DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,045,099

Tiễn Biệt & Nhớ Phạm Ngọc Lư - Phạm Cao Hoàng, Uyên Hà, Lê Đình Ba, Luân Hoán, Mang Viên Long, Huyền Chiêu

Wednesday, June 14, 20177:28 AM(View: 2318)
Tiễn Biệt & Nhớ Phạm Ngọc Lư - Phạm Cao Hoàng, Uyên Hà, Lê Đình Ba, Luân Hoán, Mang Viên Long, Huyền Chiêu

Tiễn Biệt & Nhớ Phạm Ngọc Lư


 

blank 

 

 

 



1.

 

PHẠM CAO HOÀNG:

Phạm Ngọc Lư, Một Đời Tài Hoa

 

Năm 1970 tôi được thuyên chuyển về dạy học ở Tuy Hòa. Đây là khoảng thời gian tôi có dịp rong chơi với Phạm Ngọc Lư. Phạm Ngọc Lư quê ở Huế, sau khi tốt nghiệp sư Phạm Qui Nhơn vào năm 1967 anh được phân công về dạy ở Tuy Hòa. Anh thuê chỗ trọ ở đường Nguyễn Huệ và ăn cơm tháng ở tiệm ăn Mỵ Châu Thành.  Chỗ anh ở trọ chỉ cách nhà tôi một con đường, chiều nào anh cũng ghé nhà tôi chơi, thân đến mức như người trong nhà.  Vì lý do nào đó mà năm ba hôm không thấy anh đến là cha tôi lại hỏi: “Mấy bữa nay sao không thấy Lư ghé chơi?” Sau năm 1975, gia đình tôi tan tác, anh em mỗi người một phương, sau này gặp lại nhau bên Mỹ, mỗi khi nhắc lại bạn bè cũ ở Tuy Hòa, các anh của tôi vẫn nhắc đến Lư. Lư hiền lành, ít nói, và hơi bất cần đời. Anh có biệt tài thổi sáo và rất giỏi chữ Hán vì trước khi vào sư phạm anh học ở Viện Hán Học Huế. Truyện và thơ của anh đều hay, với lối viết sắc sảo, cô đọng và chặt chẽ; đặc biệt trước 1975 truyện của anh xuất hiện đều đặn trên tạp chí Văn ở Sài Gòn – điều mà các cây bút trẻ dạo ấy không dễ gì có được. Cũng như Y Uyên, Bùi Đăng, Mang Viên Long, anh có thời gian dạy học ở vùng nông thôn  Phú Yên, trực tiếp chứng kiến những cảnh tượng hãi hùng của chiến tranh. Anh luôn ưu tư về tinh hình đất nước và phần lớn các sáng tác của anh đều có nội dung tố cáo và lên án tội ác của chiến tranh.  Tôi chính thức tham gia vào sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Tuy Hòa từ năm 1970 đến 1972, trong khoảng thời gian đó ngoài Phạm Ngọc Lư tôi thường gặp các anh Trần Huiền Ân, Đỗ Chu Thăng, Mang Viên Long và điều trùng hợp ngẫu nhiên là tất cả đều là giáo chức. Sau năm 1975, vì nhiều lý do khác nhau tất cả đều không còn làm nghề dạy học. Mỗi khi nghĩ đến chuyện các anh không còn đi dạy tôi không khỏi chạnh lòng vì tôi biết rõ các anh rất yêu nghề dạy học. Các anh rơi vào cảnh lỡ thợ lỡ thầy. Trần Huiền Ân chuyển qua làm nghề vẽ pa-nô và bảng hiệu, Đỗ Chu Thăng về quê ở Hòa Mỹ làm ruộng, Mang Viên Long về quê ở Bình Định làm nghề sửa ổ khóa, còn Phạm Ngọc Lư lưu lạc vào Long Khánh, ngồi ờ ngoài chợ bán dừa, bắt đầu đoạn đời lận đận lao đao từ đó. Khi tạp chí Thư Quán Bản Thảo do Trần Hoài Thư và Phạm văn Nhàn chủ trương ra đời, Phạm Ngọc Lư viết khá đều vả gửi bài cộng tác – chủ yếu là thơ, những bài thơ rất buồn, nhưng chỉ một thời gian sau thì anh tuyên bố ngừng viết. Một số email anh gửi tôi cách đây 5 năm cho thấy anh đang trải qua những ngày tháng vô cùng khó khăn, không còn tha thiết gì đến văn chương, nhưng không nói rõ khó khăn gì mà tôi thì không tiện hỏi. Trên các diễn đàn văn học, bài vở cộng tác của anh thưa thớt dần rồi không thấy nữa. Chiều nay tin từ gia đình và bạn bè ngoài Đà Nẵng cho biết sau hơn một năm chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, anh đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 7 giờ kém 5 tối thứ sáu, 26.5.2017, tại Đà Nẵng. Một đời tài hoa rồi cũng đến lúc phải dừng lại. Cầu mong linh hồn người bạn thơ sớm yên nghĩ nơi cõi vĩnh hằng.


Phạm Cao Hoàng

Virginia, 26.5.2017

 

*

 

 

UYÊN HÀ LÊ ĐÌNH BA:

Vĩnh Biệt Nhà Thơ Phạm Ngọc Lư

 


Tôi đến nhà lúc anh chưa được khâm liệm. Mình được đắp với mền Quang Minh, khuôn mặt tươi tỉnh và thanh thoát, da dẻ khá hồng hào. Chị Quý kể anh thở khó nhưng không đau đớn gì, từ một ngày trước nên nhà phải cho anh thở oxy. Chiều hôm qua, sau khi ăn, anh tỏ vẻ mệt hơn. Chi Quý nói với anh: Con cái muốn mời Thầy tụng kinh niệm Phật để anh đi được thanh thản. Anh gật đầu rồi lịm dần và thực sự tắt thở lúc 18:55'. Chiếc mền Quang Minh do vậy đã được đắp lên người anh sau khi anh chết. Lần trước, cách đây khoảng 2 tuần lễ, tôi và Đoàn Huy Giao đến thăm, chị Quý cho biết anh Lư hoàn toàn không tin vào tôn giáo nào. Chị Quý thì tin vào Chúa Trời.

Trong những ngày cuối, anh đã tỉnh táo tỏ bày ý muốn nhà anh sẽ giữ gìn tập thơ Đan Tâm mà anh chép tay và nhờ anh Hồ Công Khanh viết và trình bày bìa làm vật gia bảo và thờ anh. Nhưng chị Quý lại cho tôi xem đến 2 tập, cũng chính bản viết tay. Xem kỹ mục lục tôi thấy một tập gồm 150 bài thơ và tập kia chỉ có 132 bài. Tôi không biết anh chép tập nào trước và tập nào sau và 18 bài thơ chênh lệch giữa 2 tâp là được thêm vào hay bỏ ra.

Suốt trong thời gian anh nằm bệnh, chúng tôi thường đến thăm anh và nhìn nhận sự chăm nom săn sóc anh tân tình của chị Quý. Chị kể, trong lúc anh tỉnh táo và tỏ ra sẵn sàng với thần chết, chị đã thỏ thẻ hỏi anh: Là một nhà thơ, nhà văn anh là người lãng mạn. Em hói thật anh ngoài tác phẩm văn, thơ anh để lại cho đời, anh có để lại đứa con rơi nào không. em bảo đảm sẽ thương yêu nó như thương yêu con ruột mình. Anh có vẻ như cười mỉm, đấu ngón cái và ngón trỏ trên bàn tay thành một số không rồi đưa lên cho chị thấy.



Lê Đình Ba

*

 

 

LUÂN HOÁN:

Lạy Vọng Phạm Ngọc Lư

 

sau anh có thể đến tôi
mấy ai dành chuyến đi chơi vui này
tôi đếm thử trên bàn tay
còn ai khả dĩ sẽ thay được mình

điều kiện cụ thể phân minh:
cao tuổi và ốm đau thình lình luôn
cộng thêm gánh nặng nỗi buồn
vốn như khoảng trống khó lường cao sâu

chẳng phải râu tóc trắng phau
da nhăn xương lụn mới mau lên đường
đời dù chằng chịt vết thương
vẫn chưa bằng nỗi chán chường bỗng dưng

và tôi chừ bỗng lừng khừng
sợ sống dai quá mất hừng khí thơ
tôi mong được chết bất ngờ
nhất là trong lúc làm thơ huê tình...

*


lãng rồi đó, không cố tình

tiễn bạn mà nói về mình tỉnh khô
bạn ơi đừng quá bất ngờ
khi buồn tôi rất vẩn vơ như khùng

tiếc thương tôi nhớ lung tung
ngoài thơ văn, bạn cũng từng giúp tôi
nối tình lẩn thẩn môi vui
mong thành giai thoại khoe đời mai sau

con chim xanh hót vài câu
chúng tôi như thể từ lâu cánh liền
chuyện mới đó biến tự nhiên
còn bạn vừa mới qui tiên nhẹ nhàng

kính quí xin thắp mươi hàng
thay hương khói ấm, bạn vàng vui nghe
bay ngoan đừng mê lè phè
có "hành" cứ viết bạn bè chờ xem

nhất là còn luyến nhớ em
câu thơ nhớ mượt như tên tuổi từng...
chưa lạnh chân mà lạnh lưng
cho tôi lạy bạn cuối cùng thành tâm



Luân Hoán

2.27 chiều 26.5.2017

+

 

2

 

 

MANG VIÊN LONG:


Phạm Ngọc Lư 
và một thưở Tuy Hòa

Phạm Ngọc Lư tốt nghiệp trường Quốc Gia Sư Phạm Qui Nhơn khóa 4 niên khóa 1965 – 1967, ra trường được chuyển về dạy tại Tuy Hòa – Phú Yên. Lư học sau tôi một khóa, nhưng với thị xã Tuy Hòa thuở ấy, nhỏ nhắn và yên lành – chúng tôi dễ gặp nhau và trở nên thân thiết vì tình văn nghệ, tình đồng nghiệp, đều từ phương xa đến.
Thưở ấy, ở những tỉnh xa, thị xã nhỏ như Tuy Hòa, gặp thêm được bạn văn chúng tôi rất gần gũi và quý mến nhau. Có thể do số lượng anh em tham gia sinh hoạt còn ít, phương tiện di chuyển khó khăn, và cuối cùng, dường như ai cũng đang bị “buột chặt” với bao lo toan, bất trắc! Nhưng dầu chưa có dịp sum họp, cái tình văn sâu nặng vẫn đã có sẵn trong lòng mỗi người qua những sinh hoạt văn học nghệ thuật, qua tác phẩm của nhau, đã đọc, đã biết được…
Ở Tuy Hòa, chúng tôi vẫn thường gặp nhau sau những giờ đến trường, ngày chủ nhật, hay ngày nghỉ lễ; với các bạn văn, bạn đồng nghiệp quê Phú Yên như các anh Trần Huiền Ân, Đỗ Chu Thăng, Hoàng Đình Huy Quan, Nguyễn Phương Loan, Phạm Cao Hoàng, Phan Long Côn, Đàm Khánh Hạ, Khánh Linh (…). Sau nầy có Nguyễn Lệ Uyên đang dạy học ở Châu Đốc về thăm quê, có Võ Tấn Khanh từ Phan Rang ra thăm quê vợ. Thỉnh thoảng có thêm Lê Văn Thiện từ núi Sầm xuống, có Trần Hoài Thư, Lê Văn Trung, Phạm Văn Nhàn từ Qui Nhơn vô, có Thế Vũ, Trần Vạn Giã, Lê Ký Thương, Nguyễn Sa Mạc, Nguyễn Âu Hồng từ Nha Trang ghé lại, và có thêm Triều Hạnh – một “nhà – thơ – học – sinh” mới tốt nghiệp trung học. Năm Lư về Tuy Hòa thì Y Uyên chuẩn bị vào Thủ Đức, Bùi Đăng đang bị “thất lạc”…Dầu việc đi lại khó khăn là vậy, nhưng ở Tuy Hòa, chúng tôi cũng đã có nhiều dịp tiếp đón nhà văn Võ Hồng về thăm quê, chị Minh Quân, anh Doãn Dân, Lữ Quỳnh, Nguyễn Kim Phượng, Mai Thảo, Duyên Anh, Vũ Hữu Định, Tạ Chí Đại Trường (…). Tuy Hòa bé nhỏ, nhưng rất dễ thương là vậy! Mỗi lần có tin anh chị em văn nghệ từ phương xa ghé lại thăm, là y như chúng tôi đều có mặt, đều chia sẻ, đều vui mừng. Phạm Ngọc Lư rất sốt sắng trong chuyện nầy…
Tuy Hòa có vài quán café dễ thương, thoáng mát như Cây Phượng, quán Nhớ, Hoài Bắc…Buổi sáng, trước giờ đến trường, chúng tôi thường hẹn gặp nhau ở những quán café, hay quán ăn điểm tâm, để trò chuyện, thông báo cho nhau tin tức bạn bè, tin tức văn nghệ biết được qua sách báo, thư từ của nhau…Thuở ấy, chúng tôi ít có thói quen “cụng ly” ào ào với nhau như bây giờ, nhưng vẫn thường lai rai thâu đêm bên “cỏ may thần tửu” trong sân vườn nhà một người bạn, hay trên căn gác gỗ của nhà thơ Khánh Linh! Những lần gặp, Lư đều có mặt, nhưng anh ít nói, cũng ít cười! Chỉ thầm lặng nghe. Vui lắm, chỉ nhếch môi, không nghe tiếng. Gương mặt Lư thường có vẻ gì khắt khổ, đăm chiêu, lạnh lùng…Nhưng trong ánh mắt anh, tôi hiểu – sự chia sẻ, cảm thông, vẫn có thể biết được, qua những câu nói ngắn ngủi, mà chân tình! Qua những bài thơ tâm huyết của anh với giọng ngâm Huế da diết, có lúc rắn rỏi, khí khái. Có đôi khi, quanh quẩn trong cái thị xã yên vắng chỉ có vài con đường phố nhỏ, cũng thấy buồn – chúng tôi rủ nhau về thăm miền quê…Thăm nhà một người bạn, hay một vài người học trò yêu văn, thăm vài di tích Phú Yên.
Gần Lư, tôi mới biết thêm người bạn đời của anh là người cùng quê Bình Định với tôi. Có lần về Qui Nhơn, Lư đã đưa tôi đến thăm nhà ở đường Nguyễn Huệ. Chúng tôi lại có thêm “sợi dây” đồng hương ràng buộc, ngoài tình văn, tình đồng nghiệp!
Cũng như nhiều người, Lư lận đận từ sau năm 1975. Bẵng đi một thời gian dài gần 10 năm – bất ngờ, một buổi sáng Lư đã ghé An Nhơn thăm tôi. Vội vàng. Năm 1998, lang thang vào Saigon kiếm sống, tôi ghé thăm anh Trần Phong Giao – người thư ký tòa soạn tạp chi Văn năm xưa, được biết tin Lư đang lưu lạc từ quê nhà vào miền núi rừng Long Khánh để theo toán đào vàng; mạo hiểm để hy vọng tìm vận may, khi đã cùng đường! Rồi sau đó thất bại, trôi dạt đến Saigon, bây giờ là Đà Nẵng…
Năm 2003, tôi gặp lại Phạm Ngọc Lư ở Tuy Hòa cùng với với Nguyễn Lệ Uyên, Võ Tấn Khanh. Giống như tôi, Lư rất nhớ Tuy Hòa, luôn tìm dịp vào thăm. Tuy Hòa đối với chúng tôi là nơi mở đầu cho nghề Thầy, cũng như bắt đầu cho bao ước mơ văn chương đã được ấp ủ của một thời tuổi trẻ. Khoảng tháng 6 năm 2008, tôi có dịp ra Đà Nẵng, đã phone gặp Lư. Anh em ngồi lại mà ôn nhớ đủ thứ chuyện thăng trầm nơi chiếc quán café nhỏ; lòng ngậm ngùi, lạc lõng . Anh cho biết, để có thể ổn định đời sống, anh đã mở lớp dạy tư môn Anh văn, vợ bán buôn phố chợ…
Gần khuya, Lư chở tôi trên chiếc Honda cũ về thăm nhà, quanh co bên kia cầu sông Hàn. Tôi gặp lại chị Quý – vợ anh, người vợ nặng tình của một nhà giáo, nhà thơ thất thế; nhưng trông chị rất vui khi nhắc lại chuyện cũ Qui Nhơn – Tuy Hòa, và những tháng năm không thể nào quên! Tôi đã biết chị rất đảm đang, chịu khó rất mực, trong những năm tháng lao đao…
Lúc nầy, ngồi nhớ lại – hình ảnh Phạm Ngọc Lư còn đọng lại trong tôi vẫn là một dáng dấp thầm lặng, cô đơn…
Và, tôi vẫn thường tự hỏi: “Chúng ta đều là những kẻ cô đơn chăng?”



Mang Viên Long

Bình Định, 27.5.2017

 

*

 

HUYỀN CHIÊU:


Gặp Lư ở Tuy Hòa

Ngàn sau hồn chữ rêu phong
Miên man thiên địa…tấc lòng du du
(Phạm Ngọc Lư)


Thuở trai trẻ, Lư từ Huế vào dạy học ở Củng Sơn, xứ ấy ít ai dám đến nhận nhiệm sở… Củng Sơn là một quận miền núi, heo hút, nằm dựa lưng vào dãy Trường Sơn cách Tuy Hòa khoảng ba mươi cây số:
“Bốn phía rừng xanh màu nước độc
Đông tây nam bắc núi chận đường
Một lũng đất bằng khu chén nhỏ
Trói chân ta vào chân Trường Sơn (1)
Thời đó, ít ai dám xuôi con đường độc đạo từ Củng Sơn xuống Tuy Hòa. Chiến tranh đang hồi ác liệt và thầy giáo Phạm Ngọc Lư đành:
“Bó đời ta trong manh chiếu rách
Đêm nằm mộng lớn nuốt mộng con

Nằm chi đây, thân tàn đất trích
Chờ ai đây, đói lã chết mòn (1)
Nhưng cũng nhờ cái xứ “Canh khuya cọp gầm vang núi Lá” (1) ấy mà chúng ta có được tuyệt tác Biên Cương Hành của Phạm Ngọc Lư.
Trong phim Cầu Sông Kwai, ở cuối phim, hình ảnh người bác sĩ quân y gầy gò, đứng thẩn thờ, lặng nhìn dòng sông loang máu hàng trăm xác lính, những xác người mà ông đã từng tận tụy cứu chữa trước đây khi họ bị thương cứ làm tôi nhớ mãi.
Lư không cầm súng, nhưng nơi đất trích Củng Sơn, chứng kiến thảm kịch máu đổ vì bom đạn cứ tiếp diễn ngày nọ qua ngày kia một cách phi lý, trái tim anh đã nghẹn ngào nhỏ lệ:
“Đây biên cương ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi, ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương”

Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non” (2)
Thơ Lư thật buồn và… khổ nữa. Lư muốn đời mình trôi đi như dòng nước nhưng dòng sông của Lư lúc nào cũng như muốn ngừng lại ở những bến sông buồn bã nhất:
“Chảy đi chảy đi
Hỡi sông buồn lắm
Nước thôi chờ chi
Thuyền xưa đã đắm

Chảy mau chảy mau
Đời nông tình cạn
Mà nước quá sâu
Trăm chiều khổ nạn

Đưa ai tiển ai
Phai hình mất bóng
Khổ lắm người ơi
Qua sông mất nón (3)
Sau 1975, dòng sông của Lư lênh đênh đưa Lư vào tận Long Khánh.
Chàng quyết chí:
“Ra đi mưu cầu y thực” (5)
Chợ Long Khánh là nơi Lư thử thời vận:
“Ngày mấy bận áo khô áo ướt
Trời trớ trêu chợt nắng chợt mưa

Ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ
Bán gió rao trăng một núi dừa!

Bán mua mua bán người đen trắng
Hơn thiệt thiệt hơn thói lọc lừa.
Không thành công trên đường kinh doanh …dừa, Lư chán ngán ngồi uống rượu:
“Uống say ném áo …lên nóc quán
Hết nợ hết duyên vĩnh biệt dừa” (4)
Lang thang mấy bận, lần này trở về Phá Tam Giang lòng Lư nặng trĩu:
“Mười năm dong ruổi mòn đất khách
Về cố hương chiều xế nắng tàn
Bỏ nón, tháo giày, xăn tay áo
Rửa phong trần thẹn với Tam Giang”

Mưa miền Nam nắng miền Nam
Trông mây thấp thỏm, nghe gió bàng hoàng
Mười mấy mùa trôi qua không nhớ
Quá đỗi mưa đau
Quá nhiều nắng khổ
Lẽ nào trời bỏ ta chăng?

Thôi rửa hết phong trần nơi bến vắng
Để trở về đứng khóc dưới hương quan” (5)
Anh Khuất Đẩu và tôi gặp Lư lần đầu ở nhà Nguyễn Lệ Uyên. Nhà Nguyễn Lệ Uyên ở tận Hòa An cách ga xe lửa gần năm cây số. Anh Nguyễn Lệ Uyển đón và chở tôi, một ông xe ôm chở anh Khuất Đẩu. Xe chạy băng băng qua những cánh đồng lúa chín vàng.
Xa xa núi Chóp Chài in bóng. Xe ngừng đã thấy Phạm Ngọc Lư đứng đón trước cổng nhà. Lư dáng thư sinh nho nhã, áo sơ mi trắng cài khuy trịnh trọng. Trong không gian thoảng mùi hương lúa, dưới bóng cây mận già, trong nếp nhà cổ kính, mọi người vui mừng như đã quen nhau từ lâu.
Chị Hoa, vợ anh Nguyễn Lệ Uyên rủ tôi đi chợ. Bữa cơm có đậu rồng hái trong vườn nhà, có rau lang luộc mọc đầy dưới gốc mai, có cá lóc um chuối non.
Chiều xuống có thêm vài người bạn của Nguyễn Lệ Uyên đến đến chơi bàn luận chuyện văn chương ngày tháng cũ, uống rượu với nem Ninh Hòa và nghe Phạm Ngọc Lư ngâm thơ.
Lư vốn con nhà nho, giỏi thơ Đường, biết làm bài Hành, bài Phú vì vậy giọng ngâm mang vẻ hào sảng của một “Nho sinh lỡ Vận”:
“Ta mím môi chỉ Tam Giang thề hẹn
Không là Tương Như mà khí khái dâng tràn”
Bước xuống thuyền nhìn trời cao dỏng dạc:
Gõ mạn thuyền ngâm khúc Hành Phương Nam”

Phá Tam Giang ôi Phá Tam Giang!
Gió hiu hiu sóng gợn mơ màng
Nước vẫn mặn mòi mây quen thuộc
Sao lòng ta sóng ly tan” (5)
Trời khuya, rượu cạn, chàng nho sinh bổng biến thành cuồng sĩ:
“Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng”

Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn” (2)
Lư có bề ngoài hiền lành, nhỏ nhẹ nhưng trò chuyện lâu mới hiểu tính anh rất cương trực, ghét thói xu thời.
Mờ sớm, mọi người đã dậy, cùng ngồi bên nhau dưới gốc mận trong sân vườn, ăn chén cháo nóng chị Hoa nấu, uống với Nguyễn Lệ Uyên chén trà tạm biệt.
Xe taxi đón Lư anh Khuất Đẩu và tôi xuống bến xe đò. Đưa tay vẫy chào chúng tôi, Lư bước vội về hướng bến xe Đà Nẳng.
Sáng hôm ấy Tuy Hòa cuối tháng giêng trời thật đẹp. Ngồi trên xe, tôi lật vài trang trong tập thơ Đan Tâm mà Lư vừa tặng. Gặp mấy câu thơ đọc thấy lòng rưng rưng:
“Chong đèn thức với mưa khuya
Hồn thơ xác chữ đầm đìa mưa xanh
Mộng con mộng lớn tan tành
Chỉ còn bút mực đan thanh tươi màu” (6)


Huyền Chiêu
Tháng 5 2016

1- Đất Trích

2- Biên Cương Hành
3- Bên Sông
4- Ngồi Chợ
5- Trở Về Phá Tam Giang
6- Chỉ Còn Đan Tâm


(Tổng hợp từ: luanhoan.net)




*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần

(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content





Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S


Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh


(714) 724-5699

scan_pic0035-content

hoang_anh_1_0-content


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, July 17, 20199:44 PM(View: 122)
Tôi đợi một người. Đợi tác giả “Em ơi, Hà Nội Phố.” Đợi Phan Vũ. Một người tôi không quen. Một tên gọi chỉ mới gần đây, dấy lên trong tôi, một điều gì, như muốn nói với ông, lời cảm ơn. Khởi đi từ P. Kim gửi cho tôi ca khúc “Em ơi, Hà Nội Phố.”
Monday, July 15, 20196:43 AM(View: 233)
Những ai say đắm bài thơ Động Hoa Vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều ý tứ về “động hoa vàng” được ông lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long.
Thursday, July 11, 20195:11 PM(View: 124)
HNB sinh năm 1938 ở Quảng Trị, ông là một nghệ sĩ đa tài và độc đáo, tác giả của nhiều tập thơ, tập truyện, bức tranh, công trình biên khảo được nhiều người biết từ khi còn ở Sài Gòn đến khi định cư ở Hoa Kỳ.
Sunday, July 7, 20193:29 PM(View: 239)
“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. NL. 7-7-1963
Wednesday, July 3, 20193:31 AM(View: 151)
Chữ nghĩa của Nguyễn Đình Toàn là một phần rất lớn trong thời đi học của tôi. Cũng như sương buổi sớm, không mấy ai thấy rõ, nhưng sương vẫn bay phả khắp trời