DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,375,885

Saigon - Hồ Đình Nghiêm

Thursday, September 29, 20161:44 PM(View: 5299)
Saigon - Hồ Đình Nghiêm

Saigon


 
saigon-street_name



Sài Gòn đứng trước cánh rừng thu trầm mặc, chút gió đi không thức được đám lá ngủ vùi. Chẳng đợi giải thích những “người Mỹ thầm lặng” quanh đây cũng hiểu ra một tên gọi. Tôi đi ngang lòng tự nhủ: Kỷ niệm cũng biết lưu vong.

Trên bề rộng mênh mông này có nhiều Sài gòn nhỏ và hình như ở chốn cũ Sài gòn bị chôn tên. Hôm qua mưa xuống trên thành phố dân cư đông gấp bốn lần thuở nọ, những bản nhạc bỗng dưng đâm thịnh hành bất tận một điệp khúc: Khóc Một Dòng Sông. Mưa Đêm Ngoại Ô. Biển Nhớ. Em Đi Chơi Thuyền.

Ăn quận 5 nằm quận 3 xa hoa quận 1 cướp giật quận 4, quận nào cũng nghe ngói “Đêm thấy ta là thác đổ”. Chùi bu-ri, thay nhớt máy, chúc ngược ống bô, hoạt cảnh tự biên tự diễn lung linh đầy hoa lệ. Báo loan tin đây là trận lụt lịch sử, kẻ bộ hành đứng “bên lề lịch sử” hỏi phóng viên về độ sâu. Hả? Anh cao thước mấy? Chân dài miên man nước ngập tới tận háng, ngán không?

Một đoạn (trường) đường dài 5 cây số đi mất 2 tiếng nhưng nghe không mệt cho bằng khi biết con phải đổi qua học Trung, Nga là sinh ngữ chính. Chúng ta sẽ bơi trong tuyệt vọng bởi không nhìn ra bến bờ. Con trách cha sao ưa ngắm nhìn hình ảnh cũ bởi con không hay ra những cái mới đang chôn vùi tương lai. Con cứ xắn quần mà đến trường học để mai kia có cớ lộng ngôn “không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Chẳng đợi cháy nhà mới lòi mặt chuột, nước dâng thế này mọi thú vật cũng đi đong. Ông Huynh uỷ viên bộ chính trị nói: “Chúng ta phải xây dựng văn hoá khinh bỉ”. Phận làm dân nên khinh bỉ một bộ phận nào? Cái ông chở thây người cuốn chiếu hẳn may mắn đi trong ngày nắng, nước thế này tiền đâu ông leo lên đò quá giang. Lòng dạ hoang mang ắt không biết thơ Hoài Khanh ngày ấy: “Qua sông là một nhịp cầu, qua tôi là một mối sầu vô chung”.

Bảng tên đường Saigon cắm xuống chốn cô quạnh, tuy khuất tất lạc loài nhưng mỗi bận đi qua người Việt hẳn ngoái đầu. Nó bắt tôi nhìn lui bao kỷ niệm ngày cũ, lụt lội trong tôi thời êm đẹp tuổi học trò. “Sài gòn đẹp lắm Sài gòn ơi Sài gòn ơi” tự động máy môi khúc ca vui nhộn. Ừ, người ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Mùa thu chốn này đẹp như một bức tranh tĩnh vật. Hãy nhín chút thời gian tưởng niệm đến bức tranh vân cẩu ở chốn kia. Tự dưng nhớ lời thơ của Charles Simic trong bài Leaf: “I’ve changed stations: autumn remained behind and my bags. The sky now is doubtful like an awkward lie…” Tôi đổi ga, mùa thu ở lại cùng hành lý. Bầu trời ngờ vực lời dối gạt vụng về…

Thu khô ráo chốn đây và trời kia úng thuỷ. Tôi biết đổi sân ga nào đã bộn tháng ngày chưa từng quy cố hương. Đi và về muôn đời không cùng nghĩa như nhau. Tôi nào khác gì tấm bảng nhỏ chỉ đường về một cul-de-sac. Nhớ vô cùng tên ngày cũ em mang…



Hồ Đình Nghiêm
(từ: sangtao.org)



ĐỜI ĐÁ VÀNG - KHÁNH HÀ

MỘT LẦN NÀO CHO TÔI GẶP LẠI EM - QUANG DŨNG

Giong Ca Khanh Hong



*

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 217)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 192)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 502)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 374)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 299)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,