DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,346,850

NHÌN TÂM THỨC "LẶNG LẼ PHÙ SA" CỦA NGUYỄN VĂN GIA.- Hà Khánh Quân.

Friday, September 23, 20167:36 AM(View: 3228)
NHÌN TÂM THỨC "LẶNG LẼ PHÙ SA" CỦA NGUYỄN VĂN GIA.- Hà Khánh Quân.
NHÌN TÂM THỨC "LẶNG LẼ PHÙ SA"
CỦA NGUYỄN VĂN GIA.


1909786_10201004363947991_9204681651247266984_n

 

 

 

Người làm thơ, đa số nhìn cuộc đời bằng đôi mắt, trái tim và tấm lòng. Quan sát, cảm nhận, đánh giá và mô tả, là những ngón chơi quen thuộc của người làm thơ. Nhà thơ Nguyễn Văn Gia chưa đi xa những chặng thi vị này. Trong thi phẩm phát hành năm 2015, Lặng Lẽ Phù Sa, với độ rộng hai trăm ba mươi trang, anh chia ra làm ba phần chính.

 

Phần một: Đôi Bờ Thời Gian, trải dài từ trang 7 đến trang 87 với gần 60 bài. Theo lẽ thường, những bài mang cùng tên với một phần, hoặc danh xưng chung thi tập, là trụ cột của phần hay tập thơ đó. Trụ cột không hẳn là điểm qui tụ những bài khác cùng chủ đề. Nhưng có phần chắc chắn bài đó được tác giả ưng ý hơn.
 
Đại diện cho Đôi Bờ Thời Gian của Nguyễn Văn Gia mở bằng một nội dung nhẹ nhàng:
 
Vẫn là em
Rất dịu hiền
Thảo thơm với mẹ
Nghĩa tình với thơ
Vọng phu xưa - Em bây giờ
Chữ Tâm
Đứng giữa đôi bờ thời gian
Phải chờ đến nửa trăm năm
Để anh mới nhận ra anh lần đầu
Ngày xưa
Đuổi bắt chiêm bao
Nửa hư
Nửa thực
Lẫn vào cơn say
Người xưa đâu ?
Giờ em đây
Cam lai khổ tận
Đời này bên nhau
Vẫn là em
Thuở ban đầu.”
 
(trang 12&13)
 
Thú vị, thật thú vị, tôi được biết thêm một nhà thơ, vẫn còn giữ vợ mình trong vai tình nhân. (có một điều rất lạ, tôi luôn cảm thấy sự khác biệt rất xa, trong hai chữ tình nhân và nhân tình - một bên khắng khít đầm ấm và một bên có vẻ như qua đường đầy trăng hoa).
Nịnh vợ ? Không đâu. Bài thơ có mặt từ kết quả của một sự chịu ơn: được yêu thương, được chăm sóc, được chia sẻ, được đồng hành... Nếu tình yêu theo thời gian chung sống, chuyển qua tình thương, sẽ khó có thể thành hình những bài ca tụng người phối ngẫu thật tâm. Một bài viết cho người trăm năm ngủ chung, dù văn hay thơ, khiến bạn đọc cảm được tấm lòng của người viết, tôi chắc chắn tình yêu của đôi lứa đó vẫn tròn trịa, đẹp đẽ, như thuở họ cho nhau vị mặn ngọt của môi lưỡi đầu tiên.
Trong công việc hâm nóng tình yêu cùng người bạn đời, Nguyễn Văn Gia khéo chọn chữ, nói lên đức tính của vợ để mở bài:
 
“Vẫn là em
rất dịu hiền
thảo thơm với mẹ
nghĩa tình với thơ...”
 
Thật tuyệt, trong "nghĩa tình", Nguyễn Văn Gia đã chọn thơ thay mình. Anh làm được hai công việc một lúc; một: không nêu ra cái tôi; hai: đồng hoá mình cùng thơ là một. Chị Phương Lan, một nhan sắc hiện còn lấp lánh, luôn luôn trong vai "người vọng phu", ngay bên anh chồng đang ngày ngày ưu tư thơ thẩn. Thương nhớ chồng không đợi phải cách chia. Tình yêu như vậy còn gì đẹp hơn. Và cũng nhờ tình yêu như tấm gương soi này, tác giả luôn thấy mình như lần đầu được yêu, đồng thời ngộ ra cái tôi "dễ ghét" của mình một cách rõ nét:
 
“ngày xưa
đuổi bắt chiêm bao
nửa hư
nửa thực
lẫn vào cơn say...”
 
Tương phản với hình ảnh hư hư thật thật của mình, tác giả cho trình diện ngay đức tính cao quí của người vợ:
 
“giờ em đây
cam lai khổ tận
đời này bên nhau
vẫn là em
thuở ban đầu.”
 
(trang 12&13)
 
“Cam lai khổ tận” đến mức nào không cần biết, chỉ tin chắc một điều, sự chung tình giữa “hai trẻ” sẽ nồng nàn hơn.
Ở một bài khác, nhà thơ vẽ giá trị của vợ mình bằng những nét thật bất ngờ, qua liên tưởng và sự cố hy hữu:
 
Em thật như... không khí
Mà lắm lúc ta quên
Bỗng một hôm nhác thở
Mới tập tành ăn năn.
 
(Hiền thê - trang 31)
 
Mừng Nguyễn Văn Gia đã đủ bản lĩnh, để gia nhập cùng nhóm bạn yêu vợ hết mình: Thế Uyên, Thiếu Khanh, Quan Dương, Luân Hoán...và còn nhiều nữa.
 
 
Tình người vốn dễ bén ở những giao tiếp cận kề, thân thiện. Sau người đầu ấp tay gối, tình thơm qua con, qua mẹ cha, anh em, bè bạn. Tình này có danh xưng tình thương. Tôi nghĩ không nên lẫn lộn giữa yêu và thương. Thật tình tôi không hài lòng khi nghe, khi đọc, ở đâu đó các câu: "con yêu mẹ, con yêu cha, ba yêu con vv...". Có thể tôi cổ hủ rạch ròi quá chăng ?
 
Với Nguyễn Văn Gia, anh không đợi các con mình bị vấp ngã, mới lên tiếng dỗ dành khuyên nhủ. Với kinh nghiệm sống, giàu có ngày tháng làm thầy dạy học, tác giả cẩn thận viết sẵn những lời giáo huấn rành mạch, ngọt ngào:
 
“Mọi thứ đều mong manh
Được - mất lẽ thường tình
Chim trời đã vỗ cánh *
Nước làm sao giữ hình
 
Trong vô cùng tuyệt vọng
Mầm hy vọng hồi sinh
Đã qua rồi bão tố
Sẽ êm ả bình minh
 
Hễ mùa thu vàng lá
Lộc mùa xuân đầy cành
Biết nâng niu hoa cỏ
Sẽ quanh mình tươi xanh
 
Mạnh và mềm như nước
Vẫn xuống thấp ẩn thân
Cái nơi bền vững nhất
Là tấm lòng thường dân
 
Đường đời lúc gập ghềnh
Chớ có vội hoang mang
Và khi nào vấp ngã
Hãy mạnh mẽ đứng lên !”
 
(trang 83&84)
* Ý trong “Ảnh trầm hàn thủy” của Hương Hải thiền sư.
 
 
Triết lý cuộc sống vẫn loanh quanh những nét chính như vậy, không có gì cần tán thêm. Ý thơ tôi thích nhất trong hai câu: “Cái nơi bền vững nhất | Là tấm lòng thường dân”.
 
Với đấng sinh thành, người mẹ được phác họa nhẹ nhàng, nhưng vô cùng linh động chân tình:
 
…“Mẹ một đời cơ cực
Kĩu kịt gánh hàng rong
Chỉ mong sao con được
Cùng anh em đến trường
 
Nay con làm thầy giáo
Mẹ theo lớp bình dân
Trên bảng đen nhìn xuống
Con thấy lòng rưng rưng
 
Thương ơi bàn tay mẹ
Lần đầu tiên cầm bút
Vẽ không tròn chữ O.”
 
(Nét Chữ Thương Yêu - trang 18&19)
 
Với chân dung tâm hồn người mẹ này, tôi tin chắc phản ánh trung trực hình ảnh chung của mọi bà mẹ Việt Nam, trong nhiều giai đoạn đã qua. Nói về Mẹ thật vô cùng. Thơ viết về Mẹ, Cha của người Việt Nam thật dồi dào. Có thể nói không có người biết làm thơ nào, bỏ qua chủ đề tinh khiết này. Xin kính cẩn tạ ơn Mẹ và tất cả những nhà thơ.
 
 
Trong giao tế của đời thường, tình bạn trở nên tối cần thiết và vô cùng cao quí. Gia tài bè bạn của nhà thơ Nguyễn Văn Gia chắc hẳn rất đông đảo. Khởi từ bạn láng giềng, đến bạn học, đến bạn đồng nghiệp, bạn đồng sở thích... mỗi ngày luôn được gia tăng. Hiểu nhau, quí nhau vốn là những tặng phẩm để trao đổi. Đời nào mà không có những Lưu Bình Dương Lễ. Hình thức diễn tiến có thể khác nhau, nhưng tính chất tình bạn luôn có những điểm chung. Tất cả khởi đi và tồn tại trong chân thật, đồng điệu.
 
Mời đọc những lời vĩnh biệt một người bạn của Nguyễn Văn Gia, anh gởi cho Hoàng Tư Thiện:
 
“Người đã đến giữa đời như chiếc bóng
Buồn hay vui chưa hết cuộc trăm năm
Mới hôm nào tay nâng ly rượu đắng
Quán nhỏ ven đường giờ đã xa xăm
 
...
 
Tin dữ quê nhà làm ai chết điếng
Người ra đi thanh thản chỉ riêng mình
Đâu có phải vĩnh biệt chân trời mặt biển
Là hết thật rồi cái bóng thân quen.”
 
(Nhớ một người bạn thơ - trang 36&37)
 
Tôi hoàn toàn đồng tình với nhà thơ. Sự tồn tại của một người bạn thân, luôn vượt qua nắp quan tài. Mất hình ảnh, quên tiếng nói, không hẳn sẽ quên những kỷ niệm. Tình bạn rộng lớn, bền bĩ vô cùng. Cá nhân tôi làm sao quên được những Nguyên Nho Sa Mạc, Vương Thanh, Phạm Thế Mỹ, Đynh Hoàng Sa, Nghiêu Đề, Đinh Cường... Chúng ta tuy không còn được vỗ vai, gọi tên nhau, nhưng vẫn còn thấp thoáng hình ảnh, đầy ắp kỷ niệm. Bạn thử nhắm mắt, hình dung những người bạn đã đi xa xem nào. Tôi tin bạn sẽ thấy thật rõ từng nụ cười, từng bản tính riêng biệt. Tôi thật sự ngưỡng mộ tình bạn giữa anh Đặng Châu Long và bạn tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh. Còn biết cơ man nào tình bạn đậm đà như thế.
 
Một điều thường gặp trong thi ca. Nhờ có bạn, vịn vào bạn, người làm thơ thường được cơ hội tỏ rõ lòng mình, với nhiều trạng thái: chân tình, cao ngạo, khí phách. Từ điềm đạm đến cuồng ngông, nhờ bạn mà lộ ra chân tướng. Xa thì có Nguyễn Khuyến - Dương Khuê, Nguyễn Vỹ - Trương Tửu... gần thì có Lê Vĩnh Thọ - Luân Hoán, Đinh Cường-Trịnh Công Sơn... Cảm ơn Nguyễn Văn Gia đã viết “Chút Lòng Riêng Khi Đọc Thơ Bạn”, gửi cho Trần Huyền Thoại:
 
Người ở trời tây buồn đứt ruột
Ta dù cố quận cũng vậy thôi
Hai nửa địa cầu đều đất trích
Không khóc không cười mà lệ rơi
 
Người ở phương xa thân nổi trôi
Lúc buồn còn có rượu mềm môi
Ta chỉ thương mình nơi cố thổ
Ngâm câu xuất xử mà lòng đau...
 
 
(trang 74 & 75)
 
 
Ngoài những hình tượng cụ thể, sống linh hiển trong thơ Nguyễn Văn Gia, mà tôi đã máy móc trình với làng thật thứ tự như trên. Thơ Nguyễn Văn Gia còn giàu có nhiều chủ đề khác nhau. Ưu tư thân phận con người. Ai hoài trước thực tế và viễn ảnh của đất nước, dân tộc. Từ những mảnh thơ linh tinh, đến cả khối thi ca linh hoạt sắc hình, đều hiện diện trong thi phẩm Lặng Lẽ Phù Sa. Bài nào cũng đáng đọc, đáng suy ngẫm. Chính vì lẽ này, tôi bắt buộc mình phải lội kỹ hơn trong Lặng Lẽ Phù Sa:
 
Trong bài lục bát mang tên “Mơ”, nhà thơ Nguyễn Văn Gia không dùng một chữ “mất” nào. Nhưng lạ lùng, tôi có cảm giác gặp được từ này trước tiên. Có thể tôi bị ám ảnh từ nội tâm.
 
Chẳng còn đâu
Bóng tre xanh
Quê nhà giờ đã trở thành cố hương
Ngậm ngùi ta
Giữa phố phường
Mơ...
Mùa trăng cũ
Ruộng
Vườn
Tiếng chim.
 
(Mơ - trang 9)
 
Sau khi trồng ba chữ “Chẳng còn đâu”, tác giả đột ngột xuống dòng, tách câu lục ra làm hai, đương nhiên đây là một cố tình gây chú ý đến người đọc.
“Chẳng còn đâu” nghĩ cách nào cũng ra một xác định cho sự mất mát. Mất trở thành nỗi ngậm ngùi xót xa. Ở đây nhà thơ của chúng ta mất những gì ?
“Bóng tre xanh”, “ruộng vườn”. Liền theo những vật thể hữu hình này, là những gợi nhớ kỷ niệm qua “những mùa trăng”, “tiếng chim” hót. Nhà thơ không xác định mình đánh mất hay bỏ lạc đi. Anh chỉ cho biết cảm giác tiếc nuối, và đang mơ gặp lại, giản dị thế thôi.
Tôi đọc bốn câu thơ trên vài ba lần, thấm cái ý của ngôn từ, phần nhiều nhờ câu thứ hai, dù cũng giản dị, không nhiều lấp lánh. Chữ “cố hương” có sức mạnh hơn cả hai chữ “ngậm ngùi” nằm sát bên dưới. Không ta thán mất quê hương, nhưng rõ nét nhà thơ đang lạc lõng ngay trên xứ sở mình.
 
Trong bài thơ tiếp theo, “Tự Tánh”, gồm bốn câu, nhà thơ xác nhận bản chất cuộc sống, vốn chỉ là sự tái diễn từ lâu đời, không có chuyện có và mất:
 
Hết ngày rồi tới đêm
Trăng tròn rồi lại khuyết
Sáng tối cứ luân phiên
Làm gì có mà mất.
 
(Tự tánh - LLPS trang10)
 
Quan niệm này không lạ, tác giả lặp lại bằng ngũ ngôn vẫn mang đến cho người đọc xúc cảm bâng khuâng. Thơ là sự truyền đạt, chia nhau nỗi niềm. Nguyễn Văn Gia giúp thơ thể hiện đúng một phần chức năng của nó.
 
Và với cái Tôi, một cái tôi không thể thiếu, ở bất kỳ người cầm bút nào, trong lãnh vực thơ văn nhạc. (Tôi lờ mờ về hội họa nên không ám ôm đồm). Không quán triệt được phần nào cái tôi, dòng sáng tác của tác giả gởi ra đại chúng thật vô cùng lõng lẽo. Chưa hiểu chính mình thật khó hiểu thiên hạ. Ngay trong lãnh vực phê bình, biên khảo về văn thơ, âm nhạc, người viết, cụ thể như những bậc cao tay Đỗ Qúy Toàn, Nguyễn Hưng Quốc... tôi tin họ cũng dựa vào cái tôi để thăng hoa sự thưởng ngoạn, từ đó đưa ra những nhận xét tinh tế, thông minh lẫn hợp lý.
 
Cái tôi của Nguyễn Văn Gia sáng ra với những nét thật ngộ:
 
“Là xa những chuyện
Mất
Còn
Là tâm trống rỗng
Và hồn nhiên vui
Đã lăn hết một vòng đời
Mừng ta trở lại cái thời trẻ con.”
 
(Hồn nhiên - trang 57).
 
Nói về sự việc tự nhiên nổi hứng nghỉ hành nghề của mình, Nguyễn Văn Gia viết:
 
“Bỏ rơi viên phấn nửa chừng
Ta về nằm ngủ
Giữa rừng chiêm bao
Bảng đen
Phấn trắng
Ngậm ngùi...
Sân trường
Đã vắng bóng người năm xưa.”

(Về vườn - trang 27)
 
Người năm xưa ở đây chính là anh nhà giáo, sinh năm Tân Mão, 1951 tại Thanh Khê - Đà Nẵng. Theo học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, Đại học Sư Phạm Huế, rồi trở lại trường trung học cũ làm thầy giảng dạy Anh ngữ. Anh có tên trong khai sinh lẫn cúng cơm là Nguyễn Văn Gia, chơi facebook với mỹ danh Gia Nguyễn.
 
Tính tình tươi vui, quí mến bè bạn, hòa đồng cùng mọi người, nhưng cũng có lúc ngã lòng, không “vịn câu thơ để đứng dậy” như nhà thơ Phùng Quán, mà có ý định “quy y” để rồi:
 
“Lên chùa
Với nén tâm nhang
Tam quan mách bảo
Phật đang vắng nhà
Trở về
Phụng dưỡng mẹ cha
Dẫu không thờ Phật
Cũng là quy y.”
 
(trang 94).
 
Thật là một ý tưởng tuyệt vời, nhìn thấu suốt đạo lý làm người một cách đơn giản nhưng không đang giỡn chút nào.
Tuy vậy, khi đọc kỹ những đoạn thơ ngắn, cô đọng, tôi phát hiện ra: Ông nhà thơ có vợ đẹp, con ngoan, có cơ ngơi kinh tế vững vàng, lại là người giàu hoài nghi, bi quan, thường trực suy tư về cuộc đời, đến nỗi nhiều lúc muốn chối từ sự hiện diện của thân xác, tâm hồn. Hãy ngắm một Nguyễn Văn Gia do chính anh tự họa:
 
“Và cứ thế
Đôi lần tôi chết ngộp
Sông thì trôi
Tôi cố lội ngược dòng
Không là thông
Mà nghìn năm cô độc
Đã có khi
Phải phủ định chính mình.”
 
(Tự họa - trang 80).
 
Tha thiết với cuộc sống, nhà thơ luôn tích cực hòa mình vào đám đông, sinh hoạt cùng nhiều mặt:
 
“Một mình sắm nhiều vai
Xúc xắc kia sáu mặt
Đêm nằm cứ dằn vặt
Mình là mình hay ai.”
 
(Lẫn Lộn - trang 98)
 
Ấy vậy niềm nghi ngại không vơi. Sống giữa xã hội đang giàu lên những thụ hưởng vật chất, tỉ lệ thuận cùng tội ác và sự bất công. Không có cách gì rửa mặt một chế độ cai trị bằng khủng bố, giam giữ. Đất nước liên tục hứng chịu những tai ương do con người tạo nên. Nội ngoại quốc gia đều có nhiều vấn đề khó có thể chấp nhận. Nhưng sự bất lực của cá nhân ngày một lan rộng. Người có lòng có thể làm gì hơn là tự vấn mình, hòng đè nén những “câm nín lâu ngày dễ hóa điên”. Chín năm đối diện với một bức tường vô tri để nhận được gì ?
 
 “Chín năm ngồi ngó vách
Vách và người lặng thinh
Vạn kinh chừ giũ sạch
Nhẹ hều cái tâm không.”
 
(Cửu niên diện bích - trang 99).
 
Tôi thật không tin giữa nội tâm và ngoại giới chông chênh như vậy, một người biết làm thơ vì con người có thể bình tâm. Chắc chắn anh đã xắn tay áo, nhập cuộc làm đẹp cuộc sống, nên chạm mặt hai “thế lực thù địch” này: Tham và Sợ:
 
“Cái tham và cái sợ
Cha đẻ của cái hèn
Có cái giá treo cổ
Giữa hai bờ tử sinh.”
 
(trang 103).
 
Bất mãn trong im lặng là thái độ được chọn, có thể là ích kỹ, nhưng khôn ngoan. Và từ đó nhiều trí thức bị giam lõng
trong lòng tổ quốc, tự đánh giá mình, qua tiêu biểu Nguyễn Văn Gia:
 
“Cầm đèn giữa ban ngày
Mong tìm được con người
Con người đâu chẳng thấy
Lạnh lùng bóng ma trơi"
 
(Diogenes - trang 105)
 
hoặc:
 
“Ngày ngày lo kéo cày
Chuyên cần kia đã tỏ
Mùa gặt đến mới hay
Cả đời gieo toàn cỏ.”
 
(Lại Trễ - trang 115).
 
Sự chọn lựa ắt có là sự buông bỏ:
 
“Cứ nhủ lòng mình
Buông xả thôi
Nhẹ hều như nước chảy mây trôi
Làm sao giữ được
Điều không thể
Chỉ mỗi tay không đã nặng rồi.”
 
(Rỗng - trang 89)
 
Quyết tâm là vậy, thực hiện dễ gì:
 
“Buông rơi cái phải giữ
Giữ chặt cái nên buông
Đời éo le thế đó
Như Lai cũng đầu hang.”
 
(Eo le - trang 104).
 
Cái tôi chân chất vẽ bằng thơ Nguyễn Văn Gia còn rất nhiều, hiện diện ở mỗi bài viết, mỗi chủ đề, khi rõ nét như trên, khi chìm khuất trong nhiều đề tài khác. Đây cũng là một đương nhiên. Viết là phải hòa mình nhập cuộc, ở mọi góc cạnh cuộc sống. Giới thiệu một làng quê, một con phố, dòng sông dãy núi, nhất nhất đều phải chan lên chữ nghĩa cái tình của mình. Bóng dáng tác giả, không thể nằm ngoài những xúc cảm đích thực, để tạo nên ngôn từ, hình ảnh, màu sắc. Có ý, có tứ cộng thêm những chất liệu trên, cấu trúc một bài thơ mới dễ thành hình hoàn hão. Lý thuyết sáng tác phức tạp, người làm thơ vốn không mấy nghĩ tới những ràng buộc nhất định này. Tự nhiên họ thong dong mở lòng, đó chính là một nhà thơ đã lão luyện, đúng nghĩa.
Tạm thời tôi không dám lạn bàn thêm chuyện này. Mời bạn đọc, thưởng ngoạn vài bài viết về tình quê hương của Nguyễn Văn Gia trong phần hai của tập thơ với tên “Bóng Quê Nhà”.
 
Trước nhất là Ký Ức:
 
Thấu lẽ vô thường
Cớ gì xót xa
Ôi sao mất còn
Vẫn đau lòng ta
 
Xưa sống trong làng
Nồng nàn ngõ nhỏ
Giờ phố thênh thang
Ân tình lại nhẹ
 
Hôm qua ruộng vườn
Bây giờ là phố
Tên xóm tên làng
Mấy ai còn nhớ
 
Tiếng võng trưa hè
Còn trong truyện kể
Giếng nước sân đình
Còn trong tranh vẽ
 
Đã nhạt phai rồi
Chân quê bình dị
Tôi gởi lên trời
Nỗi niềm cố lý.
 
(trang 92)
 
Đã biết “vật đổi sao dời” là lẽ thường tình của phát triển xã hội. Sự hoài cổ của tác giả vẫn bàng bạc những nét buồn man mác. Và rồi tự an ủi mình:
 
Núi vẫn khoe đá cứng
Nước chảy mãi cũng mòn
Gió cứ giật sườn non
Núi cao chắc chi còn
 
Bốn mùa luôn thay đổi
Vạn vật mới sinh tồn
Đất trời kia bất biến
Còn gì là tinh khôi
 
Đêm ơi đêm quá dài
Mặt trời phải thức dậy
Những chương buồn khép lại
Mai rồi sang trang thôi.
 
( Không có gì đứng yên - trang 134)
 
Cuối phần Bóng Quê Nhà, loé lại chút nuối tiếc của nỗi cảm nhận mất mát chung chung:
 
Nhớ những mùa trăng
Nhớ ruộng vườn
Không ly hương
Lại nhớ quê hương
Tiếng chim vườn cũ
Không về nữa
Chỉ vẳng bên tai
Tiếng loa phường.
 
(Nhớ quê - trang176).
 
Nỗi xót xa nằm trong hai câu kết, là một ám ảnh não lòng của rất nhiều người vẫn còn đang chịu đựng. Thơ quê hương của Nguyễn Văn Gia hầu như thiếu vắng việc tức cảnh sinh tình. Anh cũng không tả cảnh sắc của một con sông, một ngọn đồi đầy tình nghĩa nào. Giữa anh và thiên nhiên, vạn vật, ít được dàn trải như nhiều nhà thơ khác, xưa lẫn nay.
 
Sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc đến phần ba của tập thơ.  Phần tập họp những nhận xét của nhiều cây bút thành danh, ưu ái dành cho Nguyễn Văn Gia.
 
- Mở đầu, nhà thơ Hoài Khanh, tác giả thi phẩm Thân Phận và nhiều tác phẩm khác, chốt lại bài viết của mình:
 
…“Trong bài "Cao Nguyên"  Nguyễn Văn Gia đã kết thúc bài thơ với hai câu cuối tuyệt - cú - mèo”
 
“Có từng hiu quạnh bên đời
Mới nghe được suối hát lời thiên thu”
 
Đọc mãi hai câu thơ này, tôi cũng bất chợt cầm bút nối điêu “Có từng đau khổ trong đời | Mới tuôn ra được những lời thơ hay” có phải thế không Nguyễn Văn Gia và các bạn ?
(Hoài Khanh)
 
- Một cái kết bài khác của nhà thơ kiêm dịch giả Thiếu Khanh:
 
“Không kể một vài nét bi quan nhè nhẹ loáng thoáng trong thơ anh, đọc thơ Nguyễn Văn Gia dễ bị lôi cuốn theo những xúc cảm của nhà thơ, và xúc động khi nhìn lại nhiều điều trong cuộc sống mình đã kinh qua, mà có khi tưởng mình đã thấy”
(Thiếu Khanh)
 
- Với Phạm Ngọc Lư, tác giả của trường ca Biên Cương Hành:
 
“…Câu thơ không có hồn chỉ là hàng mã. Bởi mãi mãi thơ thuộc về lãnh vực cảm xúc. Nhiều bài thơ của Gia mang lại cho người đọc những cảm xúc bất ngờ. Vậy là đạt...”
 
(Phạm Ngọc Lư)
 
- Với Đynh Trầm Ca, thi nhạc song hành, tinh tế nhận xét, rất đúng quan sát của tôi. Vì tác giả Sông Quê đã viết nên tôi đã không nêu trở lại:
 
"Có lẽ Nguyễn Văn Gia làm thơ vào thời kỳ tuổi anh không còn trẻ nữa. Tôi không thấy thơ mê gái, thơ tán gái, thơ đau khổ vì gái, thơ hậm hực với gái... dường như tuyệt nhiên không có trong tập thơ này"
(Đynh Trầm Ca).
 
Tuy phát hiện giống nhau, nhưng lý do Nguyễn Văn Gia không chơi thơ tình lứa đôi, theo tôi, vì sát cạnh anh có bộ máy kiểm duyệt thật lộng lẫy, nhưng khá khắc khe. Nhà thơ của chúng ta quá lành, không quen thói liều cở Hoàng Lộc, Luân Hoán, nên lơi tay để khỏi nhức đầu, ngụy biện chạy tội.
 
- Với Nguyễn Nhã Tiên:
 
"... Cái chất giọng Quảng hồn hậu của anh, mỗi lúc đọc thơ tuồng như cũng góp phần cắt nghĩa cho người nghe thơ mình.... Tôi chắc rằng những câu thơ của Nguyẽn Văn Gia đã rút ruột ra để, vừa là tiếng nói của hạnh phúc, của niềm kiêu hãnh, vừa là phơi bày trước nhật nguyệt vằng vặc cái tình yêu quê hương xứ sở cho đứa con trai yêu dấu của anh đang du học ở Nhật..."
 
(Nguyễn Nhã Tiên)
 
- Với Hoàng Dục, một tay điểm sách có duyên, bạn đồng nghiệp của Nguyễn Văn Gia:
 
“... Giọng thơ chân thành đầy xót xa và rất  nhân văn ấy như thắp lên trong tôi một ngọn lửa vừa soi sáng ý thức tôi vừa soi tỏ cái lung linh xấu xí của ảo ảnh đời..."
 
(Hoàng Dục)
 
- Với nhà thơ cách mạng Đông Trình:
 
“... Gia ơi
có một thời cái hình mũi tên
cứ nhẫn tâm xuyên qua những trái tim đau khổ
chỗ mũi tên
hôm nay là ngọn lửa
tình yêu !”
 
(Đông Trình)
 
- Với Hoàng Tư Thiện:
 
Tâm sự cùng Gia qua một bài thơ có tên “Cát và tôi”.
 
“…Cát với tôi
Tôi và cát bụi
Giũ sạch rồi
Lòng nhẹ như không.”
 
- Nối sau Hoàng Tư Thiên, một bài thơ khác của Lê Thị Ái Niệm gởi nhà thơ mực thước, nhà giáo Nguyễn Văn Gia.
 
“Khi đọc lại thơ người trên báo cũ
Hồn rung chuông xa xót mấy nhịp cầu
Âm vọng cũ là mùa thương bốn bể
Thơ là hồn viết chỉ để nhớ nhau
 
Ngày tháng đó xa vời như tiếng hát
Gió thanh xuân áo lụa vướng chân người
Mặt đăm đắm vọng tìm miền đất hứa
Trên tay đời nồng thắm dấu môi tươi
 
Giờ thăm thẳm giữa nghìn trùng cách biệt
Áo người phai thương mến có vuông tròn
Sương tuyết đã phôi pha màu ngọc bích
Vẫn chín chiều đau đáu gió nam non
 
Khi đọc lại bài thơ người viết tặng
Trời xanh hơn một chút nữa trong lòng
Năm tháng rộng chỉ vần thơ bé bỏng
Rực rỡ vàng chang chói nắng qua song.”
 
( Mùa Xuân Đọc Bài Thơ Cũ - Lê Thị Ái Niệm)
 
Bài Đá Bùa của tác giả Nguyễn Hoàng Gia Trinh khép lại phần ba. Nhưng tập thơ chưa thật sự kết thúc. Bốn bài thơ của họ Nguyễn, được san sẻ cảm thông qua nét nhạc của Trần Hoàng Thụy, Lưu Như Hải, Văn Nho, Tôn Thất Lan
và một thư họa từ Văn Công Hoàng, bay bướm gởi lời chia tay bạn đọc.
 
 
Nhìn chung, nét đặc biệt nhất trong sáng tác của Nguyễn Văn Gia, là những bài viết bốn câu, thường là ngũ ngôn thật cô đọng, được xếp vào loại thơ trí tuệ. Lối thơ nhiều ý ít lời này, không phải ai cũng thực hiện được. Cuối cùng tôi xin mời bạn đọc cùng tôi, gởi lời cảm ơn chân tình, đến tác giả Lặng Lẽ Phù Sa.
Đang sức trung niên, anh không cho thơ lơ mơ tình ái lăng nhăng, hy vọng khi có tuổi hơn, anh sẽ cho thơ bay bướm cùng sự hồi xuân rực rỡ của mình.
 


Hà Khánh Quân
21.9.2016
(Theo Gót Thơ, tập 2)
(tác giả gởi)


ĐỜI ĐÁ VÀNG - KHÁNH HÀ

MỘT LẦN NÀO CHO TÔI GẶP LẠI EM - QUANG DŨNG

Giong Ca Khanh Hong



*

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 






 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, August 9, 202010:30 AM(View: 100)
Tên thật: PHẠM VĂN THƯƠNG. Bút hiệu: Tuệ Giác. Nơi sinh: Paksé, Lào, nguyên quán Quảng Bình. Năm sinh: ngày 15 tháng 2 năm 1943.
Thursday, August 6, 202011:44 AM(View: 151)
Tên thật Dương Văn Chánh. Sinh ngày 25-2-1934. Nguyên quán Bạc Liêu. Học Tiểu học ở quê nhà. Học Trung học tại Sài Gòn, cùng trường, cùng lớp với Ngọc Linh
Sunday, August 2, 202012:52 PM(View: 120)
Trưa thứ Bảy mở thùng thơ, cuốn Radio Mùa Hè, thơ Phan Hiện Hạo, đến đúng lúc tôi đang suy nghĩ ngày mai sẽ đọc gì. Thú thật là bìa và tựa sách đã thấy qua đâu đó có lúc
Friday, July 31, 20207:20 AM(View: 168)
Cái ao nước đó, cánh đồng đó, khuya hôm nay bỗng sáng chói trong linh hồn chị Năm một cách xót xa tê dại. Đó là một trong muôn vàn cái ao, cánh đồng Việt-nam hay rộng hơn của Á-châu
Wednesday, July 29, 20207:14 AM(View: 211)
Nhà thơ Huy Tưởng đã bắt đầu tập thơ mới "Đêm vang hình tiếng chuông" của mình bằng một bài thơ lục bát phá cách rất hàm súc. Đây là tập thơ thứ 8 của ông sau hơn 60 năm đi và thở trong làn khí quyển thơ ca