DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,870,159

BẮT CÁ ĐẺ SÔNG TIÊN LẦN CUỐI - Nguyễn Đình Từ Lam

27 Tháng Hai 20173:25 CH(Xem: 2993)
BẮT CÁ ĐẺ SÔNG TIÊN LẦN CUỐI - Nguyễn Đình Từ Lam
BẮT CÁ ĐẺ SÔNG TIÊN LẦN CUỐI


Image result for sông tiên tiên phước
Sông Tiên, Tiên Phước


 
      Ánh nắng buổi sớm mai ươm vàng chạy xuyên qua lớp lớp  sương mù dày đặc. Thời tiết tháng chạp se se lạnh. Cây sầu đông đứng ở góc sân nhà dưới, đã trổ đầy bông, xa xa nhìn lên, giống như những dãi khăn trắng treo vắt vẻo đầy cành. Cha đứng nơi hè nhà trên, hai tay đút trong quần ủ ấm, mắt nhìn chăm chăm ra phía đầu ngõ, cha nói với hai anh em tôi đang ngồi bên cạnh: Năm nay trời lập xuân sớm hơn mấy năm trước. Có lẽ cá sông Tiên sắp sửa vào bờ đẻ. Ba cha con mình sớm đi vét chăn là vừa.
      Ở quê tôi, cứ gần đến kỳ cá đẻ, bà con thường xúm nhau xuống bải sông vét chăn, để dụ cá vào đẻ hoặc để lùa cá đẻ vào đầy chăn hòng dể bắt gọn, lại được nhiều. Chăn được làm cách bờ nước sông độ vài ba bước người lớn, rộng hẹp vuông tròn còn tùy địa thế hay ý ưng của người vét chăn, thông thường lớn khoản bằng một phần vuông sân nhà, sâu cở hơn gang tay, làm sao cho khi trổ cửa chăn ăn thông với vực sông, nước chảy vào vừa khỏa khắp mặt đáy chăn là được.
      Năm nào cá sông Tiên cũng về đẻ ở một trong hai vực. Một là Vực Tròn, không nữa là Vực Nà Cờ. Cha con tôi vét chăn nơi Vực Tròn, trước tiên. Vực Tròn có bải sông phía bên này xã Phước Kỳ rất sạch sẽ, không một chút cỏ rác hoặc lá cây khô mục, chỉ có toàn đá là đá dèm dẹp nâu bóng trải dày. Cha dùng cuốc cào dồn đá bải lại thành từng đống, anh em tôi xúm nhau lấy hai tay hốt đá bỏ vào trạc, khiêng ra đổ ngoài, khỏi chổ cha sẽ vét chăn. Khi đá đã được chuyển sạch, còn trơ lại toàn cát , cha lấy cuốc đào bỏ đi một lớp cát sâu khoản trên hai tấc tây, lớn hơn một cái nong phơi lúa. Đào xong, anh em tôi khiêng đá trở lại sắp kín đáy chăn cha vừa đào xong. Cứ làm thế, chưa đầy một buổi sáng, cha con đã vét được ba cái chăn cá đẻ. Sau rốt, hai anh em đi dọc theo mé bờ sông hốt một mớ rêu xanh đem trải đều trên mặt chăn. Còn cha lo trổ cửa chăn ăn thông với vực nước, khi thấy nước chảy luân lưu đầy sim síp, vừa tráng mặt đáy chăn, cha vui cười bảo, mức nước ra vào chăn như vầy là quí lắm rồi.  Xong việc, cha ngồi chồm hổm trên bải, vừa nghỉ mệt, vừa hút thuốc. Anh em tôi chạy lon ton trên bải, cuối lượm những miếng đá thật láng, mỏng dính để chơi trò thi nhau lóc đá nhảy lướt trên mặt nước, đứa nào có số đá nhảy lên được bờ bên kia Phước Thạnh nhiều hơn là thắng  cuộc, lần nầy cũng như bao lần trước, hầu như em trai tôi đều thắng cả. Cha đã hút tàn hai điếu thuốc, đã thèm.  Mặt trời đứng bóng, cha vội hối thúc bọn tôi, thôi, nghỉ chơi, lo dọn dẹp dụng cụ, còn phải về ăn cơm trưa, kẻo mẹ mấy con ở nhà, trông.
      Buổi chiều hôm ấy, thỉnh thoảng hai anh em chạy xuống sông thăm chừng, dò xem bầy cá có về vầy đẻ chưa. Nhưng chưa thấy tăm hơi, mặt nước sông Vực Tròn vẫn vắng lặng. Chỉ thấy trên bải, đông đúc bà con đang bận rộn vét chăn, làm ụ.
      Ngày hôm sau, ba cha con lại vác cuốc, cầm rựa, gánh trạc...lên tận Vực Nà Cờ gần thác Lò Thung, vét thêm mấy cái chăn nữa. Năm nay, bà con chưa ai dám đoán chắc cá sẽ về vầy đẻ ở vực nào, Nà Cờ hay Vực Tròn. Ngay suốt cả con sông Tiên, dòng nước vẫn bình lặng, chảy êm ả, chưa thấy bầy cá đẻ lộ diện ở đâu cả.
      Gần một tuần, bà con thay phiên ngồi trên bờ sông dõi mắt  ngóng trông, canh chừng bầy cá về đẻ. Trên bải bao nhiêu cái chăn nằm sắp lớp, trống không. Nhiều người chán nản, bàn ra tán vào, đoán già đoán non... Có kẻ hết kiên nhẫn chờ chực, bèn mang gạo muối lên tận Trà My, nhập bạn giẫy lưới, đánh bắt cá sông Trường, cho chắc, có cá cúng cấp ba ngày tết sắp đến nơi rồi.
      Mãi đến mười ngày, sau hôm ba cha con tôi vét chăn ở bải Vực tròn; buổi sáng mọi người trong nhà ngủ dậy thật sớm, lo chuẩn bị lễ vật cúng đưa Ông Táo về Trời.  Bỗng thấy chú cả Diễn, người em họ của cha, từ ngoài ngõ đi cà thót vào sân, vừa đưa mắt chăm chăm ngó vô, miệng hỏi lắp ba, lắp bắp nho nhỏ:
      - " Anh Ba có nhà không, hè?
      - " Tôi đây. "  Cha tôi trả lời.
      - " sáng ni, tôi đi đổ cá sa, thấy bầy cá nhiều lắm, đang vầy nhâm nước ở búng Vực Tròn. Chắc chúng sắp vào bờ đẻ. Mau lên anh, kẻo lụt mất, uổng lắm."
      Ba cha con tôi vội vàng, vừa đi vừa chạy bương bả xuống sông. Cha một vai mang tấm lưới ba, vai kia quảy chiếc giỏ lái; em trai tôi tay xách cái nơm; còn tôi  vác cái đó, tay cầm vợt. Khi vừa tới sông , thấy bà con tụ tập dày đặc. Có gia đình đàn ông, con trai  đi hết cả xuống đây. Mọi người xúm nhau đứng xa xa nhìn ra giữa vực, không giám xuống gần mé sông, sợ động, bầy cá bỏ vầy, rũ nhau bơi đi đẻ nơi khác, tiếc lắm. Nhưng ai nấy cứ mãi ngồi rình, chờ. Bầy cá vẫn bơi vần vủ giữa sông, chưa chịu vào bờ, khiến mọi người đâm ra lo lắng. Có kẻ quá nóng lòng, bèn len lén dò dẫm ra gần sát bờ nước nơi có hàng hàng cái chăn sắp dài dài ở  đấy, thăm dò một lúc, chạy lên hớt hải nói với mọi người đang đứng ngồi túm tụm:
      - " Đêm qua, bầy cá vào bờ chuẩn bị chổ đẻ. Tôi thấy chúng đã tướt sữa dính nhập nhầy trên đá trên rêu, dọc dọc theo bờ nước."
Nghe vậy, ai nấy đều mừng rơn. Có người không giữ được miệng , lớn tiếng:
      - " Cá đã tướt sửa rồi. Chắc chắn không bao lâu nữa, chúng sẽ vào bờ đẻ. Sướng quá chừng, bà con ơi. Ta mau sửa soạn xung trận là vừa."
      Bầy cá bơi vần vủ ngời ngời giữa vực sông, lúc chìm, lúc nổi, lúc phơi sống lưng xanh rì trên mặt nước. Chúng chạy vầy vầy quanh quanh một đổi lâu, rồi mỡ rộng vòng bơi, chuyển hướng. Từng đợt, từng đợt... rất lớp lang, nôn nã bơi vào bờ. Chúng tập trung dày đặc, chậm chạp bơi nghiêng mình đưa những cái bụng trắng hếu no tròn,  rồi lóc lách trườn bụng đè lên lớp lớp đá nhám phủ đầy rêu xanh nhơn nhớt sửa cá. Đây là lúc cá bắt đầu rặn đẻ. Con nào con nấy dạn hít, mắt lờ đờ, mệt nhọc; chẳng còn biết né tránh đám người đang đứng trên bải sông sát mé nước cạnh chúng.
      Ai nấy, nào đàn ông, thanh niên, thiếu niên, con nít choai choai... vội vàng cởi sạch quần áo để hết trên bờ, ở truồng ở trần dông dổng, họ kêu dói, gọi biểu nhau râng rang, vang dậy cả sông nước. Tất cả xăng xái nhào ra, mang xách, cầm vác đủ thứ đồ có thể dùng để bắt cá. ( bắt cá đẻ sông Tiên thời buổi ấy dễ ợt, dễ như bắt ốc hút Bàu Sấu Bình An ). Chổ nầy, bà con lấy mành đăng dừng kín khoanh vùng cô lập bầy cá đẻ vào trong, chỉ cầm vợt, vợt cá đổ vào giỏ vịt hay giỏ lái là xong. Chổ kia mấy người dùng cái nhủi đẩy cá vô bờ, cho cá nhảy tấp lên bải hoặc lóc lách chạy vào chăn, họ dùng vợt dùng rỗ xúc vợt cá đổ vào giỏ, vào bao bố, gọn trơn. Có nơi tụi con trai dùng giỏ hái chè để đừa xúc, vẫn bắt được cá như thường. Có một số chăn cá tự vào đẻ, nằm sắp lớp, chủ chăn chỉ cần khuân đá lấp kín cửa chăn là bắt gọn, nhanh như trở bàn tay. Nơi gần bờ sông đầu thác Vực Tròn  nước cạn nhưng chảy hơi mạnh, những loại cá lớn như cá gáy, vạp, măng nằm đẻ khá nhiều, ba cha con ông trùm Bạnh nhanh chân khiêng hai cái đó bự chát, đặt nằm xuống nước gần gần dưới chổ cá nằm đẻ, họ dùng tay, dùng rỗ xúc lùa từng đợt cá lóc lách lườn vào miệng đó; khi nào cá sắp đầy, họ hè nhau khiêng  lên bờ, mỡ nơm đó trút cá vào bao bố , khỏe re dể ợt. Riêng hai anh em ông Phó và ông Cửu Bảy có bốn cái chăn nằm kế tiếp nhau, thế nên vùng bắt cá của họ rộng rãi, lại trúng nơi cá nằm đẻ nhiều; hai ông bắt cá bằng tấm lưới ba có chân lưới  gắn nhiều cục chì to nặng, lại đeo thêm những vỏ ngao màu trắng to gần bằng bàn tay  sè; họ sãi lưới ra, mỗi người cắp nách một đầu lưới đem ra ngoài  biên sát gần bầy cá đẻ, xong, từng bước một cẩn thận kéo lưới lùa bầy cá vào bờ, ép chúng nhảy lên bải sông  hoặc chạy thọt vào nằm gọn trong chăn, số cá còn lại bị mắc ở giàn lưới; hai ông  quay lại dùng nơm, dùng vợt, dùng tay gỡ, bắt gọn mớ cá bỏ vào giỏ.
      Đặc biệt, gần cuối năm, ở thôn tôi, một số đàn ông trai tráng rũ nhau lên sông Trường tận trên Trà My, giẫy lưới bắt cá nguồn đem về ăn tết. Ở lại nhà chỉ có đàn bà và con nít. Mấy bà nghe tin có cá đẻ ở Vực tròn, nên vội vàng chạy đi coi, thấy cá nhiều quá, tiếc của đời, liền lội xuống sông ra tay bắt hôi. Mỗi lần nẹn được con nào, con nấy mình mẩy trơn nhớt, cá vừa vùng vẫy  là trụt khỏi tay, chạy ra giữa sông mất tiêu. Không bắt được, mấy bà tiếc hụt, liền nghĩ kế, bà nào bà nấy cởi trút lút quần , ở truồng dồng dổng, họ cột thắt hai ống quần lại thật chặc, xong, ngồi bệt , lấy hai tay cầm quần luồn  xuống nước, vừa đừa vừa xúc  cho cá chạy rúc vào quần, khi được một mớ, bèn len lén kéo quần lên bờ, đem đến mấy bụi cây  rù rì rậm rạp vừa núp vừa đổ cá ra, xâu  lại thành từng dọc, rồi lại lén lút chạy vụt xuống nước bắt tiếp....
      Mấy thằng con trai choai choai  hết chổ bắt cá, giỏ vịt đựng cá của chúng lại đầy ắp, nên bèn lên bờ mặc lại quần áo, nhen đống lửa, xúm nhau quây quần, đứng  ngồi sưởi ấm, nói cười đùa giỡn râng rang. Chúng liếc chéo, nhìn ngang, ngó dọc. Trên bải, dưới nước, bà con ai nấy đều ở truồng. Có đứa rắn mắt, nổi lên to tiếng trêu chọc cho đã miệng:
      - " Bọn bây ngó tê. Mùa cá đẻ năm ni khác lạ lắm đó. Không như mậy năm trước."
      - " Khác con khỉ khô chi? " Có  đứa trong bọn lên tiếng.
      - " Thì, cá đẻ nhiều hơn. Còn có cả cá rói, cá niêng, cá gáy, cá vạp,. . . Chứ không như mậy năm, toàn là cá sốc. " Một thằng làm khôn trả lời.
      - " Trật lất hết trọi. "
      - " Chứ khác nổi gì. Nói nghe coi? "
Thằng trai choai choai láu cá, bấy giờ mới chịu ' bật mí ':
      - " Thì, năm ngoái năm xưa, đến mùa cá đẻ thấy toàn cá tràu. Năm nay ngoài bầy cá tràu đông nghể, lại lẫn vào mấy con cá diếc to mề, múp rụp, lông lá đen ngòm, trông dễ sợ quá, bọn bây ơi."
Thằng láu cá vừa nói  oang oang, tay vừa chỉ xuống bà con trên bãi, dưới sông. Đàn ông ở trần truồng, để lòng thòng bộ ba cá tràu  ngời ngời. Mấy bà, bẻm cá diếc, e dè, lúc lộ lên trên, lúc ẩn dưới nước. Cả bọn ngó theo thằng láu cá, cùng ré lên cười, miệng chúng hả hoác, la lớn:
      - " Cá tràu, cá diếc... cá diếc, cá tràu... Cá tràu dầng cá diếc, cá diếc nuốt cá tràu. Con tràu, cái diếc... Cái diếc, con tràu..."
Bị trêu chọc, mấy ông liếc khéo mấy bà, rồi ngó xuống mình, thấy ngường ngượng, trong người hơi rúng động. Liền mặc lại quần áo, rồi to tiếng chửi mắng bọn trẻ choai choai :
      - " Tổ cha tụi bây. Đồ qủy sứ. . ."
Phần mấy bà nghe chọc, dị quá, mặt mày đỏ rầng, vội vàng kéo quần cá lên bờ,  chạy lủi  đến núp ở mấy bụi rậm, xâu cá, mặc lại quần, rồi vội vàng xách mấy dọc cá, len lén men theo đường lối đi về.
Còn bọn trẻ sợ mấy ông đuổi đánh, đành im bặt, nhanh chóng nách  vịt cá, lũi chạy một mạch, mất tiêu.
        Năm nay,  cá về đẻ bề bộn, nhiều nhất là cá sốc, thứ đến cá niêng, cá rói, cá lúi, cá vạp, cá gáy... Bà con đi bắt lại quá đông, nên chưa đến nữa buổi mai, loanh quanh bờ vực sông đã ngớt cá, chỉ nằm rãi rác đây đó vài con cá sốc nho nhỏ, chẳng mấy ai thèm bắt. Hai anh em tôi bèn rũ nhau chạy xuống đuôi thác Vực Tròn xem coi, thấy mấy con cá gáy, cá vạp, và một khúm  cá lúi nằm lẫn vào những đám rêu dài thườn thượt gần bờ, có nước chảy róc rách. Cá to quá làm bọn tôi thấy giựt mình, liền bỏ chạy lên nói thầm với cha. Cha con tôi vác đó, đem nơm, cầm vợt xuống , bắt được ba con gáy, bốn con vạp và một mớ cá lúi, chúng chưa kịp đẻ, bụng còn no nưởng mập mềm.                                    
       Cá đẻ sông Tiên đợt nầy, anh em ông phó, ông Cửu Bảy trúng nhất, cá đầy nghẹn một giỏ lái, lại đầy thêm một giỏ vịt nữa. Ba cha con tôi cũng dùng lưới bắt cá, nhưng gặp nơi cá nằm đẻ ít, thêm phần ai nấy lại chậm lụt, nên chỉ bắt được đầy một phần giỏ lái, thế là đã mừng lắm rồi, còn trúng hơn mùa cá đẻ năm ngoái, chỉ được một giỏ vịt lưng lưng.
 
      Khi cha con tôi khiêng giỏ cá về đến nhà, mẹ lấy cái nong phơi lúa để giữa sân, cha trút cá lên trên. Cả nhà xúm lại. Mấy đứa em gái còn nhỏ, cứ chạy vòng vòng quanh nong, xem cá, chỉ trỏ nói cười thích thú. Cha cầm rựa chẻ tre, kẹp những loại cá ngon như cá rói, cá niêng, cá hanh thành nhiều gắp, rồi phết mỡ hành lên mình cá, anh em tôi vào bếp gạt lữa than đem nướng. Cá gáy, cá măng, cá lúi..., mẹ và chị Hai đem ướp muối tiêu, nước mắm tỏi, nghệ, đường đem kho thành nhiều nồi, nhiều trã. Những loại cá nướng, cá kho nầy là những món cá ngon 'tuyệt cú mèo' của dòng sông Tiên nước ngược. Cá sốc đẻ, năm nay bắt được khá nhiều. Mẹ đem phân làm hai. Một số đem nhúng nước muối để phơi khô. Số nữa đem làm cá muối, cứ sắp mỗi một lớp cá lại rắc lên một lớp muối, đến khi sắp hết cá, mẹ rắc lên một lớp đường mía đen, trên cùng bỏ thêm một lớp cớm nỗ, xong đâu vào đấy, mẹ đậy nắp ghè, lấy dầu rái khằn miệng ghè lại thật kín, không cho hơi gió lọt vào bên trong ghè cá muối.  Cá phơi khô và cá mặn muối ghè để dành bao lâu ăn cũng còn ngon và rất đượm. Nhất là trong những ngày đông tháng giá, hoặc lắm khi trời mưa lụt lâu ngày thúi đất hay gió bảo liên miên; người người không ra khỏi nhà, khỏi cửa; Nậu biển không gánh được cá mắm lên nguồn đổi bán. Trong nhà sẳn có cá sông Tiên, kho nướng hay chưng lên, ăn với cơm gạo lúa giồng vàng nâu thơm phức, ngon miệng, ăn đến no bụng, vẫn còn thèm.
 
      Đặc biệt, đầu mùa xuân năm 1968, ba ngày tết, bà con làng xóm quê tôi có cá đẻ sông Tiên dồi dào để cúng cấp. Thêm, mùa gặt tháng Mười vừa qua, trúng to, lúa đổ đầy ví, đầy lẩm. Lại nghe tin có hưu chiến, cả hai phía lính quốc gia Miền Nam và bộ đội cọng sản Miền Bắc thỏa thuận ngưng đánh nhau. Ai nấy cứ tưởng được hưởng những ngày tết truyền thống đầm ấm, an lành và thanh bình. Nhưng mọi người chẳng được toại nguyện. Ba ngày đầu xuân, chiến tranh lại cứ bùng nổ dữ dội. Quê tôi chìm trong máu lữa. Nhà cửa, của cải tan nát. Gia đình ly tán, kẻ chết, người bị thương, mất tích. Ai còn sống thì đành bỏ cúng tết nữa chừng bương bả chạy tứ hướng, tìm nơi ẩn trú, lánh nạn. Em trai tôi mới mười lăm tuổi, bị cọng sản bắt tối mồng hai rạng ngày ba tết, đem đi giam cầm ở các trại tù cải tạo. Gần sáu tháng sau, em chết trong nhà kỷ luật, bỏ thây nơi núi rừng Tiên Lập.
 
     Sau năm Mậu Thân 1968, mấy năm liền, ở quê tôi, cứ đến tháng  Chín tháng Mười âm lịch; trời nổi những trận mưa to gió lớn, lụt lội, bảo táp không ngớt. Núi rừng, nương rẫy hai bên bờ sông sạt lỡ nhiều nơi. Đất đá từ trên cao trôi xuống, bồi lấp nhiều khúc sông. Các bải đá hai bên bờ Vực Nà Cờ bị lấp, lòng sông bị đất bùn bồi đục, nông cạn. Riêng Vực Tròn, thác nước, vực sông, bờ bải bị bồi lấp, trở nên bình địa, thành vùng đất nà. Nên, dòng chảy sông Tiên khi đến đoạn đầu Vực Tròn phải đổi hướng, băng qua Bàu Dài và Bàu Tròn, xóa tên hai cái bàu nầy, mà xưa kia rất bình lặng và thơ mộng.
        Dòng sông Tiên còn bị thêm nhiều hoạn nạn khác. Con người dùng thuốc bồi đạn pháo thuốc cá, ném lựu đạn, thủ pháo hoặc mang bình ấc quy dí điện xuống nước cho cá chết để bắt. Nạn khai thác vàng dọc theo con sông, làm bờ bải, lòng sông hục hang, lở lói, khiến dòng sông, con nước luôn đục ngầu. Đoạn sông dọc theo thị trấn huyện, người ta cho nổ mìn phá ghềnh đá, máy cày, máy ủi san bằng bờ sông, dùng đá chẻ xây bờ kè từ lòng sông cao lên tận mặt vườn, mặt rẫy. Rừng Rang, rừng Lách, đồi sim gần hai bên bờ sông ngày xưa, nay trở thành khu dân cư đông đúc. Đứng trên đầu bờ kè nhìn xuống, dòng nước chảy thông suốt, lững lờ . Sông bây giờ nhỏ nhoi như một  con suối, một sơn khê. Nào đâu những thác ghềnh, nào đâu những Vực Nà Cờ, Vực Tròn, Vực Dài, Ba Nấc, Hòn Giăng  ngày trước. Thế là, cá sông Tiên hết chổ sống, phần lớn phải chết vì bàn tay con người quỷ quyệt, vì thiên tai trời đất cuồng nộ. Một số ít sống sót, xuôi dòng về với sông Trạm, để rồi từ đây, ngược về lại nguồn, sinh sống ở sông Tranh và sông Trường tuốt trên miền thượng du Trà My.
     
           Mùa cá đẻ sông Tiên vào ngày 23 tháng chạp âm lịch năm 1967, là mùa cá đẻ cuối cùng ở quê tôi.


NGUYỄN ĐÌNH TỪ LAM
(tác giả gởi)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content




                                                                                                                                        
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Mười Hai 20182:42 CH(Xem: 62)
Trời mưa rả rích mấy hôm nay. Cây nhãn trước sân rụng hoa tơi bời. Má xuýt xoa, “Vậy là mất mùa nhãn năm nay rồi!”.
14 Tháng Mười Hai 20186:19 SA(Xem: 89)
Tờ sự vụ lệnh bỏ trong túi áo, chàng trẻ tuổi bước đến nhiệm sở với lòng hăng hái yêu đời,
10 Tháng Mười Hai 20187:26 CH(Xem: 117)
Thời nhỏ, tôi là học trò kém. Kém là chữ cô dùng, không như những người khác đều kêu: Đồ học dốt! Thấy chưa hả, lại thòng thêm chữ “đặc”. Dốt đặc là chi? Tôi nào có thông minh để hiểu thấu.
08 Tháng Mười Hai 20188:57 SA(Xem: 265)
Có thể từ ba, đến năm năm. Thời gian là cục gôm, cục tẩy. Mỗi ngày xóa đi một ít, chút ít, từ từ thôi. Cho đến ngày vết bầm phai nhạt,
06 Tháng Mười Hai 20189:35 SA(Xem: 185)
Thời Pháp thuộc, đồng bào ở miền Tiền Giang, Hậu Giang đều nghe danh... Đơn Hùng Tín.