DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,770,326

Thi Sĩ Kiên Giang - Dương Bé, Nguyễn Phương

22 Tháng Sáu 20177:59 SA(Xem: 937)
Thi Sĩ Kiên Giang - Dương Bé, Nguyễn Phương
Thi Sĩ Kiên Giang



Image result for Thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà
                                                                                                                                             kiên giang




Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, bút hiệu khác Hà Huy Hà, sinh ngày 17.2.1929 tại Rạch Giá và từ trần ngày 01/11/2014 tại Sài Gòn.
Ông là một nhà báo và văn thi sĩ nổi tiếng của miền Nam. Ngoài ra ông còn là tác giả nhiều tuồng cải lương như Người đẹp bán tơ về tích Lưu Bình và Dương Lễ, và bài ca vọng cổ như Đội gạo đường xa do Hữu Phước ca, Trái gùi Bến Cát do Thanh Sơn trình bày. Thơ của ông mang một nét đặc thù miền Nam và nhiều bài đã được phổ biến rộng rãi. Như Nguyễn Bính, nhiều câu thơ của ông trở thành quen thuộc, phổ thông với quần chúng đến độ đương nhiên, không cần nhớ đến tên tác giả.

Thí dụ như các câu:

“Muối Bạc Liêu mặn tình biển cả
Tiêu Hà Tiên nồng ý quê hương”
hay
“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!!”

Tác phẩm đã xuất bản là hai tập thơ: Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962) và Lúa sạ miền Nam (1970).

Ông chuyên viết về các đề tài miền Nam, nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Kiên Giang yêu từng nơi từng chỗ của mảnh đất phù sa trù phú, từng cây trái, món ăn của vùng đất mới. Ông yêu những người dân chất phác, thuần lương. Ông đem nhiều địa danh, đặc sản của miền quê lành nước ngọt vào thơ văn. Đọc thơ Kiên Giang ta thấy cả một vùng quê hương trải dài trước mắt, thấy cả tấm lòng hiền hòa của một người ôm ấp, gắn bó với quê hương.


Image result for hoa trắng thôi cài trên áo tím


“Hoa trắng thôi cài trên áo tím” là bài thơ nổi tiếng nhất của Kiên Giang. Bài thơ kể lại một mối tình học trò ngây thơ nhưng thơ mộng giữa một cô gái có đạo và một người trai ngoại đạo. Chàng từ cổng trường rụt rè nhìn nàng trong tà áo tím mỗi lần tan lễ nhà thờ. Cùng về một lối nhưng lời thương chưa một lần dám ngỏ. Cho đến một ngày nàng lên xe hoa về nhà chồng, chàng ở lại ngơ ngẩn nhìn theo trong tiếng chuông nhà thờ vang đổ. Giặc vào xóm đạo, xâm chiếm nhà thờ. Chàng ra thân chống giữ, bảo vệ quê hương.

Một điều bất ngờ là câu chuyện tình đến đây đi ra hai ngã. Không phải là hai cuộc đời riêng rẽ của chàng và nàng. Tác giả đã làm một việc có lẽ là độc nhất vô nhị trong lịch sử thi ca của Việt Nam, chỉ thấy trong cách làm phim tại Hollywood. Ông Kiên Giang đã cho câu chuyện tình hai kết cục hoàn toàn khác nhau.
Bài “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được làm lần đầu tiên tại Bến Tre vào ngày 14-11-1957. Trong bài nầy, sau ba năm theo chồng cô gái chết đi và quan tài được đưa trở về xóm đạo. Chuông nhà thờ lại vang lên đưa tiễn nàng ra đi mãi mãi với vòng hoa tang trắng và nỗi tiếc thương vô hạn của người ở lại.
(Các đoạn chữ in nghiêng là những đoạn khác nhau giữa hai bài thơ)

HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM
(Tâm tình của người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo)

Lâu quá không về thăm xóm đạo

Từ ngày binh lửa cháy không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học

Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường

Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông

Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẻ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường.

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ

Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

Sau mười năm lẻ, anh thôi học

Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ

Chiếc áo tang liệm một khối sầu
- Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng

Dù cách đò ngang cách mấy sông
Anh vẫn yêu người em áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo

Anh làm chiến sĩ giử quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường.

Mặc dù em chẳng còn xem lễ

Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm

Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

Ba năm sau chiếc xe hoa củ

Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh

Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo

Không còn đứng nép ở lầu chuông
Nhưng khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo

Nhưng tin có Chúa ngự trên trời”
“Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!!”.
Bến Tre, 14-11-1957

Khoảng sáu tháng sau, vào ngày 28-05-1958 tại Gia Định, không biết vì một lý do gì tác giả đã sửa đổi đoạn kết của bài thơ. Chàng trai đã hy sinh trong lúc chiến đấu chống giặc. Nàng thương tiếc người bạn đồng song nay không còn nữa. Đặt trên nắp cỗ quan tài một cành hoa trắng, nàng theo xe tang đưa tiễn chàng giữa tiếng chuông nhà thờ ngân đổ.

HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM

.............................................
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng

Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ xây tường lũy
Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù

Nhưng rồi người bạn cùng trang lứa

Đà chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, em nức nở
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Mà cài trên nắp cỗ quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò mãi thắm tươi

Xe tang đã khuất nẻo đời

Chuông nhà thờ khóc… tiễn người ngàn thu
Từ đây, tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng trên mồ người xưa.

Kiên Giang
Gia Định, 28-05-1958


Cho đến nay Kiên Giang vẫn chưa lên tiếng về lý do tại sao ông đã viết lại kết cục của bài thơ. Một điều lý thú là cả hai bài đều vẫn lưu hành song song với nhau dù bài sau (28-05-1958) được phổ biến nhiều hơn và đã được phổ nhạc, gần đây nhất là bài “” do Như Quỳnh hát.

Dương Bé
(từ: email)


                                                                                                            *


                                                 Thi Sĩ Kiên Giang bỏ phố về rừng


Những người yêu mến thơ của Kiên Giang sửng sốt khi anh lên đọc bốn câu thơ mới sáng tác, xem như tổng kết cuộc đời của thi sĩ chân quê miền Nam, thi sĩ Kiên Giang:


Chiều tàn cô độc, sống cô đơn
Tan nát mấy lần chuyện vợ con
Sự nghiệp chỉ còn mồ bản thảo
Trận đời thua trắng giá tâm hồn.


Có người nói là cuộc đời của nhà thơ không mấy khấm khá, cái nghèo đói túng quẩn như món nợ tiền kiếp nên trong thơ của Kiên Giang không thấy bóng dáng của sự giàu sang sung túc, không có cuộc sống ấm no hạnh phúc với vợ con mà thơ của Kiên Giang gồm toàn những lời bi thiết của kẻ thất cơ lở vận, hận đời, hận mình!

Và người ta nhắc những câu thơ than thân trách phận dù lời thơ là nói về kỷ niệm thả diều thuở ấu thơ của Kiên Giang:


Cái thú thả diều trên bãi cỏ
Nay là kỷ niệm của ngày xưa
Đời ta như cánh diều tơi tả
Đứt nát tơ lòng giữa gió mưa.


Thật ra không phải cuộc đời của thi sĩ Kiên Giang lúc nào cũng đói nghèo, không kiếm ra tiền để sinh sống đàng hoàng như những văn nhân, thi sĩ, soạn giả đồng thời với anh. Phải nói là trước năm 1975, cũng như các nghệ sĩ và soạn giả khác sống trong thời hoàng kim của sân khấu cải lương, Kiên Giang có số thu nhập hằng tháng rất cao, nếu so sánh với lương tháng của công chức hay nhơn viên các xí nghiệp lớn ở Sài gòn.
Soạn giả Kiên Giang là soạn giả thường trực của các đoàn hát lớn như Đoàn hát Thúy Nga, đoàn Bích Sơn Ngọc An, đoàn Thanh Minh Thanh Nga... Kiên Giang cũng là soạn giả độc quyền của hãng dĩa Hồng Hoa (hãng Asia đổi tên), tuồng của Kiên Giang hát trên sân khấu được hãng dĩa Hồng Hoa, Lam Sơn thu thành bộ tuồng cải lương 8 dĩa. Kiên Giang còn là Trưởng ban Mây Tần Đài Phát Thanh Sài gòn và ký giả kịch trường của nhật báo Lẽ Sống.

Nên biết là lương mỗi đêm của soạn giả thường trực của đoàn hát cải lương là 200 đồng, tính luôn các suất hát trưa chúa nhựt, mỗi tháng tiền lương của soạn giả thường trực là 6.800 đồng. Tiền contrat soạn giả độc quyền của hãng dĩa là 5.000 đồng, mỗi bài vọng cổ thu dĩa được trả 1.000 đồng. Tuồng cải lương 8 mặt dĩa là 8.000. Tiền bản quyền tuồng cải lương được hát mỗi đêm là 6 phần trăm trong tổng số thu, nếu hát ở Rạp Hưng Đạo, bán vé complet thì tiền bản quyền một suất hát ít nhất là 2.400 đồng. Nếu không có tiền bản quyền tuồng hàng đêm, chỉ cộng tiền lương soạn giả thường trực, tiền lương hãng dĩa, tiền lương ký giả nhật báo và tiền lương trưởng Ban Mây Tần, mỗi tháng thu nhập của Kiên Giang không dưới 12.000 đồng. Đó là thời điểm từ năm 1960 đến năm 1967 (trước Tết Mậu Thân 1968).

Các soạn giả thường trực đều có nhà, có xe hơi và có cuộc sống vật chất hơn hẳn những công chức hay nhân viên xí nghiệp (không kể các công chức có những thu nhập ngoại lệ nhờ ở quyền chức).

Sau năm 1975, mọi cuộc sống của mọi tầng lớp dân chúng đều bị đảo lộn. Không kể những gia đình của sĩ quan quân đội Cộng Hòa và các viên chức chánh phủ bị tập trung cải tạo, các văn nghệ sĩ, ký giả báo chí, nhà văn, soạn giả đều nhất loạt bị cấm hành nghề. Một số nhà văn, thi sĩ, nhà báo và soạn giả bị bắt đưa đi trại cải tạo trong nhiều năm (nhà văn Thái Thủy, Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sĩ, ca sĩ Thành Công, ca sĩ Chín Sớm, nghệ sĩ Huyền Trân, soạn giả Mộc Linh, soạn giả Ngọc Điệp...).

Soạn giả Kiên Giang cũng như tất cả các soạn giả của Sài gòn cũ bỗng nhiên bị thất nghiệp, tuồng cũ hay tuồng mới đều không được cho hát, có nghĩa là mất hẳn nguồn thu nhập bằng tiền bản quyền. Lương soạn giả thường trực cũng mất, lương ký giả, lương Trưởng ban văn nghệ Đài Phát Thanh không còn, tiền thu thanh dĩa hát cũng mất luôn... nói chung đang là một người có lương hằng tháng không dưới 12.000 đồng, bỗng nhiên mất hết và không thấy được ngày nào sẽ có được một thu nhập mớì để giải quyết cuộc sống cho mình và cho cả gia đình.

Soạn giả Kiên Giang cũng như chúng tôi bắt đầu cuộc sống mới bằng cách bắt đầu bán dần đi tư trang, vàng bạc, những gì có thể bán được để đổi lấy thức ăn, gạo thóc. Các đoàn hát tập thể được thành lập, trưởng đoàn hát là cán bộ của Sở Văn Hóa đưa xuống, họ là những ông bầu gánh hát mới, có toàn quyền thu, chi và chọn tuồng để hát (tất nhiên là tuồng hát từ miền Bắc đưa vào và những tuồng của các cán bộ trong các chiến khu đưa ra). Nghệ sĩ cũng do nhà nước bố trí, nghệ sĩ nào được hát, nghệ sĩ nào bị cấm hành nghề (các nghệ sĩ Hùng Cường, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Ngọc Giàu bị cấm hành nghề. Sau khi Thanh Nga mất, Bạch Tuyết mới được cho hát lại, thay thế Thanh Nga để hát vở tuồng Thái Hậu Dương Vân Nga).

Riêng các soạn giả thì chịu đựng đói khổ là tình trạng chung vì các soạn giả Sài gòn cũ bị cấm hành nghề trong 10 năm. Các soạn giả Thiếu Linh, Nguyễn Phương, Hoàng Khâm, Kiên Giang, Hoa Phượng đều cho nhiều con vượt biên sang định cư ở các nước Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Úc (trong những năm 1978, 1979, 1980)

Năm 1980, chị Mai Thị Thoa, vợ của Kiên Giang đem thế chấp hai căn nhà số 80 - 82 đường Phạm Thế Hiển cho ông Nguyễn Hữu Hạnh, Chủ nhiệm Hợp Tác Xã Tín Dụng Phường 2, Quận 8 để lấy tiền lời sinh sống trong thời gian mà Kiên Giang phải chạy lên tỉnh Tây Ninh ở để viết tuồng cho cán bộ Sở Thông tin văn hóa đứng tên hầu được chia chút đỉnh tiền bản quyền để sống cầm hơi.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh, chủ nhiệm Hợp Tác Xã Tín Dụng Phường 2 quận 8 bị tù vì thâm lạm tiền của hội viên, Quận ra lịnh giải tán Hợp Tác Xã Tín Dụng, số tiền của dân đóng vô đó bỗng mất hết. Hai căn nhà số 80 - 82 của Kiên Giang cũng bị phát mãi. Soạn giả Kiên Giang từ Tây Ninh được tin vội về Sài gòn thì nhà bị lấy mất, cô vợ Mai Thị Thoa cũng bỏ đất Sài gòn đi biệt tăm.

Ngày 31 tháng 8 năm 1991, nhà thơ Kiên Giang chống án lên tòa xin xét lại, Kiên Giang mới thật sự là chủ của hai căn nhà kể trên nhưng quận 8 đã đấu giá phát mãi hai ngôi nhà đó xong rồi. Đơn kháng cáo của Kiên Giang thiếu điều kiện đầu tiên (tiền đâu) nên bị ngâm tôm, Kiên Giang trở thành kẻ không nhà.

Sau khi bị đuổi nhà, Kiên Giang sống lây lất ở hành lang hí viện vài tháng, không nơi nào người ta cho anh ở yên. Sau cùng anh đến khu đất hoang ở cuối đường Âu Dương Lân quận 8 để xin tạm trú. Khu đất hoang này được dự định để cất khu duỡng lão nghệ sĩ.
Vì không tiền bạc và không có cách nào khác nên thi sĩ Kiên Giang đành chọn 4 gốc cây bạch đàn trên khu đất đó thay cho cột nhà, anh dùng vải tang phúng điếu mẹ của anh và các manh vải cũ lấy từ các banderole quảng cáo để dựng vách nhà, thay mái lá bằng những miếng tôn của bà con lối xóm cho. Thế là anh có một căn nhà để tạm trú, dịp này anh viết mấy câu thơ:


Lợp mái lá, dừng manh vải cũ
Nên mưa nhòa ướt ảnh bàn thờ
Mẹ từ đáy mộ về trong mộng
Trầm uất thương con giữa xác xơ.
Không sa mạc vẫn làm du mục
Chân lạc đà dừng tạm bãi hoang
Mai mốt “người ta”hăm đuổi nữa
Kiếp không nhà lại sống lang thang.


Bàn ghế duy nhứt trong nhà là bàn thờ mẹ, đóng bằng ván tạp của lối xóm cho. Kiên Giang lại làm thơ:


Bàn thờ mẹ kê đầu tủ sách
Đóng cây ván tạp, bạn láng giềng
Má khổ suốt đời, con lận đận
Thương con hồn mẹ chắc linh thiêng.


Thơ của anh nói “tủ sách” nghe cho văn vẻ, thật ra tủ sách đó là miếng ván vụn, gát trên mấy viên gạch, kê cao, để các bao bàng, giỏ xách đựng bản thảo của anh. Mỗi một cơn mưa lớn là nước chảy lênh láng trong ngôi nhà đó, phải kê cao thì tủ sách của anh mới không bị bà thủy cuốn đi.

Năm này, Kiên Giang làm quen với một người đàn bà góa (tên Dương Thị Bạch Tuyết) có cô con gái riêng 6 tuổi tên Hồng Uyên. Cô Bạch Tuyết bị chồng bỏ, anh thì bị vợ bỏ, hai nửa mảnh đời dang dở xáp lại với nhau cho cuộc đời chung bớt tẻ lạnh. Cô nàng Bạch Tuyết cũng là kẻ lang thang không nhà, cha là một quân nhân Úc tử trận ở Việt Nam, mẹ cũng chết sau đó vài năm, cô gái lai Úc này không có thân nhân ở Việt Nam mà cũng chẳng có giấy tờ chứng minh gốc Úc châu, chỉ có mắt xanh, mũi lỏ, nước da trắng, không biết nói tiếng Anh nên đành sống bằng nghề bán khoai lang luộc. Cô có giọng ngâm thơ nghe được được nên khi Kiên Giang mất vợ thì Kiên Giang đưa mẹ con của cô Bạch Tuyết về sống chung.

Năm 2000, tôi về thăm quê hương, gặp Kiên Giang, anh đưa tôi về nhà của anh do quận 8 cấp cho ở hẻm Ba Đình, nhà này chỉ là một cái chái nhà ghép bên cạnh một ngôi nhà khác của người ta, bề ngang chỉ có một thước bảy, bề dài bảy thước như một cái khoang ghe tam bản, vừa là nhà tiêu, nhà bếp, khạp đựng nước và chỗ ở cho ba người.
Kiên Giang viết bốn câu thơ dán trên vách:


Giết chậm, giết mòn là thượng sách
Giết không gươm giáo mới siêu phàm
Cướp nhà đất, cắt lương, tăng đói
Tung hỏa mù đen, giả khói trầm.


Kiên Giang trao cho tôi bài thơ Tìm Nắng Trong Đêm, bài thơ diễn tả cuộc sống của anh và vợ con.

Ba hát, Má ngâm, con chép lại,
Bài thơ Tìm Nắng viết trong đêm
Mai khôn lớn, thấu tình cha gởi
Một tấm lòng cha mấy nỗi niềm.
Con, vợ ngủ bên cầu vệ sinh
Trong nhà ổ chuột, hẻm Ba Đình
Gối chăn, nhà bếp cùng tanh tưởi
Không ở tù sao chịu ngục hình.
Di ảnh Mẹ, sao đôi mắt ướt
Từ mồ sâu đã trở về thăm
Khói hương hiu hắt: mây tang úa
Nói dối: Mẹ ơi! Đó khói trầm.
Thuở khai hoang ở nhà kê tán
Bồ lúa, hàng ba tắm ánh trăng
Hủ gạo nay không còn hột tấm
Thua kẻ kêu cơm ở vệ đường.
Tôm luộc co mình cong dáng ngủ
Duỗi chân e sập đổ bàn thờ
Giống tù nhân nhốt “xà lim” tối
Muỗi rệp tha hồ hút máu thơ.
Không giường nệm, vợ con nằm đất
Hơi lạnh không xua nắng hỏa lò
Lửa nướng con thành khô cá lẹp
Thương con thức giấc dậy làm thơ.
Ăn sớm lo chiều, ôi thắt thẻo
Anh ơi! hết gạo, hết đồ cầm
Bé Uyên đòi sách, đòi mua nhạc
Tiếng vợ buồn như nhạc ngũ âm.
Cha già con muộn, con mau lớn
Măng mọc tre tàn: Tre héo khô
Quần áo học trò con mặc chật
Đòi mua ba chẳng đủ tiền mua.
Trời hỡi, Ngọc Hoàng, ơi Phật, Chúa
Đâu từ bi, bác ái, tình người
Kẻ gian nịnh bợ, giàu như thổi
Người sạch trong tan nát rã rời.
Bạc tỉ dồn hầu bao mọt nước
Của công nhét túi lũ sâu dân
Mộ bia còn bị ăn xương cốt
Đừng nói làm chi chuyện nghĩa nhân.
Giải phóng thật ra là lũ giặc
Đổi màu mặt nạ lũ ma trơi,
Giàu đen rắn độc, nghèo tro bụi
Ai hóa kiếp, còn ai đổi đời?
Ba hối hận hai lần "hạ chiếu"
Đốt thiêu con, vợ, phủ hoa tươi.
Rồi ba treo cổ mừng sinh nhật
Thi sĩ Kiên Giang đã đổi đời.

Kiên Giang viết trong đêm.
(Hẻm Ba Đình - quận 8)


Dù đói nghèo, dù sống hay chết thì thi sĩ Kiên Giang vẫn dùng được văn thơ để nói lên nỗi khổ đau và nguyền rủa những kẻ đã gieo đau khổ cho anh, gia đình và bao nhiêu dân nghèo khác. Anh không thể có việc làm để kiếm tiền sinh sống, vợ con tạm chung sống chịu không nỗi đói khổ, đã âm thầm chia tay với anh, không biết họ đi về đâu, sống ra sao? Căn nhà cũng đã bán đi để có cái ăn và anh nghỉ là khi ăn hết tiền bán căn nhà tồi tàn đó thì đời anh sẽ ra sao? Anh từng trọn đời gắn bó với sân khấu cải lương, nay về già, sân khấu cải lương điêu tàn, anh đành xa thành phố để trở về rừng U Minh, nơi chôn nhau cắt rún, về rừng nếu không kiếm sống được nữa thì chết âm thầm cũng là điều anh mơ ước.

Và anh tự an ủi:


Cuộc sống đắng cay là thế đó
Tôi ơi, đừng trách chớ than trời
Ngựa hí trường đồ tri mã lực
Ngẩng cao vượt dốc, chết thì thôi!


Nhớ những bạn nghệ sĩ, soạn giả không may mắn còn ở Việt Nam.


Soạn giả Nguyễn Phương














*



Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần

(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content





Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S


Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh


(714) 724-5699


scan_pic0035-content

hoang_anh_1_0-content

 





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Tám 201810:56 SA(Xem: 42)
Phạm Xuân Đài là một con người trầm lặng, khiêm cung, ăn nói nhỏ nhẹ. Hình như toàn sức sống của ông đều dồn vào nội tâm.
08 Tháng Tám 20189:54 SA(Xem: 112)
Nhà văn Lê Lạc Giao lại một lần nữa thẩm sát chủ đề muôn thuở của nhân loại (tình yêu và chiến tranh) dưới dạng truyện dài
07 Tháng Tám 201811:16 SA(Xem: 174)
Nhưng ít người biết những trang thơ của người lính
31 Tháng Bảy 201810:55 CH(Xem: 182)
LVN: Sinh ở Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm sinh: 15/1/1944. Năm mất: 27/2/2015 tại Qui Nhơn. Trước 1975, ông có thơ đăng trên các tạp chí VIỆT, Ý THỨC, ĐỐI DIỆN
28 Tháng Bảy 20185:18 CH(Xem: 303)
Nguyên Vũ/Vũ Ngự Chiêu là sĩ quan pháo binh, trú đóng ở miền Tây. Vào hàng ngũ “những nhà văn quân đội.”