DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,494,567

Di Lụy - Trần Doãn Nho

Tuesday, August 30, 201112:00 AM(View: 12053)
Di Lụy - Trần Doãn Nho
Di Lụy



blank













Ký nhận xong ba đồng tiền lệ phí về quê quán, Thử chưa muốn ra vội. Anh đứng nán lại trong phòng, vơ vẩn nhìn những bạn tù khác đang làm thủ tục xuất trại. Mọi người đều có vẻ phấn chấn, nôn nóng. Riêng anh, mọi điều hầu như đã lắng xuống. Anh chỉ hơi bị kích động một chút khi nghe viên quản đốc trại đọc lên danh sách những người được phóng thích. Có thế chứ , anh nhủ thầm. Sau đó, anh lặng lẽ tách khỏi hàng, không nhìn ai, trở về láng, sắp sửa đồ đạc. Khác với mọi người, anh cảm thấy không mấy vui.

Một người quen hỏi:
- Chưa chịu về à? Vợ đợi, con mong ở dưới đó. Hay còn muốn ở lại để đi bổi?

Thấy có người hỏi, anh hơi vui, nhưng đáp hờ hững:
- Gấp gì. Có điều, hơi mệt.

Đợi cho mọi người ra hết, anh mới chậm rãi ra sau. Qua khỏi cổng trại, anh dừng lại, quay nhìn lui. Cả khu trại chợt lạ hoắc, tựa như từ bao giờ chẳng hề dính dáng gì tới anh. Kìa, cái láng anh ở, hai mái nhà dài ra như muốn úp xuống mãi những số phận. Vài ba người tù đang quét sân. Anh nhận ra hình dáng Tiến, người bạn tù đã từng ở chung. Thân hình anh ta gầy gò, lỏng khỏng. Anh vừa ra khỏi nhà kiên giam không lâu, sau gần năm năm bị cùm vì tội tổ chức trốn trại. Lòng Thử nhói lên, xa xót. Nhưng nghĩ đến khuôn mặt lạnh lùng, thù oán của anh ta khi bắt chợt gặp Thử, anh đâm bực dọc. Cho nó chết, anh nghĩ.

Thấy mọi người đã khuất sau con dốc, Thử từ từ cất bước. Những bước chân tự do đầu tiên sau bảy năm tù tội. Nhưng lạ, anh cứ cảm thấy lấn cấn. Bước đi một bước, lâu lâu lại dừng. Anh muốn kéo dài thời gian thêm tí nữa, tí nữa. Con đường về nhà, hồi nào, anh tưởng nó thênh thang, hạnh phúc, sao giờ này nó sần sùi, cô độc. Qua khỏi dốc, thấy đoàn người đi trước vẫn còn lẩn quẩn ở lối ra bến đò, anh tìm một tảng đá hơi khuất, ngồi xuống. Anh không mệt, nhưng anh không muốn đi cùng với họ.

Chiều xuống. Thử đưa tay bứt một nắm lá bên đường, rùng mình. Anh cảm thấy bực dọc với chính anh, vì đầu óc chợt vương vấn một ý tưởng kỳ dị: thà cứ ở trong trại, tiếp tục ở tù, e dễ chịu hơn. Giờ phải trở về ngoài đời, anh tưởng tượng ra cái ngột ngạt khi phải gặp, phải chung đụng với những con người tự do với bao nhiêu lời đồn đãi, thành kiến, mặc cảm. Anh mường tượng ra những nụ cười nửa môi, những lời xì xầm, bóng gió, những câu hỏi xiên xỏ, những lời lên án... Mẹ kiếp, thì có sao đâu. Anh đứng lên nhìn về phía đồng bằng, nơi có phố phường, có nhà, có vợ con anh. Bỗng nhiên, một cảm giác sợ hãi dấy lên trong tâm tưởng. Anh quay bước lầm lũi đi. Đi. Trong lòng hoang mang, bất định. Rồi anh đứng lại vì chợt nhận ra cái cổng trại giam. Hóa ra anh đã đi trở lại vào trại tù. Vô lý thật. Chẳng lẽ lại vào xin ở tù lại? Anh thở dài. Đằng nào thì cũng phải về thôi. Anh xóc ba lô, trở bước.

Con đường đất dẫn vào khu kinh tế mới trông giống như một vạch sáng hiện lên giữa khu núi rừng đã sẫm màu hoàng hôn. Rất vắng. Anh yên tâm rảo bước. Bến đò trống trơn. Toán đi trước anh chắc đã lên hết chuyến đò cuối. Xe đò chắc chắn cũng không còn. Tốt thôi. Anh băng qua khu chợ, lội một đoạn khe nhỏ, đi về phía đường cái. Đến đây, anh đã nằm ngoài khu cải tạo. Anh quay nhìn lui một lần cuối. Toàn bộ khu trại mất hút dưới cây lá và bóng hoàng hôn. Thế là hết! Anh tự do! Một người tự do cô độc.

Đường phía trước còn dài. Mọi người hẳn đã về đến nhà họ. Họ đã gặp lại vợ con. Còn anh, một mình, giờ này còn lang thang trên đường với tâm trạng của một kẻ đang chờ những phán quyết khắc nghiệt của cuộc đời.

*


Đến hơn mười giờ đêm, Thử mới về đến nhà. Anh đã đi bộ hơn ba mươi cây số từ trại cải tạo. Điện cúp hầu như trên toàn thành phố, nên con đường nhựa dẫn về nhà anh tối om. Trong bóng tối, mọi thứ đều lạ hẳn. Khi đã đứng trước cửa ngõ nhà anh, anh vẫn còn bỡ ngỡ, tự hỏi chẳng biết mình có đi lầm nhà hay không. Đang lúc đó, có bóng người bước ra, dè dặt lên tiếng:
- Anh đó phải không ?

- Ai vậy ?

Bóng người ào tới:
- Trời, anh. Sao giờ này, anh mới về tới ?

- Thảo há?

- Em đây.

Người đàn bà đổ xuống vào vai anh khóc thút thít. Hương đàn bà tỏa vào anh ngào ngạt. Có tiếng chó sủa. Rồi tiếng bước chân. Hai người đẩy nhau ra. Chị bước nhanh tới trước, lên tiếng:
- Ba về.

Mọi vật trong nhà hình như đều chuyển động. Đèn sáng lên. Tiếng cười nói. Tiếng xô ghế. Tiếng nhạc. Tất cả đều đang chờ đón anh về. Vợ con anh. Mọi người. Anh nhìn quanh, lòng ấm lại. Đôi mắt rưng rưng. Nhà cửa vườn tược không khác gì trước mấy. Chỉ có cái sân tối hẳn vì có giàn bầu ở trên. Ôi, nhà của anh. Anh đã trở về. Trong thoáng chốc, anh thấy mọi sự dường như trở về y như cũ, với hạnh phúc rộn ràng, với tương lai rộng mở, với kiêu hãnh tràn trề. Anh là anh, nguyên vẹn như ngày nào.

- Coi kìa, mọi người đang đợi anh trong nhà, sao anh đứng sửng ở đây vậy, chị nói.

Anh sực tỉnh, bước vội vào nhà. Kìa, đầy đủ cả. Vợ. Con. Mẹ. Ba. Ông bà nhạc. Chị vợ. Em con ông chú. Em con bà dì. Mọi người đứng chung quanh một bàn ăn dọn tươm tất. Anh chào ông bà nhạc, chào mọi người, hôn mẹ, hôn mấy đứa con. Mẹ anh mếu máo:
- Cám ơn trời phật đã cho con về bình an.

Bà đến trước bàn thờ, thắp thêm một tuần nhang. Mọi người xúm vào anh, hỏi thăm ríu rít. Ăn uống trong trại ra sao? Lao động thế nào? Bao nhiêu người được về hôm nay? Có bị đánh đập gì không?

Vợ anh nói:
- Mấy anh về cùng đợt với anh, họ về từ chiều lận. Sao giờ này anh mới về ?

- Anh đi bộ.

- Trời! Cả nhà đợi muốn chết. Em nói thằng Tùng đạp xe đi kiếm khắp: bến đò, bến xe, bến phà... Đợi hoài không thấy, em nghĩ dại: hay là họ không cho anh về nữa. Có mấy người quả quyết thấy anh ký giấy tờ xuất trại rồi.

Anh hơi giật mình:
- Em gặp ai?

- Nhiều.

- Ở đâu mà nhiều?

- Thì ở ngoài chợ chứ đâu. Ai về mà chả đi ngang chợ. Nghe nói có đợt về, các anh chưa ra khỏi trại là chợ đã đồn ầm lên.

- Có gặp ai quen không?

- Em thấy ai cũng quen quen cả. Có anh xưng tên, nói ngày xưa ở cùng đơn vị với anh. Em chẳng nhớ ai hết. Nhưng mà hỏi anh, ai cũng biết.

Anh lại giật mình, lắp bắp:
- Họ... họ nói gì?

Không để ý đến nỗi hồi hộp của anh, chị tiếp tục:
- Mỗi lần có đợt cải tạo về là chợ xôn xao như sắp có lễ hội. Người ngóng chồng, kẻ mong con. Đến chiều, sau khi chuyến xe và chuyến đò cuối đổ xuống xong, biết ai về ai ở rồi mới yên. Bà nào có chồng có con hay thân nhân về thì dẹp sạp sớm. Bà nào không thì ngồi thở vắn than dài. Anh biết không, suốt cả ngày nay, em như ngồi trên đống lửa. Giờ thì... À, em quên. Mời mẹ, ba mạ, dì Tâm, chú Đạo, các con, cơm nước nguội cả. Khuya rồi. À, mà anh đi rửa ráy cái đã.

Chị cười vui vẻ, khiến anh cũng vui lây. Anh không vội vàng đi rửa ráy, cứ để nguyên bộ áo quần với bụi đường dơ dáy, ngồi vào bàn. Anh vui. Mọi điều không đến nỗi thê thảm như anh hình dung. Mọi người đều tốt, đều nhớ anh. Anh vẫn còn nguyên vẹn, không đến nỗi nào.

Ngồi xuống rồi, bây giờ anh mới thấy đói bụng. Gần như suốt cả ngày nay, anh chưa ăn một thứ gì. Đồ ăn la liệt. Bảy năm trường bây giờ mới được nhìn thấy lại một mâm cơm đúng nghĩa. Lòng heo. Chả. Gỏi. Canh mướp đắng. Bún xào... Mọi người vừa ăn vừa nhìn anh, hỏi han dủ thứ chuyện. Anh trả lời qua quýt cho xong, vì thực tình, anh muốn tránh đi sâu vào những sinh hoạt trong trại. Anh thấy bất cứ chi tiết nào trình bày ra đều cũng có cái gì vướng víu, không thoải mái. Anh tìm cách tránh trút trả lời bằng cách hỏi thật nhiều về những sinh hoạt ngoài xã hội. Anh cứ có cảm giác bất an, thấp thỏm khi một người nào đó mấp máy môi định hỏi một điều gì. Bởi vậy, anh cố giữ mình bận bịu bằng cách khi thì ăn, ăn ngấu nghiến, khi thì tìm cách giải thích một điều gì đó rất dài dòng, bâng quơ, đôi khi rất vô nghĩa.

Cơm nước xong, khi ngồi uống nước trà, ông nhạc anh hỏi:
- Con có nhận xét gì về chính sách thả tù cải tạo của họ?

Anh phân vân trước câu hỏi:
- Con chưa hiểu ý ba.

- Ba nhận thấy cái cách họ thả tù cũng lạ. Không hẳn dựa vào cấp bậc hay tội ác. Đợt nào về cũng đủ thành phần, to có nhỏ có, không nợ máu có mà nợ máu cũng có. Có người gọi là nợ máu ngập đầu mà ba năm là được thả.

Anh cầm ly nước xoay xoay, ngẫm nghĩ. Liếc sang, thấy ông nhạc quay về phía cửa sổ, anh nhìn ông, cố đoán xem thử ông có ý định gì khi hỏi như thế. Và không biết ông sẽ hỏi tiếp câu gì. Anh định lên tiếng thì ông quay lại cười:
- Có tay tỉnh trưởng mà ba năm đã về.

Anh nói dè dặt:
- Đôi khi có thân nhân cách mạng.

Ông cười khẩy:
- Không hẳn. Tụi này, chúng nó bí hiểm lắm, thâm độc lắm. Chúng làm gì cũng có sách.

Anh cảm thấy chỏi tai khi nghe ông dùng chữ “tụi này” , “chúng nó” một cách trơn tru, thuần thục. Anh nói:
- Có thể cách mạng muốn ly gián.

Ông nhìn thẳng mặt anh, hạ giọng:
- Đúng. Chúng nó chơi cái trò ly gián. Chúng nó làm cho không ai tin ai cả. Ngoài miệng, chúng nó bảo học tập tốt lao động tốt. Hừ! Đừng hòng! Chúng láo khoét.

Anh giựt mình. Ông cụ gan thật. Quá lâu, anh chưa hề nghe những ngôn ngữ như vậy đối với cách mạng.
Ông hớp một hớp nước trà, đứng dậy:
- Mà thôi. Về được là có phúc rồi. Thấy con Thảo ngày nào cũng đi vô đi ra, người gầy nhom, sốt cả ruột. Thôi, con nghỉ đi cho khỏe. Khối việc phải lo trong những ngày sắp tới. Ra tù chưa phải là xong đâu.
Ông hối thúc mọi người ra về.

Đêm đó, nằm nghe Thảo kể đủ thứ chuyện cay đắng ngọt bùi, đầu óc anh cứ vẩn vơ đâu đâu. Thỉnh thoảng, thấy anh im lặng quá, chị lại hỏi:
- Anh có nghe em nói không đó?

Anh gật đầu, cố gắng nghe chị nói về những dự tính trong tương lai, về chuyện buôn bán, về việc làm của anh... Nhưng rốt cuộc, anh cứ bị phân tâm bởi những ý nghĩ phiền muộn, hoang mang nào đó đan chéo vào nhau.

*


Sáng hôm sau, đang chìm trong giấc ngủ muộn, thì Sở, đứa em con ông chú, đã đến kéo đầu dậy đi uống cà phê. Một phần vì còn buồn ngủ, một phần vì muốn sửa soạn tinh thần trước khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, anh từ chối. Nhưng Sở không chịu, nhất định buộc anh đi cho được. Thế là anh đành miễn cưỡng dậy đi.

Sở là dân đi xe thồ đạp chuyên nghiệp. Đợi Thử ngồi lên xe xong, Sở nói:
- Em chở anh đi vòng vòng tham quan thành phố nhé.

Thành phố hầu như không có gì thay đổi lắm kể từ hồi anh ra đi, nhưng trông vô cùng lạ lẫm. Người lưa thưa, quán xá lưa thưa. Đường phố lặng lẽ. Hầu như rất ít tiếng động. Anh có cảm giác như đang đi trên một phố huyện nào đó trước năm 75. Cũng không bằng phố huyện nữa. Anh hỏi Sở:
- Hôm nay có chuyện gì không mà trông thành phố vắng vẻ vậy?

- Thì cũng thường như mọi ngày.

- Tôi tưởng như cảnh thành phố hồi có đợt di tản năm 75.

- Đâu có đến nỗi thế.

Đường phố đầy xe đạp và người đi bộ. Hầu như không có xe gắn máy. Có lẽ vì thế mà nhịp độ chung có vẻ chậm rãi, uể oải. Chiếc xe đạp thồ mệt nhọc leo lên những con dốc nhỏ, dốc cầu, lừng khừng trên những ổ gà đầy đường phố.

Sở hỏi:
- Thế nào? Sau bao năm trở về, thấy thành phố có gì đặc biệt?

- Có lẽ nhiều khẩu hiệu quá!

- Em thì em thấy khẩu hiệu không nhiều, nhưng vì không có gì khác ngoài khẩu hiệu nên trông có vẻ nhiều. Thành phố bây giờ như người ốm ở trần, bày ra toàn xương và khẩu hiệu.

Thử bật cười trước nhận xét ngộ nghĩnh của Sở. Anh nhìn quanh. Mọi nơi đều thân quen, tuyệt không có gì khác lạ, nhưng trông chỗ nào cũng vô hồn một cách đặc biệt. Chúng có thể cũ hơn hoặc mới hơn một chút nhưng lặng lẽ, ẩn nhẫn. Nắng rực rỡ soi mói vào những căn nhà cũ, những góc phố sứt mẻ, cam phận như có chút gì mỉa mai.

- Rồi anh sẽ thấy, Sở nói. Ở đây cũng chẳng khác gì trên trại cải tạo bao nhiêu đâu. Cũng họp cũng hành, cũng thi đua, cũng kiểm điểm, cũng ăn-ten ăn-tiếc lung tung.

Hai chữ ăn-ten khiến lòng Thử nhói lên. Anh lái câu chuyện sang một hướng khác vì sợ theo đà, Sở sẽ nói tiếp những điều anh chẳng muốn nghe.

- Bây giờ mọi thứ đều quốc doanh cả sao? Anh hỏi.

- Không hẳn. Quốc doanh không thì sống thế nào nổi. Em đưa anh đến quán cà phê con cóc tư nhân, ở đây anh tha hồ gặp người quen.

Thử từ chối ngay:
- Thôi, thôi. Tới chỗ đông người phiền lắm.

Sở quay lui:
- Anh sợ gì? Mình đừng nói bậy bạ là được rồi.

- Anh không thích.

- Chẳng lẽ lại vào cà phê quốc doanh?

Thử im lặng. Anh chưa có khái niệm gì về quốc doanh với không quốc doanh, nhưng ở đâu thì cũng phải có người. Đã có người thì cũng phải gặp người quen. Mà lúc này, anh chẳng muốn gặp ai quen biết. Anh sợ gặp mọi người, bất cứ ai. Anh có cảm giác là hầu như mọi người đều biết, đều nghe tên anh. Họ sẽ chỉ trỏ, bàn tán, thì thầm to nhỏ. Ý nghĩ này làm anh thảng thốt.

Anh ôm vai Sở:
- Thôi, cho anh về nhà đi.

Sở sửng sốt:
- Sao lại về?

Anh nói dối:
- Tôi đau bụng quá. Chú cho tôi về đi.

- Tới quán cà phê cũng có nhà vệ sinh mà.

- Không. Anh muốn về nhà thôi. Cho anh về đi. Bữa khác ta hãy đi.

Sau một hồi nằn nì, rốt cuộc Sở cũng phải đưa anh về nhà. Trước khi chia tay, Sở nhìn ngay mặt anh, hạ giọng, nửa đùa nửa thật:
- Cộng Sản quả đã làm biến mất ông Đại úy Thử hùng dũng, hào hoa xưa kia rồi. Gì mà tệ thế, anh Thử?

*

Tệ thế!

Không biết Sở nghĩ gì khi nói với anh như thế, nhưng riêng anh, anh cảm nhận một cách sâu sắc hai chữ “tệ thế” đối với mình.

Mọi chuyện bắt đầu từ lần ấy, lúc mà anh chính thức nhận lời viên quản giáo xâm nhập vào một nhóm tù nhân âm mưu trốn trại và báo cáo cho ban Quản đốc biết. Nói theo ngôn ngữ phổ thông, anh nhận lời làm ăn-ten. Mãi cho đến bây giờ, anh không hiểu tại sao anh đã nhận lời. Vì sợ hãi? Vì mong muốn được về sớm? Vì chứng tỏ mình học tập cải tạo tốt? Vì yếu lòng? Vì bị dụ dỗ? Hay vì thứ chính nghĩa mà tay cán bộ quản giáo đã khôn khéo đưa ra thuyết phục anh? Anh chỉ còn nhớ rất rõ, sau khi nhận lời, anh đã làm việc tích cực, quá tích cực nữa là khác. Anh tự sáng tạo nhiều cách, kiểu để tạo ra sự chú ý nơi một số người mà anh nghĩ là đang nằm trong tổ chức trốn trại. Như một kịch sĩ tài ba trên sân khấu, anh đóng vai trò một tù nhân bất mãn, một người sẵn lòng nổi loạn, nhưng làm ra vẻ kín đáo chỉ để những người tinh ý mới nhận thấy. Rốt cuộc, anh trở thành một trong những thành viên của nhóm tổ chức trốn trại. Cái lạ là, anh vừa say sưa , hào hứng với một kế hoạch trốn trại đầy phiêu lưu, lại vừa hãnh diện khi báo cáo sự việc với ban quản giáo trại. Khi nội vụ đổ bể, nghĩa là khi ban quản trại quyết định bắt hết những phần tử ở trong tổ chức, anh đóng vai khổ nhục kế rất xuất sắc, nghĩa là anh cũng bị đánh đập, bị hành hạ đủ mùi. Anh vui vẻ chịu đựng để rồi cuối cùng... mọi người cũng biết ra ai là thủ phạm.

Đến đây thì cuộc đời tù đày của anh bước qua một ngã rẽ. Anh có một cái tên mới: Thử ăn-ten. Lúc đầu, anh cho cái tên đó chỉ là một sự bộc phát giận dữ tạm thời. Với thời gian, người ta sẽ quên đi, hoặc anh sẽ tìm cách chứng minh là mình không phải như thế. Lại một lần nữa, anh đóng vai một kịch sĩ. Anh không thanh minh, không phân trần. Bằng hành động, bằng thái độ, anh cố chứng minh rằng anh không hề và không thể là ăn-ten. Sự kiên nhẫn, chịu đựng của anh tưởng chừng như sắp đạt được kết quả, thì đùng một cái, nhân một buổi lễ tổng kết, ban quản giáo trại đưa anh ra tuyên dương vì thành tích phá vỡ một tổ chức phản động trong trại. Anh ngẩng đầu nhận bằng khen và cúi đầu nhận những lời nguyền rủa thầm lặng của tất cả mọi người. Kể từ đó, Thử ăn-ten trở thành cái tên chính thức của anh. Anh chọn hay bị bắt buộc chọn một thái độ sống mới: im lặng. Anh sống giữa mọi người như một cái bóng. Không than van, giận dỗi, không phê bình, góp ý, vô thưởng vô phạt, và trong thâm tâm, anh tự xác định một điều dứt khoát: không ân hận. Mỗi lần đi ngang qua ca-sô nhốt những bạn tù đã vì anh mà chịu mọi thứ cực hình, anh cố dằn mình xuống, không xúc động. Anh tự nhủ: không có anh báo cáo, họ cũng sẽ chịu một kết quả như thế này thôi.

Nhưng mọi việc không đơn giản như thế, nghĩa là dù hết sức cố gắng, anh cũng không thể thoát khỏi những day dứt, dằn vặt, đau đớn. Anh thường xuyên bị hành hạ bởi những cái nhìn căm ghét, những khuôn mặt lạnh lùng, những cử chỉ khinh bỉ, những câu nói bóng gió, xỏ xiên hàng ngày từ mọi người. Một sự trả thù tập thể thầm lặng, nhưng vô cùng kinh khiếp. Anh phải sống thêm một trại tù trong trại tù. Anh vừa là tù nhân của cán bộ, vừa là tù nhân của tù nhân. Nếu có một điều gì tích cực trong vụ việc của anh thì đó là nạn ăn-ten trong trại đột nhiên giảm hẳn. Anh trở thành một tấm gương soi cho mọi người. Những lần kiểm điểm bớt đi, vì cán bộ thiếu người cộng tác.

Riêng anh, từ đó, anh biến tính. Anh trở nên trầm ngâm, sợ đám đông và ít nói. Không những ít nói, anh còn không muốn nói, thậm chí không biết nói gì. Anh có cảm giác mọi lời nói của anh bây giờ trở thành vô nghĩa, vì sẽ không ai thừa nhận những lời anh nói. Ngay chính anh, anh cũng hết tin những điều mình nói thì làm sao nói ra cho mọi người tin được.

Về với gia đình vợ con rồi, ít nói, hay đúng ra, không muốn nói hay sợ nói trở thành quán tính. Tuy sống như một người tự do, nhưng tâm thức tù đày vẫn đeo đẳng trong Thử. Anh có cảm giác như mình là con mồi, luôn luôn bị rình rập, theo dõi. Đối với vợ con, anh cũng dè dặt. Anh ít ra ngoài, chỉ thỉnh thoảng mới đi một vài nơi để thăm bà con. Riêng bạn bè quen biết, anh tránh hẳn. Thỉnh thoảng gặp vài ba người trên đường đi, anh chỉ chào hỏi qua loa.

Thực ra, sau một thời gian, anh nhận thấy mọi việc vẫn bình thường, không có gì ghê gớm như anh tưởng. Chẳng mấy ai để ý, soi mói anh. Ai cũng cặm cụi, tất bật kiếm sống. Ai cũng kín đáo, lặng lẽ. Mọi người đều sợ hãi lẫn nhau. Anh cảm thấy phấn chấn hơn lên với ý tưởng rằng có thể những việc làm của anh trong trại không có tiếng vang gì ngoài xã hội. Có thể nhiều người chẳng biết hoặc chẳng quan tâm. Cũng có thể người ta biết nhưng cho là chuyện bình thường. Ở trong một xã hội mà tiêu chuẩn công an đặt lên hàng đầu, thì việc người ta tố cáo nhau, phản bội nhau để tồn tại hay để chạy tội không còn là một biến cố, anh nghĩ. Vợ chồng, cha con còn có thể tố cáo nhau huống hồ gì là bạn bè, người dưng. Với ý nghĩ đó, anh tự tin hơn khi gặp mọi người. Anh có thể phát biểu đôi điều mà không sợ chúng trở thành vô nghĩa. Ở trong trại, vì là tù nhân, người ta khó tính, khắc nghiệt. Còn ở ngoài đời, người ta rộng lượng hơn chăng?

Hôm đó, chừng một tháng sau khi anh trở về, lần đầu tiên, anh nhận lời đi ăn giỗ nơi nhà một người em họ. Ăn uống xong xuôi, sau khi mọi người ra về hết, người em giữ anh ở lại nhậu tiếp. Khi đã ngà ngà, người em đột ngột hỏi anh về những lời đồn đại anh làm ăn-ten trong trại, anh hăng hái cải chính. Anh đưa ra vô số bằng chứng cho thấy anh không bao giờ có thể làm những điều tồi bại như thế. Anh chỉ cho người em thấy những vết bầm tím trên cơ thể do những ngày bị đánh, bị cùm gây ra. Lần đầu tiên từ bao năm nay, anh cảm thấy hưng phấn với ý tưởng rằng anh đã không hề làm một điều gì sai quấy. Anh bị nghi oan, anh trong sạch, anh chẳng bao giờ làm ăn-ten. Người em họ vỗ vai anh, cười khà khà:
- Em biết chứ, có bao giờ anh Thứ lại làm những chuyện bậy bạ đó. Mình thua thì thua nhưng mình có danh dự của mình chứ. Nghe người ta vu vạ cho anh, em tức anh ách.

Anh ta hạ giọng:
- Cái này chắc tụi Việt Cộng tung tin để hạ uy tín của anh đó. Tụi có luôn luôn chơi đòn li gián. Độc thật! Ấy, nhưng không sao. Tụi nó bôi đen anh sao được.

- Đúng! Thử la lên sảng khoái, nâng ly rượu nốc một hơi.

Sung sướng với lối lập luận của người em họ, anh uống đến say khướt, đến nỗi người em phải chở anh về.


**


Tỉnh rượu, anh thấy Thảo, vợ anh, ngồi ở chiếc bàn nhỏ kê sát cửa sổ, đang nhìn vào bóng đêm bên ngoài. Nghe tiếng động, chị quay lại:
- Anh tỉnh rồi à?

Anh không nói gì, nhìn đồng hồ. Một giờ sáng. Anh kêu lên ngạc nhiên:
- Trời, sao em còn thức?

Chị im lặng, chẳng nói chẳng rằng, bước ra khỏi phòng. Khuôn mặt chị nặng nề một cách khác thường. Anh ngạc nhiên bước theo, níu vai chị, nhưng chị gỡ tay anh ra. Anh trở vào phòng trầm ngâm, hai tay ôm đầu. Anh đã thấy khỏe, nhưng đầu còn hơi nặng. Đây là lần đầu tiên sau bảy năm trời, anh say.

Một lát, chị trở vào. Chị khép cửa, gài chốt lại. Thấy anh ngồi tỉnh táo ở đầu giường, chị đứng nhìn anh im lặng, nước mắt lưng tròng. Anh nhìn chị, ngơ ngác, định đứng dậy đi về phía chị, thì đột nhiên, chị bước tới, bổ về phía anh, hai đầu gối quỵ xuống đất. Chị ôm hai chân anh, nấc lên rồi khóc nức nở. Chị cố ghìm tiếng lại, nên người cứ run lên từng chặp, nước mắt tuôn trào. Anh nghe những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua vải, lan dần trên da thịt. Anh ôm đầu, vuốt tóc chị hỏi:
- Chuyện gì thế em?

Chị vẫn tiếp tục khóc. Anh phân trần:
- Anh đâu có muốn say. Tại thằng Tuấn cứ ép anh uống mãi. Anh uống đâu có nhiều, nhưng có lẽ vì lâu ngày nên bị dị ứng. Em xem, ngày xưa, anh uống hàng mấy chai rượu Mỹ mà có sao đâu.

Chị vẫn khóc. Anh im lặng, nhìn chị, chờ đợi. Một lát, chừng như đã vơi bớt xúc động, chị ngước mắt nhìn anh:
- Anh, anh, em khổ tâm quá.

Anh nâng đầu chị dậy, đưa tay chùi nước mắt trên khuôn mặt chị:
- Em cũng phải cho anh biết chuyện gì chứ. Anh chẳng hiểu gì cả. Nếu em không thích anh uống rượu thì anh sẽ không bao giờ uống nữa .

Chị lau khô nước mắt, đứng dậy nhìn anh, giọng có phần bình tĩnh:
- Là vợ chồng, anh có tin em không?

- Sao không tin?
- Em cũng vậy. Em hoàn toàn tin ở anh. Lâu nay, vì anh mới về, tâm thần chưa ổn định, nên em không dám hỏi. Nhưng giờ đây, em phải hỏi...

Chị cúi xuống, ngập ngừng. Anh nhìn chị hồi hộp. Tự nhiên, anh không dám khuyến khích chị nói tiếp.
- Thế này...Chị lại nói. Em hỏi anh...

Chị lại ngập ngừng. Một lát, thu hết can đảm, chị hỏi:
- Anh có làm gì sai quấy ở trên trại không?

Hỏi xong, chị đăm đăm nhìn anh, đôi mắt chứa đựng một nỗi van vỉ thiết tha kỳ lạ. Nhìn đôi mắt chị, bất giác, anh rùng mình, bối rối. Đằng nào cũng phải đến giờ phút này thôi, anh nghĩ. Anh tưởng mình như đang từng bước bước lên đoạn đầu đài. Dù muốn dù không, anh cũng phải trả lời. Vâng, có. Anh đã sai quấy. Anh đã hại bạn bè. Anh đã làm ăn-ten. Nói. Nói, nói một lần cho xong với vợ, với con, với bạn bè, với mọi người. Nói đi, nói đi. Anh run run, mở miệng, thì thầm:
- K..h..ô..n..g!

Anh đã nói một điều khác hẳn.

Chị ôm cứng hai vai anh, lay mạnh, hai mắt nhìn thẳng vào anh, kinh ngạc, rồi thốt lên:
-Không! Dứt khoát là không bao giờ, phải không anh. Lạy Trời, lạy Phật, em mừng quá. Bấy lâu, em cứ băn khoăn không biết thực hư, định hỏi anh mãi, nhưng sợ... sợ...

Anh nâng chị lên:
- Sợ... sợ gì?

- Sợ... sợ anh sẽ nói khác đi. Anh còn say không?

- Không.

- Vậy anh nói lại một lần nữa đi. Anh có làm ăn-ten không?

- Kh..ô..n..g. Không bao giờ. Lần này anh nói, giọng quả quyết.

Chị buông vai anh ra, đi quanh phòng:
- Tức thật là tức. Anh biết không, hôm nay, em và con Cúc cãi nhau. Anh biết con Cúc chạy mánh vàng ngoài chợ chứ. Cái con ăn gian nói dối. Hắn đã giành giựt mối của em, rồi còn đổ hô đổ thừa cho em gian. Cãi một hồi, loài cái gian ra, hắn không biết làm sao, bèn gọi em là vợ cái thằng ăn -ten. Rồi hắn kể lung tung, đủ thứ...

Anh im lặng lắng nghe, tim từng hồi nhức buốt.

- Em tức ơi là tức, nhưng đành phải nhịn vì hắn mồm năm miệng mười, em nói không lại. Với lại, với lại...

Chị hạ giọng:
- Em đâu có rõ anh như thế nào. Ngày mai, gặp nó, em sẽ nói, em sẽ nói. Em sẽ nói với mọi người rằng anh không hề làm gì sai quấy.

Chị đến bên cửa sổ, nhìn mông lung ra bên ngoài, im lặng. Một lát, chị quay lại, nhìn anh, rơm rớm nước mắt:
- Nhưng nói làm sao cho hết với tất cả mọi người hả anh? Mà biết họ có tin không?

Chị bước trở lại, gục đầu vào vai anh, khóc thút thít. Anh không biết nói gì, ôm đầu chị, lòng đắng xót ngổn ngang. Anh chợt thâm cảm hết tấm lòng người vợ, những tủi hờn chị phải chịu đựng về anh. Biết làm sao để đỡ đần cho chị đây?! Anh cúi xuống, thì thầm, giọng chắc nịch:
- Tụi nó tung tin để hạ uy tín anh. Dần dần người ta sẽ hiểu thôi, em bực bội làm gì?

Chị thổn thức:
- Nhưng khó bịt miệng thế gian quá anh ơi. Người ta nói này nói nọ, thì thầm thì thào cả mấy năm này rồi. Em cứ mặc kệ, coi như không có, lo làm lo ăn, bới xách cho anh. Từ ngày anh về, người ta còn nói tợn hơn nữa.
Mấy đứa con anh cũng đau khổ vì bạn bè nó mỉa mai...

- Anh có nghe ai nói gì đâu?

Chị ngẩng mặt lên:
- Thì họ cần gì phải nói với anh. Họ nói với vợ con anh là quá đủ.

Chị đứng dậy, lau nước mắt, vuốt tóc nói:
- Em tính rồi, đằng nào cũng phải đi thôi.

Anh ngạc nhiên:
- Đi? Đi đâu?

- Đi đâu cũng được, miễn là rời khỏi thành phố này. Dù anh đúng hay sai thì sự thể đã như thế rồi, có muốn thay đổi cũng không được.

Anh nói cứng:
- Anh không đi đâu hết. Để xem người ta làm gì anh nào. Cứ cho người ta vu khống, nhục mạ anh đi. Anh, đầu đội trời, chân đạp đất, anh...anh...

Anh muốn nói, muốn nói thật nhiều nữa, nhưng đột nhiên, anh cảm thấy mình hụt hơi. Anh ngừng lại, nhìn chị, im lặng. Khuôn mặt chị sững sờ, buồn bã. Anh bước tới, ôm lấy chị và bắt đầu khóc. Khóc lặng lẽ.


Tr
ần Doãn Nho
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address