DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,492,331

Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai

Friday, August 5, 201112:00 AM(View: 28755)
Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai

Lên Côn Sơn ngẫm chuyện cụ Ức Trai


Đền chính thờ Nguyễn Trãi

Đền chính thờ Nguyễn Trãi.


Đâu tiếng người xưa vọng về


Trong khúc 'Mộng uyên ương Hồ Điệp có câu rất hay rằng: Xưa nay thế gian chỉ thấy người nay cười, có ai thấy người xưa khóc đâu....' Khi tới tuổi ngũ thập tri thiên mệnh tôi mới có dịp đến Côn Sơn – Kiếp Bạc đốt dâng cụ Ức Trai - Nguyễn Trãi nén hương.


Cũng ở tuổi 50 (vào năm 1429), sau khi Phạm Văn Xảo bị chém đầu, Trần Nguyên Hãn tự vẫn, Quan hành khiển Nguyễn Trãi bị hạ ngục một thời gian, vừa được tha, cụ khăn gói về Côn Sơn sống ẩn dật:


Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

(Côn Sơn ca)


Trong chính sử nhà Lê không nói gì đến việc Lê Thái Tổ bắt Nguyễn Trãi hạ ngục rồi tha. Nhưng trong Tang thương ngẫu lục, Dương Bá Cung đã viết: “Nguyễn Trãi từng có việc bị hạ ngục rồi lại được tha”. Hẳn là ngày về Côn Sơn, tâm trạng của cụ Nguyễn Trãi chán nản lắm chốn quan trường, mặc dù lâu lâu cụ cũng phải về Kinh đô để chầu Vua.


Đọc lại bài thơ số 125 trong Quốc Âm thi tập dường như cụ muốn nói lý do vì sao bị bắt tống giam qua câu:


Tội ai cho nấy cam danh phận

Chớ có thân sơ mới trượng phu.


Chuyện người xưa mà như mới hôm qua. Men theo lối đi lên núi, ngược dòng suối Côn Sơn, len lỏi qua những rừng thông đã già. Con suối huyền thoại từng chở bao ngậm ngùi, cảm khái nhân tình, thi hứng của một tâm hồn lớn hơn 600 năm trước về nơi bất tử. Những bậc thang thấp, xây bằng đá granit rất công phu tinh xảo, khiến bước chân người lên núi như nhanh hơn, ngắn hơn và bớt mệt nhọc.


Vừa lưng chừng dốc hiện ra một bảng chỉ dẫn: rẽ trái là đền thờ Trần Nguyên Hãn, Trần Nguyên Đán và Thanh Hư Động, hướng thẳng lên khoảng 600 bậc tam cấp (600 m) là nền nhà Nguyễn Trãi, Thạch Bàn, Bàn cờ Tiên, Am Bạch Vân...


Con suối mùa khô không tiếng nước chảy róc rách, trơ những tảng đá không vết rong rêu. Chỉ có lũ ve sầu mùa hạ lắm chuyện nhao nhao kêu lên ầm ĩ từng chập! Chí ít, năm xưa tổ tiên chúng đã từng có công hát cho cụ Ức Trai Nguyễn Trãi nghe trong những ngày hè vắng vẻ, thanh nhàn khi ngồi ở Thạch Bàn làm thơ.



Gặp hai bạn trẻ Lê Hội Thẩm và Phạm Thị Thuần, SV Trường Cao đẳng Y Hải Dương (quê Thanh Hà) đang dạo ngắm cảnh. Thật đáng trân trọng quyết tâm của hai bạn trẻ chinh phục các di tích, địa danh gắn với đại thi hào nước Việt. Nếu suối Côn Sơn có nước chảy róc rách như bản nhạc trời reo ca, lội ngược theo suối chẳng mấy chốc là lên đến Thạch Bàn. Lên tới Bàn cờ Tiên, Am Bạch Vân tha hồ ngắm nhìn trời đất bao la, quang cảnh chung quanh sẽ lòng trần thanh thản, nhẹ nhõm...


Quãng lưng chừng suối có hai tảng đá lớn, khá bằng phẳng, có tên là Thạch Bàn (Bàn đá). Thạch Bàn lớn thường gọi là hòn đá trăm gian - một di tích hay được nhắc đến trong thơ văn cổ. Tương truyền, cụ Nguyễn Trãi thường ngồi đây ngắm cảnh, làm thơ và trăn trở suy tư vận nước. Suối Côn Sơn xưa được mô tả có cầu Thấu Ngọc bắc qua, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ tựa cảnh bồng lai.


Cụ thân sinh Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh trong Thanh Hư Động ký năm 1384 viết: “Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bày. Hoa dọc núi, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới. Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem. Phàm những hình ảnh trong mát, tiếng suối reo xa vời mà hư không, sâu thẳm mà yên lặng, hợp với tai mắt và tâm hồn người ta, ở đây đều có đủ cả”.


Lên 5 tuổi, Nguyễn Trãi theo cha và ông ngoại về đây sinh sống một lần. Có lẽ từ thuở bé, tâm hồn Ức Trai đã được dưỡng nuôi bằng âm thanh đại ngàn lộng gió và chim muông, cỏ cây hoa lá để hun đúc và nuôi dưỡng một thiên tài.


Lẩn quẩn quanh Thạch Bàn, quay mặt bốn phương, tám hướng để mường tượng bóng dáng cụ ngồi làm thơ ở đây. Những vần thơ đẹp lung linh. Cụ đã ngồi sáng tác ở đây, gạt bỏ hết sự đời đen bạc để thi ca thăng hoa. Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.


Tượng đồng Nguyễn Trãi

Tượng đồng Nguyễn Trãi.


Công trình với 2.500 ngày công lao động


Tháng 12-2000, đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng tại chân núi Ngũ Nhạc, trên khuôn viên 10.000 m2 đất trong khu vực Thanh Hư Động, gần đền thờ mẫu thân cụ là bà Trần Thị Thái. Cụm quần thể bao gồm đền thờ chính, hai nhà Tả vu, Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn ngoại, nhà bia, am hóa vàng, cầu kiều dẫn vào đền, cầu bắc qua suối Côn Sơn để lên khu vực đền thờ Trần Nguyên Hãn, Thanh Hư Động, Thạch Bàn, bàn cờ Tiên...


Công trình đền thờ Nguyễn Trãi rất quy mô, tráng lệ. Kiến trúc theo lối truyền thống cổ điển dân tộc Việt còn lưu lại trên các chùa đền từ thời Lý Trần. Một nguồn kinh phí lớn đối với một tỉnh còn khó khăn như Hải Dương, nhưng công sức lao động và những nghệ nhân xứ Đông có tâm, đức, tài đóng góp được ghi lại bằng hơn 2.500 ngày công lao động miệt mài, cần mẫn.


Đền thờ Nguyễn Trãi được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 1962 và xếp hạng đặc biệt năm 1994. Mùa thu năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm ngày mất của cụ, tổ chức UNESCO công nhận Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa, từ đó lễ hội Côn Sơn được tổ chức.


Con đường trải nhựa từ Thị trấn Sao Đỏ vào đến xã Cộng Hòa nơi có đền thờ Nguyễn Trãi được trải nhựa khá đẹp mắt, quanh co uốn lượn qua những vùng đồi, có những hàng thông già vài trăm tuổi vẫn suốt ngày ca hát với đất trời.

ntrai_2



Không xô bồ, đông đúc như những khu du lịch văn hóa lịch sử, tâm linh phía Nam, giữa trưa ngày cuối tuần mà bãi gửi xe chỉ vài chiếc gắn máy với hai xe 16 chỗ chở học sinh mẫu giáo tham quan. Do quảng bá còn ít, hay vì dịch vụ phục vụ du lịch ở đây chưa phát triển?


Du khách mỏi mắt mới tìm được cuốn Chí Linh với văn hóa xứ Đông và hai cuốn khác viết về Nguyễn Trãi mà ở đâu cũng có. Sự khiêm tốn về dịch vụ du lịch còn thể hiện ở sự chào mời khách ăn uống, mua hàng lưu niệm ở khu ngoài đến cổng chính cách đền thờ 400 m chưa thật chuyên nghiệp.


Côn Sơn là mảnh đất thấm đẫm biết bao buồn vui cuộc đời Nguyễn Trãi từ Bình Ngô đại cáo đến Côn Sơn ca, Quốc Âm thi tập.

Trân Châu

BVN-TH

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 64)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 175)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 275)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 290)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất
Friday, April 16, 20217:34 AM(View: 431)
“Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.” Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại ti nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh Đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc. Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt: “Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên — vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở