời gian chờ đợi. Cuối cùng, chính ông trưởng phường, bậc trưởng lão của phường săn không chịu nổi đã gầm lên:
- Câm mồm đi... Cậu có câm mồm đi không hả?
Tất thảy mọi người đều giật nẩy vì tiếng hét của ông già. Bôn nhướng cặp mắt thất thần lên nhìn ông và ngậm miệng tức khắc, hệt chiếc máy bị rút điện. Sự im lặng trở lại ngự trị, lần này tiếng vo ve của lũ ong vườn vọng mơ hồ. Chủ nhà xách ấm nước sôi mới từ dưới bếp lên rót vào phích. Sau đó, tiếng suỵt soạt uống trà.
Người chồng thứ hai đã bình tâm tới ngồi bên giường với vợ. Anh tay nắm tay người bị thương, bàn tay trái lành lặn. Tay bên kia đã băng kín. Những đường băng thô dại của Xá chột. Chính Xá là người đầu tiên nhào tới lúc xảy chuyện, chính anh ta giằng khẩu súng khỏi tay Bôn, chính anh ta đỡ Miên và xé cánh tay áo sơ-mi của anh ra băng bó cho chị với nhúm thuốc lá. Chính Xá đã khiêng một đầu võng để đưa chị về làng. Nhưng từ phút đó anh lặng câm như nấm mồ. Giờ anh ngồi bó gối trong góc phòng đưa mắt nhìn Hoan và Miên. Người đàn bà vừa hé mắt nhìn chồng, môi lại nở nụ cười tái nhợt. Rồi chị nhắm mắt. Bàn tay còn lành nắm chặt tay Hoan. Màu hồng đã trở lại trên gương mặt người chồng thứ hai. Và cặp mắt hoảng loạn cũng đã bình thản. Anh ta mấp máy đôi môi nói gì đó với vợ. Chắc chắn chỉ riêng họ nghe được những lời thầm, thầm gần như câm lặng, những lời thuộc về riêng họ mà thôi. Xá chột đập vào lưng người ngồi cạnh xin chén nước. Rồi anh ta cúi xuống mê mải uống trà dường như đó là công việc duy nhất cần thiết.
Sau chót, xe đã đến. Tiếng còi inh ỏi ngoài đường thôn.
Người chồng thứ hai đứng lên, tới bên ông chủ tịch, nói vào tai ông ta với giọng vừa đủ cho ông ta nghe thấy:
- Xin anh bỏ qua cho chuyện này. Vợ tôi muốn thế.
Đoạn anh quay lại giường, bồng vợ lên, nhẹ nhàng như bồng đứa trẻ lên ba.
- Tôi đi đây... Xin cảm ơn tất cả...
Hoan nói vội vã trong lúc đi qua sân, vừa nói vừa đưa mắt chào mọi người. Tài xế đã mở sẵn cánh cửa chiếc com-măng-ca leo núi, Hoan bế vợ chui vào trong xe, đôi vai vạm vỡ co lại khi luồn qua khuôn cửa giống như vai gấu. Một con gấu dịu dàng, khéo léo. Mọi người đều nhận thấy anh rất cố gắng để khỏi gây va dập, để giữ người đàn bà chửa và bị thương tránh khỏi đau đớn. Trên trái đất khó có người đàn ông thứ hai nào vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng như Hoan. Tất cả những kẻ từng có cuộc sống vợ chồng, kể cả vị trưởng lão đều đứng ngây nhìn anh trong giây phút đó, đều thèm muốn được như anh với nỗi thèm muốn muộn mằn.
Xe đi. Tiếng máy tắt dần.
Ngôi nhà nhỏ trở lại yên tĩnh.
Những người còn ngồi lại không nhúc nhích, giống như bị bùa mê.
Ông trưởng phường rót trà uống.
Ông chủ tịch ngồi nhìn chiếc điếu cầy.
Chủ nhân khoanh tay tựa cửa, nửa như chờ đợi, nửa như đang nghĩ vẩn vơ.
Và rồi, Xá chột chợt như bừng tỉnh. Anh ta tụt từ trên phản xuống đất, bước ra hè. Bôn vẫn ngồi trên cây kệ. Mắt găm xuống mặt sân gạch. Nghe tiếng bước chân Xá chột, anh ta ngẩng mặt lên. Tiếng chân đó rất quen thuộc với Bôn. Không phải quen thuộc mà thân thuộc. Cái tiếng động anh ta thường trông ngóng, chờ đợi vào phút khốn khó nhất đời mình.
Hai người nhìn vào mắt nhau.
Xá chột dang tay tát vào mặt Bôn một cái tát nảy đom đóm. Và khóe môi Xá run giật.



Chương 29


R
ồi một cơn mưa bụi là là bay tới. Từ chân trời phía Đông nó mang theo hơi ẩm lẫn bóng mờ của những cơn giông hiếm hoi sầu muộn mùa Xuân. Giữa các lớp bụi xiên xiên trắng như sữa, len lỏi sương mù của một mùa Đông xa vắng, một mùa Đông trong cõi hoang kỉ niệm và trong những hồi ức đã chết cóng dưới tro bụi thời gian.
Ở bệnh viện tỉnh, người đi lại tấp nập. Dân chúng đau ốm liên miên vào dịp này. Lịch âm ghi ngày Kinh trập - ngày sâu nở. Trước phòng khám bệnh người xếp dãy dài. Bóng áo trắng lượn quanh các khu điều dưỡng, lướt dọc các hành lang. Phía sau viện, nhà xác chất đầy, từ đó thì thoảng một cỗ xe tang lăn ra con đường phía sau chở một linh hồn về cõi vĩnh hằng.
Trời này hút thuốc lá thơm thật tuyệt.
Từ sáng tới giờ Hoan đã hút hết già nửa bao Dulhil. Khói thuốc tỏa ra bay khỏi hành lang phòng chờ, nơi anh đứng, và tan lẫn vào mưa bụi. Anh ngửa mặt nhìn theo làn khói màu trắng đục của sương mù kia khiến tâm hồn anh khắc khoải hơn.
Sáng nay người ta đã đưa Miên lên bàn mổ. Bác sĩ quyết định lấy thai ra vì sợ Miên không đủ sức sinh đứa bé một cách bình thường. Hôm qua, sau khi băng lại vết thương cho Miên, họ đã kiểm tra huyết áp và các chỉ số khác. Sức khỏe của chị suy giảm không nhiều nhưng cũng không đảm bảo cho một cuộc sinh nở. Và họ đã thực thi các biện pháp cần thiết để an thai cho tới sáng nay. Miên rất bình tĩnh. Bất kỳ lúc nào có mặt anh chị cũng gắng nở một nụ cười. Nụ cười đó muốn nói:
- Không có chuyện gì đáng ngại, anh yên tâm.
Nhưng Hoan không yên tâm được. Người đàn bà đó là nửa cuộc đời anh, và nếu mất đi nửa ấy, nửa kia sẽ bất toàn.
Anh đã làm tất thảy những gì có thể làm được. Từ bác sĩ trưởng viện, trưởng khoa xuống tới đám y tá phụ mổ và y tá phụ trách giường bệnh, kể cả bà hộ lý già, một mụ đàn bà mặt rỗ thô bỉ thường vòi vĩnh trắng trợn... Tất thảy đều đã nhận được thù lao trước một cách hậu hĩnh... Nhưng anh vẫn không hoàn toàn yên tâm. Bởi sự nghiệm sinh đã dạy anh những nỗ lực của con người nhiều lắm cũng chỉ quyết định một nửa sự thành công. Phân nửa kia thuộc về một lực lượng huyền bí khác. Anh không quen cúng vái, không biết khấn các thần linh, anh chỉ thắp hương trước bàn thờ cha mẹ, cầu mong người đàn ông mảnh khảnh ngày xưa từng che chở anh trong cõi dương trần sẽ tiếp tục chở che anh khi ông đã ở dưới cõi âm. Sau đó, anh không biết làm gì hơn là đốt thuốc. Đốt thuốc liên tục như mất trí, không còn ngửi thấy mùi thuốc, không cảm thấy hơi lửa nóng trên đầu ngón tay.
Trời vẫn mưa. Mưa bay. Những nhành mai trắng nơi khuôn viên nhòa trong bụi nước. Hoan nghĩ tới một lưỡi dao, thứ kim khí bén nhọn sẽ rạch làn da Miên, những thớ thịt đứt rời, máu chảy:
Em sẽ phải gánh chịu đau đớn một mình, và tôi bất lực không cách nào chia sẻ. Vậy mà em vẫn cười, cười như một đứa bé nhởn nhơ ở ngoài cuộc. Em vẫn khích lệ tôi, gã đàn ông khỏe mạnh cao và nặng gấp đôi em...
Anh tưởng bụi nước bay nhòa mắt. Những khóm mai gần như chìm lấy trong mưa. Chiều qua, Miên bảo:
- Em cụt mất hai ngón tay rồi. Mãi mãi không còn bàn tay lành lặn cũ... Anh còn yêu em không?
Anh nói:
- Bao giờ em cũng là người đẹp nhất với anh, em là người của anh, người anh yêu mãi mãi.
Chị nhìn anh với đôi mắt rầu rĩ:
- Anh có thể gặp nhiều người đàn bà khác, trẻ hơn và đẹp hơn em.
Hoan lắc đầu:
- Chúng ta đã qua thử thách. Chúng ta đã từng xa nhau và biết rõ những gì xảy ra trong quãng thời gian xa cách đó.
Chị muốn nói gì thêm nữa nhưng người y tá đã tới lấy chiếc cặp nhiệt độ. Câu chuyện dừng lại vì sau đó người ta yêu cầu anh đi ra cho Miên ăn chiều và nghỉ ngơi. Chị cần một giấc ngủ sâu trước ca mổ. Hoan nhớ lại cuộc đối thoại. Anh không hiểu vì sao trước phút hiểm nghèo Miên chẳng hề lo tới sinh mạng chính chị hay của đứa con trai mà chỉ băn khoăn vì hai ngón tay cụt và e sợ tình yêu của anh không còn nữa. Điều đó, cũng giống như chị đã xóa tội sát nhân cho Bôn bằng cách nhận lỗi táy mách nghịch súng, một thứ bịa đặt ngốc nghếch đến trẻ con cũng không tin nổi. Vậy mà tất cả đã phải lặng im nghe chị nói, lặng im chấp thuận sự dối trá ấy, trước tiên là anh kẻ bị sát hại, sau đó tới chủ tịch xã đại diện chính quyền rồi ông trưởng phường, vị trưởng lão trong nghề săn Xóm Núi... Tất cả. Không ai dám bẻ lại thứ lý lẽ ngô nghê của người đàn bà:
Người đàn bà là một thế giới bí ẩn. Không sao hiểu nổi. Họ không để tâm tới sự hợp lý theo lẽ thường mà nghe theo sự chỉ bảo của con tim. Và vì thế chẳng bao giờ đàn ông theo kịp... có lẽ người đàn bà sáng suốt hơn đàn ông chính ở nơi u tối nhất trong tâm hồn họ, nơi lý trí không làm việc và sự linh cảm giương lên những cần ăng-ten vô ảnh vô hình nhưng hữu năng.
Hoan nghĩ. Anh lần mối sự việc: Bôn tới nhà Xá chột mượn súng, anh chàng này đưa súng cho bạn mượn một cách sốt sắng rồi cưỡi xe máy xuống chợ huyện mua đồ ăn cho vợ. Lát sau, cô Soan thức dậy vô tình hỏi chuyện thằng cu lớn mới biết sự việc. Người đàn bà vừa đẻ dậy ấy ngửi ra mùi nguy hiểm, không kịp chải tóc bịt khăn chạy xổ đến báo tin cho Miên. Rồi Miên, cũng chẳng kịp thay xống áo chẳng kịp gọi ông Lư đã chạy tắt qua các nương tiêu, nương cà-phê để kịp đón bắt Bôn và chụp lấy cây súng vào khoảnh khắc nó sắp sửa ghim một viên đạn vào đầu anh. Không chút dữ kiện nào để đoán biết sự thật, ngoại trừ sự linh cảm. Vì lý do nào mà hai người đàn bà ở những hoàn cảnh rất khác nhau kia có cùng một suy đoán, một ý nghĩ? Anh không hiểu nổi. Nhưng anh biết Miên sẵn lòng hy sinh chính sinh mạng của chị để cứu sống anh. Và vì lẽ đó, anh đã chiều theo bất cứ ý muốn nào của chị:
Em muốn tôi tha bổng cho Bôn, tôi sẵn sàng tuân lệnh em như một tín đồ tuân theo giáo chủ... Nhưng liệu em có hiểu rằng điều đó sẽ nuôi dưỡng lâu dài mối hiểm họa, và cuộc sống tương lai của chúng ta bị đặt trong trạng thái bất toàn?
Chị đã nắm chặt tay anh, làn môi nhợt khẽ nhếch lên thì thầm:
- Bỏ qua chuyện này đi anh... Vì em, xin anh hãy bỏ qua...
Nếu như tôi không bỏ qua chuyện này, chính quyền sẽ thi hành phận sự. Bôn phải vào tù nếu anh ta được coi như một người bình thường, trong trường hợp thứ hai, anh ta sẽ bị nhốt vào bệnh viện dành riêng cho những con bệnh thần kinh, Hoan biết quá rõ những bệnh viện loại ấy. Nơi đó, con bệnh bị nhốt như cầm thú trong những căn phòng có các song sắt lớn rào chắn, họ ngủ trên những bậc thềm xi-măng rải chiếu, ăn trong những chiếc bát nhựa lớn và cơm canh đổ lẫn lộn như một thứ cám lợn. Các con bệnh khác phái thường lén lút quan hệ dục tình khi họ mang thai người ta phải trói lại để trục cái thai đó ra vì e đứa trẻ ra đời cũng sẽ mất trí hoặc tiên thiên bất túc.
Ở đó bệnh nhân rất hãn hữu được chữa khỏi. Thường họ nặng thêm lên và xét về phương diện thực tiễn, các viện tâm thần chỉ là những trại giam để cách ly người bệnh với xã hội, để hạn chế ảnh hưởng của họ. Trong cái không gian tù túng ấy, họ hành hạ những người thầy thuốc và đám nhân viên có nhiệm vụ coi sóc họ rồi lại bị chính đám người ấy hành hạ trở lại. Những con người khốn khổ, buộc phải lãnh công việc vừa hiểm nguy vừa buồn chán nhưng lại lãnh một đồng lương tồi tàn đến mức lòng từ thiện bị thui chột trong tâm hồn họ trở thành liều độc dược đầy đọa chính bản thân họ và đám người bất hạnh chịu sự coi giữ của họ. Giữ những bức tường thô bỉ, bẩn thỉu sơn quét lem nhem các cửa sổ và cửa chính đều kết song sắt như chuồng giam thú dữ, những cơn điên bị kích thích theo chiều hướng tồi tệ càng ngày càng tái phát dày đặc hơn, những hành vi phá hoại hoặc gây tội ác càng ngày càng tăng thêm sự man rợ khốc liệt, và tất thảy mau chóng đưa người bệnh tới cái chết.
Anh biết rất rõ điều này. Miên biết rõ cũng như anh. Dù Bôn ngồi tù hay bị nhốt trong viện tâm thần anh ta cũng sẽ đi đến nghĩa địa một cách chóng vánh. Bởi thế, Miên đã tìm cách gỡ tội cho Bôn.
Hành động ấy bởi lương tâm hay do chút ái tình rơi sót? Ta đã không nỡ hỏi Miên và sẽ chẳng bao giờ đủ can đảm hỏi Miên điều ấy...
Hoan bất giác thở dài. Anh rút tiếp điếu thuốc khác. Người đàn ông ngồi đối diện phía bên kia hành lang lục trong túi áo một điếu thuốc Hoa Mai Đà Lạt nhàu nát vuốt cho thẳng rồi tới gần Hoan xin lửa:
- Anh cũng chờ vợ đẻ như tôi?
Người đàn ông gợi chuyện, anh ta có một chiếc răng khểnh nên hàm răng ố khói thuốc chợt mang chút duyên thầm.
Hoan gật đầu hỏi lại:
- Anh tới đây lần đầu?
- Không.
Anh ta đáp tức khắc, đoạn rít mấy hơi thuốc liền rồi mới nói tiếp:
- Đây là bản tình ca thứ hai, người anh em ạ.
Bản tình ca thứ hai, anh ta lãng mạn thật. Trông bộ dạng như xã trưởng miền núi, vậy mà ăn nói văn hoa ra trò...
Hoan lặng lẽ mỉm cười, búng tàn thuốc ra ngoài trời. Người đàn ông kia cũng cười, và nói tiếp:
- Anh cười tôi ngót ngét năm mươi còn ăn nói lẳng lơ, có đúng không?
Dứt câu, anh ta phá ra cười, giọng cười ròn rã nửa ngạo nghễ nửa chua chát. Lúc đó Hoan mới thấy những nếp nhăn trên hai gò má và nơi đuôi mắt người nói chuyện. Anh ta tới tuổi năm mươi thật. Tóc hai bên thái dương và mang tai đã ngả muối tiêu. Hết cơn cười, anh ta cao giọng đọc một câu thơ hài hước quen thuộc, rõ ra điệu thách thức:
- Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn
Chính chuyên thì cũng chẳng son mà thờ...
Cổ nhân đã dạy rồi, chúng ta chẳng sáng tạo được gì thêm... Mà nói cho chính xác, cứ sống được như người xưa dạy cũng đã bạc tóc.
Hoan bắt đầu có thiện cảm với anh ta. Sau cái vẻ chuyện trò bả lả, sau cái cười cao ngạo kia có cái gì đó giống như sự cay đắng, giống như một lời than, giống như sự trách móc hờn oán số phận. Hoan bảo:
- Anh nói hay lắm.
- Không phải tôi nói hay mà cuộc đời này lắm chuyện hay. Anh ta đáp.
Hoan cười:
- Vậy thì anh nói đi... Tôi đang cần giết thời gian và anh cũng vậy. Vợ anh đã vào phòng hộ sinh chưa?
- Không. Vợ tôi đang chờ lên bàn mổ. Viện chỉ có một phòng phẫu thôi. Hiện một sản phụ khác đang nằm trong đó. Nghe nói đấy là một người đàn bà rất đẹp và có cuộc đời tình ái ly kỳ.
Tôi và em, chúng ta bắt đầu trở thành những nhân vật để người đời đàm tiếu rồi đấy...
Hoan nghĩ với một chút chua chát, hai mang tai và cổ nóng lên. Nhưng anh vờ nhìn người nói chuyện với cặp mắt ngạc nhiên:
- Thế à? Chuyện gì mà ly kỳ như vậy?
Ngay lúc đó, bà hộ lý rỗ mặt chạy lặc lè tới:
- Này ông, bà nhà đẻ con trai. Thằng bé hai cân bảy kháu khỉnh ra trò... Nhưng bây giờ ông chưa vào được. Bác sĩ gây mê hồi sức đang làm việc. Con ông được đưa xuống phòng kính rồi.
- Cảm ơn bà.
Hoan nói. Bà ta quay lưng đi, vẻ thỏa mãn như đã trả xong món tiền hậu hĩnh nhận của anh chiều qua. Người đàn ông tóc muối tiêu nhìn Hoan:
- Vậy chính anh là người trong chuyện? Xin lỗi, tôi không ngờ.
- Anh không cần xin lỗi. Chuyện lạ nào chẳng kích thích trí tò mò. Đó cũng là sự thường tình...
- Không...
Người đàn ông chợt gằn giọng:
- Không, không... Đó là chuyện thường tình nhưng cũng chẳng thường tình. Trí tò mò không vô tội như anh nói. Bởi nó luôn đi kèm những định kiến và sự ác độc. Nhiều khi nó giết chết một con người, một tình yêu, phá nát một gia đình mà không phải đứng trước vành móng ngựa, không phải ngồi tù, cũng không có cái mặt dầy để thế gian phỉ nhổ... Cái gọi là trí tò mò, là dư luận, là lời đàm tiếu của đám đông thường vô ảnh vô hình nhưng khủng khiếp. Tôi đã từng là nạn nhân của chúng. Tôi đã từng là nhân vật trong một câu chuyện ly kỳ như anh ngày hôm nay... Vì thế, tôi thành thật xin lỗi anh...
Anh ta nói với vẻ nghiêm trang bất thường và những nếp nhăn khắc khổ hiện lên hai bên mép. Cặp mắt anh bỗng dưng mờ tối, vầng trán cau lại và cả gương mặt như xỉn lại, sạm đi khiến vẻ già nua tàn héo hiện hình. Hoan lúng túng. Anh không có thói quen tâm sự, chia sẻ tâm tình với ai, nhất là với một người vừa quen biết. Anh cũng không có tài an ủi hay khích lệ kẻ khác. Cái người đàn ông cợt cười lúc trước bỗng biến thành kẻ sầu muộn cay độc khiến anh bối rối thêm. Ấp úng mãi, anh mới cất nổi lời:
- Thôi, thôi... Chẳng có điều gì quan trọng đâu... Cái quan trọng là...
May mắn cho anh chính lúc đó bà hộ lý xuất hiện ở cuối hành lang, giơ tay vẫy. Hoan bảo:
- Tôi phải đi...
Anh ta tiếp luôn:
- Vợ anh xong xuôi rồi hả? Vậy thì đến lượt vợ tôi... Tôi cũng phải đi.
Nói rồi anh ta theo Hoan rảo bước tới phòng mổ và phòng hồi sức hậu phẫu. Bà hộ lý đưa Hoan vào căn phòng dành riêng cho Miên. Một phòng nhỏ xíu cỡ tám thước vuông kê hai chiếc giường sắt sơn trắng có đệm với một bàn nhỏ ở giữa. Các sản phụ khác phải nằm chung, cứ tám đến mười hai người trong một buồng. Anh đã trả một khoản viện phí khá lớn để Miên được xếp một mình trong gian phòng tám thước vuông này. Bà hộ lý chỉ:
- Đêm nay ông có thể nằm lại đây để trông bà nhà.
- Cảm ơn...
Anh đáp và bước lại nơi Miên nằm với đứa con trai. Chị thiêm thiếp ngủ. Thằng bé nằm cạnh mẹ, bọc trong lớp tã trắng giống một cái kén lớn. Nó mở hé mắt nhìn Hoan. Một cái nhìn điềm tĩnh, bình thản, đầy tình bạn hữu:
- Cậu đấy à? Cậu chờ tớ có lâu lắm không? Đừng lo lắng, tớ chẳng đến nỗi nào và mẹ Miên cũng vậy. Mẹ con tớ đều là những kẻ rắn mặt, mạng số rất cao...
Con trai nói thầm vào tai anh như thế. Nói xong nó nhếch mép như muốn cười. Cái nhếch mép đầy ngạo nghễ. Cặp mi nhỏ chớp chớp. Cách chớp mắt đó cũng mang dáng vẻ của kẻ trưởng thành. Hoan sững sờ. Đứa bé hoàn toàn khác anh trai nó. Ngày sinh cu Hạnh, anh cũng đã vào chào đứa con ngay lúc nó rời phòng hộ sinh, và anh đã gặp một đứa bé sơ sinh như mọi đứa trẻ sơ sinh khác. Cu Hạnh nặng ba cân sáu da mặt đỏ ửng, có những nếp nhăn nhỏ trên trán, mũi lốm đốm trắng vì thai già ngày, nhưng cái nhìn và mọi cử chỉ của nó đều là cái nhìn và cử chỉ của một đứa trẻ lọt lòng, ngỡ ngàng, non nớt thậm chí hơi ngờ ngẩn... Còn thằng bé này, dù là thai đẻ non, nó có vẻ như một cụ già thu nhỏ, vẻ như tất thảy cuộc sống ở thế gian này nó đã thuộc lòng và giờ đây nó quay lại để sống thêm một lần thứ hai, gặp lại những gương mặt từng quen biết, đi lại những ngả đường đã mòn nhẵn gót chân, nhìn lại những phong cảnh không còn gì mới lạ...
- Chưa thấy đứa bé nào bảy tháng tuổi mà già dặn như con trai ông. Vừa lọt qua cửa sinh nó đã hét lên như còi. Xuống phòng thở ô-xy chưa đầy nửa tiếng nó đã quẫy như cá chuối... Thằng này lớn lên có trời trị...
Bà hộ lý cất tiếng sau lưng Hoan. Anh quay lại:
- Những đứa trẻ khác bảy tháng thường nặng bao nhiêu? Tôi sợ thằng bé này nhỏ quá...
- Không đâu. Những đứa trẻ đẻ non như con ông thường chỉ nặng hai cân mốt, hai cân hai. Nhiều lắm mới nổi hai cân rưỡi. Thằng bé này là vô địch. Không chỉ vì trọng lượng mà còn vì nó cứng cỏi khác thường.
Bà hộ lý đáp, chừng như sợ Hoan còn nghi ngại bà ta nói thêm trước lúc đi ra:
- Tôi làm việc ở đây ngót hai mươi lăm năm. Tôi không nói để lấy lòng ông đâu.
Hoan cúi xuống ngửi mùi da thịt đứa trẻ. Nó cũng thơm như da thịt cu Hạnh ngày trước. Mũi Hoan chạm vào mặt thằng bé, hơi thở ấm và nhẹ của nó phả một chút lay động bên má anh. Từ nơi đó, nỗi xao xuyến lan tỏa:
Con của cha, dẫu sao con cũng đã có mặt trên cõi đời. Và sự hiện diện của con đem lại cho ta sức mạnh. Con không chỉ là đứa con trai, con chính là bạn, là kẻ đồng hành, là người ta được quyền nương tựa. Bởi con đã ra đời trong nghịch cảnh, giống trái chín giữa mùa giông bão, con biết bám chặt thân cành biết đùa cợt với gió mưa...
Thằng bé vẫn nhìn anh, cái nhìn đầy vẻ hài lòng. Hoan đưa ngón tay út nhẹ nhàng rờ quanh khuôn mặt nhỏ xíu của nó, vờn qua hai gờ lông mày, chạy dọc theo sống mũi xuống bờ môi trên. Thằng bé hoàn toàn giống anh, giống như bản sao. Tất thảy mọi đường nét. Điều này cũng khác với cu Hạnh, bởi cu Hạnh là sự hòa trộn giữa hai gương mặt, hai làn da và hai mầu tóc. Hoan nhớ hồi có thai được bốn tháng, Miên bảo anh:
- Thằng bé này sẽ giống anh như lột.
Hoan hỏi:
- Sao em biết được?
- Em biết, vì em là mẹ nó.
Chị đáp gọn lỏn và sau đó bắt tay vào việc gì đó khiến anh không thể hỏi thêm. Một ngày khác chị lại bảo:
- Em sẽ đặt tên con là Hùng.
- Tại sao?
- Em thích thế.
- Đừng làm anh hùng, anh hùng chẳng sung sướng đâu em.
- Nhưng đứa bé này phải đặt tên là Hùng. Không anh hùng, làm sao nó chào đời?
- Em không muốn con mình sung sướng hay sao?
- Em muốn... Nhưng mỗi người một phận. Ngày mình có thai cu Hạnh khác... Và giờ đây...
Miên không nói hết câu nhưng anh hiểu rõ điều chị muốn nói:
Vậy giờ đây ta sẽ đặt tên con là Hùng, đúng ý muốn của mẹ con. Và như vậy, chính con sẽ là cột trụ người phải gánh vác gia đình dòng tộc khi con trưởng thành...
Thằng bé chớp chớp mắt rồi lại nhìn anh, vẫn cái nhìn bình thản, an nhiên cũ. Vì hai tay còn bị bó chặt trong lớp tã hệt như cái bọc kén trắng tinh nên nó chỉ còn lại duy nhất phương tiện biểu cảm là gương mặt. Hoan ngạc nhiên vì từng đường nét, từng thớ thịt nhỏ xíu mong manh trên gương mặt ấy lại có thể truyền cảm một cách tinh vi nhạy bén đến thế. Hoặc vì anh quá xúc động nên hoang tưởng, hoặc vì nó là một trẻ sơ sinh phi phàm nên ý nghĩ của anh vừa chấm hết, hai mép nhỏ xíu đỏ hồng của nó nhích lên nhích xuống mấy lượt và đôi mắt vừa ngạo nghễ vừa vui tươi của nó cất tiếng:
Yên tâm đi hỡi anh bạn khổng lồ, tớ biết phận của tớ rồi. Mai đây tớ sẽ gánh tất tật những gánh nặng đời trút lên vai tớ. Hãy an hưởng hạnh phúc cho đến tận ngày bạc tóc răng long...
Mắt nó lại chớp. Cái chớp mắt ấy thay cho lời nói cuối, tràn ngập niềm tin và khoan dung...
Không lẽ mình điên. Hoặc mình tưởng tượng ra mọi sự?
Hoan kinh ngạc thầm hỏi. Nhưng rồi một tiếng nói khác cất lên:
Cứ cho là tưởng tượng đi, thứ tưởng tượng đó không mảy may xúc phạm đến sự thật. Bởi trong suốt quãng thời gian đã sống ta chưa từng rơi vào cơn rối loạn và trạng thái hoang tưởng. Rõ ràng những ý nghĩ bột phát trong ta là do nó gợi lên. Con trai ta, cái gã trượng phu tí hon này...
Một niềm kiêu hãnh ào tới, ngập tràn tâm hồn người cha và bỗng dưng nó khiến anh cay xè con mắt. Hoan chợt xấu hổ với chính mình. Anh lấy chiếc chăn len nhỏ chặn thêm cho đứa con dù người ta đã đặt nó nằm phía bên trong Miên, sát mé tường. Xong rồi, anh khép cánh cửa phòng ra hành lang. Ở đó, tìm một góc vắng anh tiếp tục đốt thuốc. Thuốc lá... cái thứ thói quen phiền toái này bỗng trở nên phương tiện hữu hiệu giúp anh giải thoát những cơn bối rối. Ngoài trời mưa bụi vẫn bay. Hoan đưa mắt tìm khóm mai, chúng đã chìm ngập dưới bụi nước. Dọc hành lang những y tá hộ lý và người nhà bệnh nhân lẫn người nhà sản phụ vẫn đi lại, mỗi người theo đuổi công việc và mục đích của mình. Hoan nhìn vào mặt họ, chợt nhận ra con người thật cô đơn. Mặt đất đông đúc, xã hội loài người không khác bao nhiêu xã hội loài kiến nhưng loài kiến sung sướng hơn họ bởi chúng
không cần chia sẻ tâm tình. Con người khốn khổ hơn con kiến vì suốt cuộc đời của họ, họ không thoát khỏi ước muốn tìm thấy kẻ đồng hành, cuộc tìm kiếm đó thường là cuộc tìm kiếm vô vọng:
Con chính là kẻ đồng hành của cha, con trai yêu dấu...
Anh nghĩ, với một niềm hạnh phúc lạ lùng, một hạnh phúc không chờ đón khiến con tim ngây ngất. Nào ai ngờ cái thằng bé tí ti kia lại gợi nên nơi anh cảm thức kỳ diệu ấy. Anh trai nó chỉ là một đứa con, kêu gọi nơi người cha sự chở che và tình âu yếm. Cái thằng bé này ngược lại, nó đã bước vọt qua cái ngưỡng đó, nó gợi nơi anh cảm thức kẻ đồng hành và ngay từ cái nhìn đầu tiên, nó che chở, nó dìu đỡ anh...
Hành lang chợt nhốn nháo:
- Nào, dẹp ra, dẹp ra cho xe đi.... Mọi người dẹp ra...
Tiếng quát của một người đàn ông vang lên, Hoan quay lại: từ phía đầu hành lang bốn y tá đẩy cỗ xe chuyển bệnh nhân tới phòng mổ. Trong bốn người ấy, y tá nam duy nhất luôn mồm hét:
- Dẹp ra, dẹp ra cho chúng tôi nhờ...
Sau xe, một người béo lùn mặc bờ-lu chụp mũ trắng bước đủng đỉnh. Hoan nhận ra ông ta. Đó là một trong hai bác sĩ phẫu thuật giỏi nhất bệnh viện, người ta đã mách Hoan khi anh lo ca mổ cho vợ mình. Người số một là ông già ngót sáu mươi, cao gầy, tóc cắt trụi, râu cạo nhẵn, gương mặt đầy cao ngạo. Ông bác sĩ béo lùn này chính là nhân vật số hai. Hẳn ông ta nhận mổ cho vợ người đàn ông tóc hoa râm đã nói chuyện với anh lúc trước:
Trông bộ dạng túng bấn như vậy, làm sao anh ta đủ tiền phong bao cho cả đám người trong bệnh viện này?
Một khi người nhà bệnh nhân không lo đủ các thủ tục tài chánh, thân nhân họ ắt rơi vào vòng quay đen đủi, phần nhiều sẽ được dùng làm ca thử nghiệm cho tay nghề của đám bác sĩ mới ra trường hoặc của các thực tập sinh. Đồng tiền quan trọng thật, không trách nhân gian điên đảo vì nó...
Chiếc xe lăn qua mặt Hoan, ông bác sĩ béo lùn đưa mắt nhìn anh hờ hững. Hoan mỉm cười. Tối qua khi anh tới nhà riêng ông ta, bộ mặt tròn vo kia đã nở ra, cặp môi đầy nhục cảm cười nụ cười thân thiện khi anh đặt món quà sang trọng lên mặt chiếc tủ chè. Vợ ông ta, một người đàn bà lùn tròn quay như chồng bưng tới trước mặt anh tách chè pha vội và sau khi lên tiếng mời anh uống trà bằng một giọng quá ư mềm mỏng cũng nở nụ cười đầy tình thân mến...
Đó là cuộc đời...
Hoan búng tàn thuốc nghĩ tới người đàn ông tóc muối tiêu. Những lời lẽ văn hoa chua chát, điệu cười khinh mạn và cay độc, làn da tàn héo phong trần... Tất thảy ẩn giấu một bí mật nào đó, một nỗi buồn đã quá quen thuộc với nhân gian nhưng họ vẫn không sao chịu thấu:
Anh ta là ai nhỉ? Cái gã đàn ông có tâm hồn dịu dàng đã nhầu nát. Ta đoan chắc như vậy...
Hoan không phải chờ lâu. Gã đàn ông anh vừa đoan chắc có tâm hồn dịu dàng đã nhầu nát đó đang tiến đến trước mặt anh, sau cỗ xe chừng mươi thước. Đi sau anh ta quãng mươi thước là bà hộ lý mặt rỗ, tay vung vẩy một cái túi nhỏ bằng plastic lòe loẹt. Người đàn ông chăm chắm nhìn vào tấm lưng của ông bác sĩ béo lùn, anh ta đi qua mặt Hoan mà không nhìn thấy anh. Vẻ căng thẳng hiện lên từng nét nhăn nhỏ quanh mép, trên gò má. Hai món tóc bên thái dương bị vò rối, xác xơ. Chiếc sơ-mi nhàu nát lòi ra khỏi thắt lưng quần, hẳn anh ta đã qua đêm trên chiếc ghế băng hẹp kê dọc hành lang:
Tội nghiệp...
Anh nghĩ, và không hiểu vì sao gã đàn ông vừa quen biết kia gợi cho anh một hình ảnh thật sắc nét thật tiêu biểu về kiếp người. Bà hộ lý đã tới trước mặt anh, nở nụ cười cầu tài nhàm chán:
- Ông không chờ bà nhà tỉnh giấc hay sao?
Hoan lắc đầu:
- Tôi muốn vợ tôi được ngủ.
Bà nặc nô hỏi tiếp:
- Thằng bé vẫn thức chơi một mình à?
Hoan bảo:
- Có lẽ lúc này nó ngủ rồi.
Bà ta lắc đầu:
- Không đâu. Nó đã ngủ đẫy giấc. Mấy cô dưới phòng kính bảo con trai ông ít ngủ hơn trẻ sơ sinh khác, nó tỉnh như ông già.
Hoan ậm ờ, nhìn những múi thịt nhúc nhích trên bộ mặt phàm tục của mụ già, và bỗng dưng, anh không ghìm được cơn tò mò, một thói xấu trước đây chưa từng có:
- Này...
- Ông hỏi gì cơ?
- Vợ người đàn ông gày gò mặc áo xám kia sắp lên bàn mổ?
- Phải. Xương hông cô ta hẹp quá và huyết áp thấp dưới chỉ số bình thường. Đẻ lần đầu mà khốn khổ như vậy.
- Họ là người ở đâu tới đây?
Mụ nặc nô bỗng giương đôi mắt tròn xoe nhìn Hoan:
- Ông không biết gì sao? Ông ta là thầy giáo Thông, thầy dạy Lịch Sử giỏi nhất trường cấp ba thành phố.
- Tôi không biết. Có lẽ ông ta tới đây sau năm tôi đã nhận bằng tốt nghiệp.
- Phải, phải...
Mụ già gật đầu lia lịa rồi tiếp tục mở máy:
- Ông ta dạy Sử, vợ dạy Sinh Vật. Họ từ ngoài Bắc chuyển vào trước năm chiến tranh. Hai người có ba con trai. Họ được nhà trường và học sinh rất trọng nể vì dạy giỏi. Nghe đâu có lần đích thân bí thư tỉnh tới tặng quà... Rồi sau năm giải phóng miền Nam, ông ta bỗng dưng bị một con học sinh bỏ bùa chài. Ông ta nhất định bỏ vợ con đi theo nó. Con bé kia cũng vậy, bố mẹ anh em chửi rủa đánh như bổ củi nhưng dứt khoát không chịu bỏ ông ta... Đấy, kết cục là như thế: Ông ta bị buộc thôi việc phải rời thành phố đến huyện Sơn Quảng làm nghề nhuộm quần áo. Cô vợ đẻ khó nên mới thuê xe về. Ngu dại quá. Đang là người sang cả được trọng vọng bỗng dưng trở thành đồ tiểu tốt vô danh, rách như tổ đỉa...
Nói tới đó bà ta chìa cái túi plastic cho Hoan xem:
- Đây, anh ta dúi cái gói bánh chó nhà này vào tay tôi. Chẳng nhẽ lại quẳng ra vỉa hè?
Hoan nhìn bộ mặt cong cớn và tàn nhẫn đó, mỉm cười, nhớ câu nói cửa miệng của ông giáo Huy:
- Đời là thế...
Đời là thế,... đời là thế...
Bỗng dưng lời nói đó lặp đi lặp lại trong óc não anh. Bầu trời bên ngoài như mịt mù hơn, rộng rênh và lạnh lẽo. Khóm mã vĩ đỏ trồng ven hành lang được mưa rửa sạch bóng từng chiếc lá giống thứ cây cảnh làm bằng gốm đỏ. Màu đỏ của nó không sưởi ấm không gian mà ngược lại, chút lửa giả hiệu kia gợi nên cảm giác bất an cho cuộc đời.
Nếu tôi không tuân lệnh em, nếu tôi đẩy Bôn vào một nhà tù hoặc một viện tâm thần? Hẳn lương tâm em sẽ bị dầy vò và đó là chất độc dược hủy hoại tình yêu của chúng ta, hủy hoại cuộc sống chung phía trước...
Tôi tuân lệnh em, tương lai chúng ta đặt trong thách thức hiểm nghèo.
Vậy hạnh phúc chỉ là một món hàng trong tiệm cầm đồ, người ta phải chuộc nó bằng một nỗi khổ đau chọn lựa. Cũng giống như trước kia, tôi chấp thuận nhục nhã đặt chân tới ổ điếm để tránh cơn hành hạ dục tình. Giờ tôi chọn sự bất an để khỏi đương đầu với mặc cảm tội lỗi. Đến hôm nay tôi mới hiểu con người mơ tưởng và tìm kiếm sự hoàn thiện chính bởi nó khuyết diện trên cõi đời...
Hoan đốt điếu thuốc khác và đột nhiên một giả thuyết nảy sinh:
Nếu Miên là người hành động quyết liệt chỉ để bảo vệ lợi ích và cuộc sống bản thân? Nếu chị không yêu cầu anh tha thứ cho Bôn mà thúc giục anh tống người đàn ông khốn khổ kia vào tù hoặc vào viện tâm thần, diệt trừ tới gốc rễ mối hiểm họa cho cuộc sống lứa đôi của họ, liệu anh có còn yêu mê chị như giờ đây hay không?
Hoan không biết. Cũng không giám trả lời. Anh hiểu lòng người quanh co, tình đời oái oăm và bất trắc. Tất cả những gì từng trải nghiệm đã dạy anh như thế. Anh biết anh thuần phục Miên bởi người đàn bà nhỏ bé ấy đầy sức mạnh. Chị chỉ nghe theo lương tri mình và sẵn sàng trả giá điều đã chọn. Anh cũng biết con người có thể vượt được ngục tù trên cõi đất, nhưng không thể vượt được ngục tù trong tâm hồn mình. Họ có thể đạp đổ mọi pháp đình trần thế nhưng sẽ không bao giờ đạp được pháp đình do chính họ xây cất trong tim. Anh biết. Anh biết rất rõ. Nhưng từ cõi sâu kín trong anh, vẫn vọng vang một lời than câm nín:
Vì sao, và vì sao?
Anh nhìn thấy một chân trời mong manh trong cơn mưa bụi bên ngoài, nơi đường phân cắt giữa cái sống và cái chết hạnh phúc và bất hạnh của con người vừa đủ như sợi tơ nhện phập phồng trước gió. Phải chăng vì sự bất an mà con người cô đơn sợ hãi và họ có nhu cầu thường trực tìm kiếm kẻ đồng hành?
Vậy ta đã có trong tay cái vưu vật mọi người thèm muốn. Con trai ơi, hãy mau khôn lớn, bởi chính cha sẽ tạo ra lịch sử của con, con hoàn toàn thuộc về cha, con không có nợ nần trong quá vãng. Con sẽ đồng hành với cha tới lúc xuống mồ...
Anh tưởng chừng chỉ vài ba tuần lễ nữa thằng bé đã lên năm, lên bảy. Anh sẽ đặt nó ngồi trước yên xe máy, trong chiếc ghế mây. Hai cha con sẽ cùng đi thăm các nương vườn, cùng xuống thành phố vào các quán cà-phê và các tiệm ăn lớn. Anh sẽ đặt nó ngồi đối diện với anh, sẽ chuyện trò với nó như với người bạn tâm tình ngang tuổi tác và nghiệm sinh, tin cậy và bình đẳng hơn bất cứ mối quan hệ nào từng có:
Không phải cha đối xử bình đẳng với con mà chính con tự giành lấy quyền bình đẳng ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên... Con không chỉ là kẻ đồng hành lý tưởng mà còn là đấng nam nhi mạnh mẽ chở che ta. Chính con, người chở che chứ không phải kẻ cần che chở...
Hoan bất chợt thấy anh nhỏ dại, nhỏ dại, mềm yếu bên cạnh đứa con trai bé tí ti kia, đứa trẻ đẻ thiếu tháng nặng hai cân bảy. Anh thấy anh vững tin, được che chở và được an ủi khi nó có mặt trên cõi đời. Rồi mơ màng, anh tưởng thấy gã anh hùng tí hon kia đang cùng anh cưỡi xe máy phóng đi khắp nơi. Mái tóc mềm của nó cọ vào cằm anh, mùi thơm thơ dại từ da thịt tóc tơ nó tỏa lên làm anh ngây ngất. Anh thấy bàn tay bé xíu của nó giơ lên, xoa cái cằm đầy râu của mình... Anh ném đót thuốc, mỉm cười và trở lại căn phòng tám thước vuông, nơi kẻ bảo trợ cho anh vừa ra đời. Nụ cười sung sướng không rời khỏi môi anh, anh bước qua hành lang mà chẳng để tâm tới những cặp mắt tò mò nghi hoặc đuổi theo mình...
Vào lúc đó, ở Xóm Núi, Bôn cũng đang cười sung sướng. Mưa giăng trên nghĩa địa. Mưa che phủ, vây bọc anh. Không ánh mắt tọc mạch của lũ trẻ, không những lời hỏi thăm ấm ớ nhạt nhẽo của mấy gã chăn dê chăn bò. Một mình anh, yên tĩnh và thanh thản.
Nước lạnh thấm vào tóc, vào da thật dễ chịu. Nước dập tắt ngọn lửa cuồng nộ thường bốc cháy phần phật và gào rú trong anh bất cứ lúc nào nó muốn, không thể kiểm soát. Lớp bụi nước trắng bay là là xiên nghiêng kia đẹp làm sao, nó gợi nhớ cơn mưa thời trai trẻ, gợi tiếng cười rúc rích của đám thiếu nữ với dải đồi long lanh sương. Có một loài cỏ giống cỏ lau tên gọi cỏ đuôi chồn, bông cỏ trông như triệu triệu hạt mưa bụi trắng tinh kết lại. Ước gì anh được là mưa. Anh chảy trên lá cỏ trên khóe môi, giữa hai bầu vú đàn bà, chảy qua rốn xuống tận nơi thầm kín của họ. Ước gì anh vẫn còn trai trẻ chơi trò nhảy tưng tưng, vừa nhảy vừa lấy tay gãy con giống dựng ngược như gãy dây đàn, cái trò bọn lính động cỡn thường chơi vào thời kỳ được nghỉ chờ chiến dịch mới. Ước gì anh có phép lạ nhảy một bước lên tới ngọn cây cao và đong đưa trên đó như con diều... Nhưng ước với ao làm gì, thứ trò vớ vẩn. Tiểu đội trưởng đã đến đây từ lúc nào chẳng rõ, đứng sau lưng anh. Bôn cười ngượng nghịu:
- Em hay nghĩ ấm ớ... Toàn những chuyện chẳng ra gì.
Tiểu đội trưởng ngồi xuống bên anh, nói:
- Mưa đẹp quá... Hệt mưa xuân ngoài Bắc.
Bôn hỏi:
- Quê anh cũng có mưa bụi như ở đây?
Tiểu đội trưởng gật đầu:
- Như đây và còn đẹp hơn ở đây. Ngoài Bắc trời rét, mưa nhẹ bổng phất phới bay trên các khuôn viên các vườn đào. Cứ lên Quảng Bá, Nhật Tân là sa lầy vào cánh đồng hoa đào, không tìm được lối ra.
Nói đoạn anh im lặng, vẻ xa xăm. Hẳn anh ấy đang mơ những vườn đào Nhật Tân, Quảng Bá.
Bôn không dám hỏi gì thêm, chỉ đưa tay quàng qua lưng tiểu đội trưởng. Lát sau, anh ấy bảo:
- Cậu còn thuốc không? Trời này hút một điếu thuốc thật tuyệt.
Bôn móc túi:
- Em còn cả bao nguyên.
Anh đưa cho tiểu đội trưởng. Những ngón tay xương xẩu trong suốt của anh ấy gỡ một cách khéo léo lớp giấy bọc ngoài rồi xé góc bao:
- Cậu rút trước đi.
- Em không dám, nhường anh.
- Lễ phép cái con khỉ. Rút ra mau kẻo mưa làm ẩm thuốc bây giờ. Nào, được chưa? Lấy bật lửa ra... Được, chờ tôi bỏ mũ xuống che đã...
Tiểu đội trưởng ngả mũ xuống che cho Bôn châm lửa. Sau đó, tới lượt anh.
Anh ấy châm lửa với cùng một động tác như xưa, đầu nghiêng nghiêng bàn tay áp lên vành mũ...
Bôn thầm nghĩ. Người chết không bao giờ thay đổi thói quen kể cả những cử chỉ sinh hoạt nhỏ nhặt. Ngọn lửa vọt lên trên những ngón tay trong suốt, lơ lửng, nửa trắng bạc nửa xanh, lắt leo giữa lớp bụi mưa và hơi gió thoảng.
- Được chưa anh?
- Được rồi. Tắt lửa đi... À, cho tôi cái bật lửa này. Thỉnh thoảng muốn hút thuốc lại phải đi xin lửa.
- Anh cầm lấy mà dùng.
Bôn đáp và tiếp tục nhìn tiểu đội trưởng.
Anh ấy nhét chiếc bật lửa vào túi quần cũng với cùng một động tác cũ.
Sau khi thả chiếc bật lửa, anh giơ tay vuốt thẳng mép túi. Chiếc quần của tiểu đội trưởng mỏng tang như dệt bằng sợi dứa ma, thứ dứa dại chỉ mọc ngoài nghĩa địa. Bôn định hỏi tiểu đội trưởng vì sao không mặc quân phục mới nhưng anh chưa kịp lên tiếng tiểu đội trưởng đã nghiêng đầu lắng nghe rồi hỏi:
- Lạ thật, trời đang mưa bụi sao vẫn nghe tiếng gió hú?
- Dạ, có lẽ gió hú trong vực vọng về.
- Ờ, nghe như gió hú trên đồi A46 ở Chiềng Khan... Cậu nhớ cái chốt đó chứ?
- Dạ, em nhớ.
- Tôi vẫn thường quay lại đấy.
- Tiểu đội trưởng nhớ buổi tối thui bò dưới chân đồi không?
- Nhớ. Cậu Quang phệ làm món nước tương chấm thịt bò thui ngon tuyệt. Cậu ấy chết sau tôi hai năm rưỡi, xương vẫn ở chiến trường K.
- Quang phệ tử tế với em lắm. Lần nào trực bếp nó cũng dành cho em miếng cháy to tướng. Còn cậu Thiều, Thiều dân Thái bình, tiểu đội trưởng nhớ không?
- Nhớ.
- Hôm thủ trưởng lữ đoàn xuống ủy lạo anh em, đang nói chuyện nó tương phát rắm đánh bủm...
Hai người cùng bật cười. Bôn nhìn gương mặt tiểu đội trưởng kề sát bên anh. Làn da trong suốt, không đám nốt ruồi tụ như quần đảo trên gò má trái, không vết sẹo trứng cá nơi cằm, cũng không món tóc mai dài rậm thường uốn cong dưới trái tai...
Gương mặt tan loãng, không lông mày lông mi, miệng cười không bờ môi chỉ rõ hai hàm răng trắng...
Nhưng có hề chi? Chẳng hề chi? Đó vẫn là gương mặt gần gũi nhất với anh, thuộc về anh, cùng anh.
Phía sau gương mặt ấy, những nương tiêu nương cà-phê những xóm làng nhấp nhô cao thấp và xa hơn nữa giải đồng lúa hẹp nối tới miền cát ven biển phía Đông, tất cả với anh giờ đây là hoang mạc là chốn vắng.
Một cõi không người.


Ngày 23 tháng 11 năm 1998
Dương Thu Hương
(hết)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn