DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,952,055

Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành

Tuesday, April 11, 201710:50 PM(View: 2554)
Trần Văn Sơn - Lui Binh Hành
TRẦN VĂN SƠN

 

THƠ TƯỞNG NIỆM

BA MƯƠI THÁNG TƯ -  MỘT CHÍN BẢY MƯƠI LĂM

 

blank

 


TỰ TRUYỆN

 

Trăm nỗi buồn vui ba định nói với con

Lần lữa mãi xem ra chừng đã muộn

Tuổi trung niên hai con vẫn còn lựa chọn

Ba quá già để nghĩ chuyện tương lai

 

Chuyện ngày xưa ba mẹ mới cưới nhau

Mẹ công chức ba quanh năm đánh giặc

Đồng lương mẹ chắt chiu từng xu từng cắc

Đồng lương ba tiền lính tính liền

 

Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm

Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi

Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới

Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây

 

Ba vào tù trước ngày Dương văn Minh đầu hàng

Nên cùng sống trong chín tầng địa ngục

Dân tộc Việt Nam gục đầu ô nhục

Quê hương điêu tàn bởi bầy thú dữ rừng sâu

 

Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu

Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố

Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ

Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu

 

Ba mẹ con bị bắt nhốt vào tù

Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng

Con khát sữa khóc la khản tiếng

Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng


Bạn tù thương pha nước lã muối đường

Đứa con lớn gậm khoai sùng ngộ độc

Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất

Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô

 

Hai đại tang đỗ ập xuống bất ngờ

Ông ngoại mất tiếp theo ông nội

Mẹ lịm chết tưởng không sống nổi

Chít khăn tang trên hai mái đầu thơ


Dưới gốc cây mẹ lập bàn thờ

Và di ảnh trong trái tim hoá đá

Nhang khói lạnh tanh cảnh đời nghiệt ngã

Biết về đâu giữa sa mạc hoang vu

 

Mười tám năm một thoáng phù du

Người trong cuộc hàng thiên niên kỷ

Mẹ gánh hai con gánh cả thiên thu

Đôi thúng nặng tình yêu chung thủy

 

Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba

Chín năm khổ sai ba miền Nam Trung Bắc

Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục

Hành khất trời hành khất đất Phương Nam

Hành khất dung thân ở cuối đường hầm

Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…

 

blank

 


LUI BINH HÀNH

Tặng 2 vị Tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô & Lê Hùng

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

chiến trận bao năm chưa chiến bại

một ngày buông súng quỉ thần kinh

 

Ghìm súng đêm đen đồi Bảo Đại

quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm

Hoài Đức pháo rơi như đậu vãi

về đâu quốc lộ 1 mù tăm

 

Băng rừng vượt chốt mở đường máu

tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

bi đông cạn nước tay lựu đạn

máu trộn mồ hôi lẫn xác người

 

Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc

ba lô nón sắt vững lòng dân

hình vợ thẻ bài đeo trước ngực

Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân

 

La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn

Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên

quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu

sống chết trời cho súng nổ rền

 

Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha

giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà

Võ Xu, Chính Đức rồi Võ Đắt

về đâu La Gi xa thật xa

 

Người lính can trường vuốt mắt bạn

cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng

hỡi ơi chiến trận anh hùng tận

vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng

 

Đêm sao Bắc Đẩu soi mắt thần

mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm

Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến

hải đội đâu mà biển lặng câm

 

Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi

mất tích thương vong lính tả tơi

tận nhân lực anh hùng mạt vận

xuôi đời theo vận nước nổi trôi

 

Lui binh lui binh hề lui binh

tướng giỏi nghiến răng nén bất bình

trăm trận ra quân trăm trận thắng

tháng tư bẻ súng đất trời kinh


 

blank

 


THÁNG TƯ VÀTRẦN HÒA BÌNH

 


Tháng tư con chào đời

Di tản thuyền thay nôi

Con nằm ôm vú mẹ

Biển động mưa đầy trời

 

Con mười lăm ngày tuổi

Sốt cao sẩy đầy người

Con nằm thoi thóp thở

Thuốc chữa bầu sữa tươi

 

Ấp yêu vòng tay mẹ

Lớn khôn ngàn trùng vây

Gầm cầu thương xó chợ

Chiếu rách thương vòm cây

 

Mẹ mơ ngày đoàn tụ

Dưới mái nhà thân yêu

Bên chồng con cha mẹ

Bên bếp hồng cơm rau

 

Ba mơ ngày yên giặc

Đặt tên con HÒA BÌNH

Hòa bình đâu chẳng thấy

Thấy khổ sai nhục hình

 

Khoảnh khắc bốn mươi năm

Con thành công dân MỸ

Khốn khó bỏ sau lưng

Miền viễn tây hùng vỹ

 

Các con ngày mỗi lớn

Sống cuộc đời thảnh thơi

Nhớ tháng tư tang tóc

Di tản thuyền thay nôi

 

Ba mẹ ngày mỗi già

Theo nội ngoại không xa

Con còn một TỔ QUỐC

Bên kia giải ngân hà

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Sống phải biết cội nguồn

Con da vàng máu đỏ

Sữa mẹ nuôi lớn khôn

 

Nhớ lời ba mẹ dặn

Nhân loại một mái nhà

Gia tài con sẽ nhận

Sống TÂM ĐẠO mẹ cha

 

 

 blank

 


BẮT ĐẦU

Tặng niên trưởng Nguyễn Văn Xa*

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong chòi xác

Ngực còn ấm hy vọng ngày họp mặt

Óc còn tươi mơ hạnh phúc gia đình

 

Bạn nằm im vĩnh biệt bạn bè thân

Bạn bè một thời nằm gai nếm mật

Bạn bè một thời chung lưng đấu cật

Nay chung tù, chung khổ nhục bên nhau

 

Đến tận cùng mới thật sự bắt đầu

Khi bạn ta nằm im trong bóng tối

Sự sống bắt đầu bằng bàn tay đồng đội

Bằng tình thương cứu sống Nguyễn Văn Xa

 

Bằng niềm tin thánh thiện bao la

Từ địa ngục bạn tìm về nguồn cội

Từ địa ngục bạn đến vùng đất mới

Và bắt đầu, thật sự của chúng ta

 

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu bằng hồi chuông báo tử

Sự sống bắt đầu trong buồng tim máu ứ

Vỡ tung thành đồi núi biển sông

 

Tim phổi còn tươi mặt đất ấm nồng

Bạn ta bắt đầu cõi về xa lạ

Đến tận cùng mới thật sự hiểu ra

Sự sống bắt đầu gọi tên Nguyễn Văn Xa

 

 

[*] Niên trưởng Nguyễn văn Xa chết hai lần tại Trại Tù Yên Bái miền Thượng du Bắc Việt, xác nằm trong chòi lá dưới chân đồi chờ sáng đem chôn. Bạn tù, một Bác Sĩ Quân Y/ QLVNCH, vô tình vào gặp rờ ngực thấy còn ấm làm hô hấp nhân tạo cứu sống ông . Lần thứ hai , xác ông cũng bị vứt trong chòi lá dưới chân đồi, đêm tỉnh lại ông bò lên đồi và được bạn tù khiêng vào trại cứu sống . Ông cùng gia đình qua Mỹ diện HO và hiện sống ở Nam California .

 

 

 blank

 

TIỄN BẠN

Tặng Vũ Uyên Giang

 

Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay

Rượu hòa máu hận thấm khăn tay

Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn

Ta cất lều tranh dưới tán cây

 

Bạn cười gằn thế sự đảo điên

Anh hùng mạt vận cố ngoi lên

Đập ly - ly vỡ đau lòng nước

Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn

 

Bạn gửi ta bao cát biệt giam

Áo tù may ấm lạnh mười năm

Vợ con biết có còn lưu lạc

Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm

 

Tặng bạn ba lô thời tử thủ

Băng rừng lội suối vượt trường sơn

Dường về ngắn nhất con đường cũ

Sông núi vùng lên lẽ sống còn

 

Ta bạn lính – tù chung số phận

Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau

Nay xa mai gặp đâu là bến

Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu

 

Mình ta ôm góc núi bơ vơ

Loay hoay vạch lá lối sương mờ

Đường về trăm nẻo mà ngăn cách

Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ

 

Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ

Tóc râu tua tủa tựa người rừng

Chân tay mọc rễ vùng đất khổ

Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn

 

Ta khắc lời thề trên thớ gỗ

Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm

Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ

Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm

 

Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên

Sợ lâu ngày quên mất họ tên

Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt

Lều tranh đom đóm kết hoa đèn

 

Ta đốn rừng cây xây thành lũy

Dựng biên cương núi thẳm vực sâu

Mai kia thiên - địa - nhân tri kỷ

Ta bạn về đây ở tuyến đầu

 

Trần Văn Sơn
(tác giả gởi)



*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 23)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 42)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 56)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 141)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 156)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)