DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,893,444

Phê Bình Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân - Hoàng Tuấn Công

26 Tháng Tám 20171:10 CH(Xem: 1688)
Phê Bình Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân - Hoàng Tuấn Công

Phê Bình

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân


clip_image002
Image result for tự điển tiếng Việt nguyễn lân

 

LỜI ĐẦU SÁCH


Từ điển là sách công cụ, kho cứ liệu chuẩn mực, tin cậy để tra cứu, vận dụng chính xác từ ngữ, khái niệm cần tìm. Bởi thế, yêu cầu quan trọng của từ điển là phải chính xác. GS Nguyễn Lân là tác giả và đồng tác giả của gần 10 cuốn từ điển. Sách do tác giả biên soạn riêng gồm có: Muốn đúng chính tả (1949, được chính tác giả xếp vào loại “từ điển”), Từ điển từ và ngữ Hán-Việt (1989), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989), Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000). Sách đồng tác giả có: Từ điển chính tả phổ thông (1963), Từ điển tiếng Việt (1967), Từ điển Việt-Pháp (1989), Từ điển Pháp-Việt (1981), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp-Việt (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt-Pháp (1994). Năm 2001, GS Nguyễn Lân được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ cho “Cụm công trình về giáo dục học và từ điển tiếng Việt”.

Khi tra cứu Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam cũng như các cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, chúng tôi phát hiện những sách này có quá nhiều lầm lẫn, sai sót. Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết đầu những năm 2000, hai nhà nghiên cứu Huệ Thiên và Lê Mạnh Chiến cũng đã từng chỉ ra nhiều sai sót trong từ điển của GS Nguyễn Lân.

Qua so sánh, chúng tôi thấy những “sơ sót” (chữ của Huệ Thiên) mà các nhà nghiên cứu chỉ ra một cách xác đáng, cũng chỉ là một phần rất nhỏ so với những sai sót chứa đựng trong từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân. Sai sót là thế, nhưng cả ba cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, đều được tái bản nhiều lần. Từ cuối năm 2013, trên trang Blog Tuấn Công Thư Phòng (tuancongthuphong.blogspot.com) chúng tôi (bút danh Hoàng Tuấn Công) tiếp tục chỉ ra những sai sót nghiêm trọng trong từ điển của GS Nguyễn Lân, qua một loạt bài viết, được độc giả quan tâm đón nhận, nhiều trang mạng khác đã đăng lại. Tuy nhiên, từ điển của GS Nguyễn Lân vẫn tiếp tục được tái bản. Nhiều cuốn từ điển của ông vẫn tiếp tục in lại, đem trưng bày, giới thiệu, nhiều bài viết vẫn đánh giá cao đóng góp của GS Nguyễn Lân trong việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nói chung và biên soạn từ điển nói riêng (chúng tôi có trích dẫn cụ thể trong sách này). Những cuốn từ điển của GS Nguyễn Lân còn được bán ở hiệu sách nhiều nước có cộng đồng người Việt sinh sống. Ông Nguyễn Thuỵ Đan hiện định cư ở Mỹ, đã gửi cho chúng tôi bức ảnh chụp Từ điển từ và ngữ Việt Nam bày bán ở hiệu sách bên ấy, và cho biết: “Ở Houston có hai nhà sách, Phương My và Thiên Nga, cả hai đều bán từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân.” Như vậy, có thể thấy rằng, những sai sót trong từ điển của GS Nguyễn Lân không chỉ ảnh hưởng tới việc học tập, nghiên cứu trong nước, mà còn với cả cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài.

Trong một bài viết có tên “Về thái độ của ông Vũ Đức Phúc trong tranh luận học thuật”, Nhà nghiên cứu An Chi viết: “Học giả hoặc nhà văn, dù đã quá cố, vẫn phải vĩnh viễn chịu trách nhiệm về những gì họ đã viết.” (Kiến thức ngày nay, số 318, 10/6/1999). Đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn, khoa học. Sự nghiệp giáo dục và công lao đóng góp của GS. NGND Nguyễn Lân như thế nào đã có sự đánh giá, ghi nhận, vinh danh của Nhà nước và xã hội. Trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ nhắc đến GS Nguyễn Lân với tư cách là tác giả của những cuốn từ điển còn nhiều sai sót, cần phải đính chính, cũng là đáp lại ý nguyện của chính tác giả khi còn sống: “vì tuổi cao có thể có những sai sót, dám mong các độc giả dùng sách này vui lòng chỉ bảo cho” (trích “Đôi lời tâm sự thay lời tựa” của GS Nguyễn Lân trong sách Từ điển từ và ngữ Việt Nam - 2006); và “vì phạm vi sưu tầm và hiểu biết của chúng tôi có hạn, nên công trình này của chúng tôi không tránh khỏi thiếu sót và sai lầm. Mong rằng khi sách được xuất bản, chúng tôi sẽ nhận được những lời chỉ bảo và bổ sung của các bậc cao minh.” (trích “Lời nói đầu” của GS Nguyễn Lân trong sách “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” – 1989).

Sách “Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” thực chất là những Phê bình và khảo cứu về việc giải nghĩa tiếng Việt, gồm có 5 phần:

Phần I: Phê bình, khảo cứu “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”:

Những sai sót khi soạn giả giải thích các sự vật, hiện tượng, kinh nghiệm dân gian tiền hậu bất nhất, hoặc giải thích sai, nông cạn, làm hẹp ý nghĩa, cách dùng thành ngữ, tục ngữ; ghi sai về mặt văn bản, giảng sai từ ngữ Hán-Việt, thành ngữ, tục ngữ gốc Hán.

Phần II: Phê bình, khảo cứu “Từ điển từ và ngữ Hán Việt”

- Những sai sót khi giải nghĩa từ ngữ Hán Việt, yếu tố Hán Việt (chưa từng được công bố trên Blog Tuấn Công Thư phòng).

Phần III: Phê bình, khảo cứu “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”:

- Những sai sót trong giải nghĩa từ và ngữ Việt Nam (bao gồm thành ngữ, tục ngữ, từ và ngữ Việt Nam… liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, thuộc tất cả các phần chữ cái từ A đến Y.

- Trong khi phê bình, khảo cứu, chúng tôi có chỉ ra những sai sót mà GS Nguyễn Lân chép lại từ các cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Hán Việt đã xuất bản trước Từ điển từ và ngữ Việt Nam. Đặc biệt, chúng tôi khảo cứu, so sánh những sai sót trong từ điển của GS Nguyễn Lân giống với “Từ điển tiếng Việt” uy tín, do Văn Tân chủ biên, mà GS Nguyễn Lân là thành viên biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1967 (điều này lần đầu tiên được phát hiện và công bố).

Phần IV: Chính tả trong từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân

Chỉ ra nhiều lỗi chính tả do phát âm sai, lẫn lộn S với X, TR với CH…; hiện tượng lẫn lộn do nói ngọng rồi viết sai L thành N, và ngược lại L thành N, trong cả 4 cuốn sách: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam; Từ điển từ và ngữ Hán Việt; Từ điển từ và ngữ Việt Nam và Muốn đúng chính tả, mà trước đây những bài chúng tôi công bố trên Blog (cũng như bài của các tác giả khác) chưa từng chỉ ra.

Phần V: Thử lý giải những sai lầm khó hiểu của Nhà biên soạn từ điển – GS Nguyễn Lân

- Căn cứ vào những sai sót cụ thể trong từ điển, nhìn nhận về kiến thức cơ sở ngôn ngữ học, kiến thức Hán Nôm, kiến văn, tiếng mẹ đẻ, phương pháp luận…của soạn giả.

Để đảm bảo khách quan, trung thực, cách làm của chúng tôi là khi trao đổi về một mục từ nào đó đều có khảo cứu, phân tích, dẫn chứng rất kỹ và cụ thể. Nghĩa là chúng tôi luôn cố gắng kết hợp kiến văn của bản thân với nhiều nguồn tài liệu và từ điển tin cậy khác, trích dẫn cụ thể để bạn đọc tiện so sánh, tự kiểm chứng đúng sai; bạn đọc còn được tham khảo thêm nhiều nguồn tài liệu, được sáng tỏ với cả những vấn đề lâu nay còn gây tranh cãi.

Sách “Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” sử dụng nhiều tài liệu tham khảo. Đối với những tài liệu chúng tôi sử dụng để trích dẫn nhiều lần sẽ được viết tắt cho ngắn gọn và diễn đạt trôi chảy hơn. Ví dụ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu sẽ được viết tắt Tự điển Thiều Chửu hoặc Thiều Chửu, Từ điển tục ngữ Hán Việt sẽ được gọi là Tục ngữ Hán, tuỳ theo yêu cầu diễn đạt. Bạn đọc có thể xem mục Đối chiếu tên tài liệu viết tắt và thư mục sách trích dẫn, tham khảo ở cuối sách để biết rõ chúng tôi sử dụng những nguồn tài liệu nào. Một số tài liệu đã được dẫn nguồn cụ thể ngay sau khi trích dẫn, có thể bạn đọc sẽ không tìm thấy trong danh mục tài liệu tham khảo.

Nhiều lỗi trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân từng được Huệ Thiên và Lê Mạnh Chiến chỉ ra, nhưng bạn đọc lại không tìm thấy trong sách này của chúng tôi. Điều đó không có nghĩa những lỗi ấy không xác đáng, mà chúng tôi tự xét thấy, nếu không tham khảo bài viết của các bậc tiền bối, thì chính chúng tôi cũng sẽ lướt qua, hoặc không tự mình phát hiện ra được (đặc biệt là những lỗi thuộc lĩnh vực toán học, hoá học, điện tử,…), nên không đưa vào sách này. Có những lỗi chúng tôi nêu ra trùng với hai nhà nghiên cứu An Chi và Lê Mạnh Chiến đã từng nêu trước đây, có nghĩa đó là kết quả tư duy độc lập và sự trùng hợp ngẫu nhiên. Trong trường hợp này, bài viết của những người đi trước vẫn có giá trị tham khảo quan trọng, giúp chúng tôi có thêm cứ liệu khẳng định quan điểm của mình.

Nhân dịp sách xuất bản, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bậc tiền bối, anh em, bạn bè và độc giả Blog Tuấn Công Thư Phòng đã luôn nhiệt tình ủng hộ trong việc chỉ ra những sai sót trong biên soạn từ điển tiếng Việt nói chung và từ điển của GS Nguyễn Lân nói riêng. Cảm ơn Nhà văn Nguyễn Quang Lập ngay từ buổi đầu đã khích lệ, tạo cảm hứng cho chúng tôi trong từng trang viết; đã cùng với Blog Tuấn Công Thư Phòng sớm đưa một phần thông tin về những phê bình và khảo cứu này đến đông đảo bạn đọc.

Dù đã hết sức thận trọng, nhưng do từ điển liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, trong khi khả năng lại có hạn, nên sách Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu khó tránh khỏi sai sót, nhầm lẫn. Chúng tôi luôn trân trọng, biết ơn, mong được các bậc cao minh và độc giả phát hiện, góp ý để kịp thời sửa chữa khi có dịp tái bản.


PHÊ BÌNH, KHẢO CỨU

“TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM”


Sách Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân xuất bản lần đầu năm 1989, khi ông còn trường mạnh. Tuy nhiên, cũng như hai cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989) và Từ điển từ và ngữ Việt Nam (xuất bản sau đó hơn 10 năm), Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân có quá nhiều sai sót. Sai sót là thế, nhưng từ các năm 2010 đến 2016 sách vày vẫn được nhiều nhà xuất bản tái bản với số lượng khá lớn. (Riêng Nhà xuất bản Văn học, các năm 2014, 2015, 2016 đã tái bản với số lượng 6 ngàn cuốn).

Nguyên văn nội dung mục từ đưa ra phê bình và khảo cứu trong sách Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân được chúng tôi để trong ngoặc kép, sau kí hiệu “○”.

A. GIẢI THÍCH SAI CÁC SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG, KINH NGHIỆM DÂN GIAN, TIỀN HẬU BẤT NHẤT

Thành ngữ, tục ngữ thường có nhiều dị bản, gần nghĩa hoặc đồng nghĩa. Người làm từ điển có thể thu nhận tất cả để độc giả tham khảo và chọn ra dị bản được sử dụng rộng rãi, hay nhất để giải thích. Thế nhưng, không ít trường hợp GS Nguyễn Lân tự chữa thành ngữ, tục ngữ, hoặc phỏng đoán theo ý chủ quan của mình, bác đi dị bản trung tâm, khiến thành ngữ, tục ngữ mất đi cái hay, cái đẹp, sự tinh tế trong ngôn từ của dân gian:

○ “dứt dây động dừng (Có người viết và đọc nhầm là rừng) Ý nói: chạm đến một việc nhỏ có thể ảnh hưởng đến cả một việc lớn (Như dứt một dây ở bức vách có thể làm rung cả bức vách)”.

○ “rút dây động dừng (Dừng là cốt để trát bức vách) Ý nói: Đả động đến điều gì thì ảnh hưởng đến điều khác (Có người nói nhầm là: Rút dây động rừng)”.

Trong hai mục từ thuộc phần chữ cái D và R, GS Nguyễn Lân đều khẳng định “Rút dây động RỪNG” là “nhầm”, phải là “DỪNG” mới đúng, và giải thích “dừng” là “bức vách” hoặc “cốt để trát bức vách”. [Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam một lần nữa GS lại khẳng định: “dứt dây động DỪNG (dừng ở đây là bức vách, có người viết là RỪNG là không đúng)”]. Thế nhưng với “phát hiện” này, GS Nguyễn Lân đã biến nghĩa đen của câu tục ngữ trở nên rất vô lý và tầm thường hoá cách ví von, so sánh rất đắt của dân gian. Mặt khác, dù khăng khăng “có người viết và đọc nhầm” “dừng” thành “rừng”, nhưng GS Nguyễn Lân không đưa ra được lý lẽ chứng minh là họ đã “nhầm” như thế nào.

Nếu theo cách hiểu của GS Nguyễn Lân, xin được hỏi về nghĩa đen: Thứ nhất, dứt dây gì ở bức vách? Thứ hai: giả sử “dây” đây là dây buộc ở một bức vách đất bé nhỏ đã long lay (nên lòi cả dây lạt buộc xương vách ra) người ta cầm và giật (dứt) thì việc nó “động” cũng là chuyện thường thôi. Bởi cái dây đó ràng buộc, liên quan trực tiếp tới bức vách (mà bức vách đã hỏng, đã long lay rồi). Nghĩa đen tục ngữ này phải được hiểu đúng ý dân gian: “rút dây động RỪNG” mới thâm thuý. Rừng là nơi quy tụ nhiều loại cây, chia thành nhiều tầng, nhiều tán: thảm cỏ, cây bụi, dây leo, cây thân gỗ… Ngoài thực vật còn có muôn loài động vật, muông thú lớn nhỏ. Dây leo trong rừng có thể dài đến cả trăm mét, luồn lách, vấn vít, đeo bám vào cây nọ sang cây kia. Thế nên, “rút dây động rừng” có nghĩa chỉ cần rút, dứt (lấy) một cái dây leo cũng có thể làm động cả một cánh rừng! “Động” theo nghĩa đen ở đây là làm rung đến cây khác, đụng chạm đến thực thể khác. Dứt dây, cây động, lũ chim giật mình đập cánh, khiến bầy nai cũng hoảng sợ, náo động… Thế là loạn cả lên, cứ như là như động rừng vậy! Một hình ảnh ví von không gì sinh động hơn về mối quan hệ chặt chẽ giữa cá thể này với cá thể kia trong tự nhiên và trong quan hệ xã hội của con người. Dứt hay rút một sợi dây mà làm động đến cả cánh rừng! Tục ngữ lời ngắn mà ý nghĩa lớn! Thế nên Tục ngữ Hán cũng có các câu: “Một cây cột bị lay, tất cả cột kèo ngôi nhà rung chuyển [Nhất căn trụ tử động, căn căn phòng lương dao 一根柱子動, 根根房梁搖]; Lay một nhánh mà làm rung chuyển trăm cành lá [Nhất tiết động nhi bách chi dao 一節動而百枝搖].” (trích Tục ngữ Hán, tên viết tắt của “Từ điển tục ngữ Hán Việt”, Lê Khánh Trường-Lê Việt Anh, NXB Thế giới-2002), đều dùng sự so sánh một sự vật bé nhỏ nhưng liên quan, gắn bó, tác động tới nhiều sự vật khác.

Tham khảo: Với câu “Tai vách mạch dừng”, thì dừng ở đây lại là bức vách. Không phải “Tai vách mạch rừng”. Vì dừng là bộ phận của vách, vách là bộ phận của ngôi nhà, nơi (theo nghĩa đen) hai người trao đổi chuyện bí mật, riêng tư, sau hiểu theo nghĩa rộng chỉ tất cả địa điểm khác. Địa điểm nào thì những cái có thể “nghe lén” được đều tập trung ở xung quanh hai người. Nếu nói “Tai vách, mạch rừng” thì một là bức vách, một là cái mạch gì đó tận trên rừng thì nghe thật vô lý. Tục ngữ gốc Hán có câu “Tường hữu phùng, bích hữu nhĩ – 墻有縫壁有耳 – Tường có mạch, vách có tai”. Tục ngữ Việt còn có dị bản Bờ vách có tai, bờ rào có mắt; trong đó “tường” và “vách”; “bờ vách” và “bờ rào” cũng đều gần nhau, ở xung quanh người nói chuyện. Nghĩa bóng: Bí mật rất dễ bị tiết lộ, ngay kể cả nơi bốn bề tường, vách vắng vẻ, rào dậu kín đáo.

○ “đãi cát lấy vàng Ý nói ra công chọn những điều quý báu hiếm hoi trong một đám tài liệu hỗn độn”.

Thành ngữ này vốn có hình thức là “Đãi cát TÌM vàng”. Từ “LẤY” trong dị bản GS Nguyễn Lân đưa ra làm hỏng ý, vì chữ “lấy” đơn giản, dễ dàng quá. Phải là “tìm” mới nói lên sự hiếm hoi, khó khăn. Mặt khác, thành ngữ không chỉ riêng việc “chọn những điều quý báu, hiếm hoi trong đám tài liệu”, mà nói chung việc dày công tìm kiếm, sàng lọc một lượng lớn những thứ tầm thường, bỏ đi, để hy vọng kiếm tìm thứ quý hiếm nào đó. Nếu được phép “chọn” như cách giải thích của GS Nguyễn Lân, có nghĩa là thứ thì đó rất sẵn, tha hồ “chọn” lấy cái tốt nhất, đẹp nhất. Lúc này, lại phải hiểu đãi vàng cám để lấy vàng thỏi, vàng cục, chứ không phải Đãi cát tìm vàng nữa. Mặt khác, dân gian đâu có sử dụng, tiếp xúc với “đám tài liệu hỗn độn” như nhà nghiên cứu hay giới trí thức, học giả để rồi dùng hình ảnh đó làm chất liệu đặt nên tục ngữ, thành ngữ?

Tham khảo: Ở Thanh Hoá có câu Đãi cứt chó lấy vỏ khoai, đãi cứt gà lấy mẳn. (Mẳn là hạt tấm, hạt gạo bị vỡ nát). Vỏ khoai, hạt mẳn là thứ phụ phẩm, phế phẩm đã tận dụng cho chó, gà ăn, mà vẫn còn tiếc, muốn “tận thu” lại một lần nữa! Từ “lấy” ở đây lại đắt hơn từ “tìm”, bởi “lấy” thể hiện “ý tưởng”, mục đích rất rõ ràng và phải thực hiện bằng được của anh chàng bủn xỉn, keo bẩn. Ngôn ngữ dân gian rất tinh tế, đâu có tuỳ tiện thay đổi mà được!

○ “run như dẽ (Dẽ là một con chim hay ăn giun, nên cũng gọi là dẽ giun. Dân gian lẫn lộn từ giun và từ run nên mới đặt ra câu này)”.

○ “sợ run như dẽ (Dẽ là loài chim hay ăn giun, nên gọi là dẽ giun. Ở đây, với mục đích chơi chữ, đã đồng nhất từ “giun” và từ “run”).

Hai thành ngữ này xuất hiện trong hai mục từ thuộc phần chữ cái R và S của cuốn sách, nhưng GS Nguyễn Lân giải thích tiền hậu bất nhất. Ban đầu thì cho rằng “Dân gian lẫn lộn từ giun và từ run nên mới đặt ra câu này”, đến sau lại giải thích “với mục đích chơi chữ đã đồng nhất từ “giun” và từ “run”.

“Lẫn lộn” và “chơi chữ” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Và điều đáng nói, hai cách giải thích của GS Nguyễn Lân đều sai cả. Theo sách Chim Việt Nam hình thái và phân loại của GS Võ Quý (viết tắt là Chim Việt Nam), chim dẽ giun (hay rẽ, rẽ giun) thuộc bộ Rẽ (Limicolae hay Charadriiformes) gồm khoảng 189 loài, 8 họ, phân bố hầu như khắp các nơi trên thế giới. Ở Việt Nam có khoảng 48 loài, phần lớn là những loài trú đông. Trong số 8 họ của 189 loài, thì họ Choi choi (Charadriidae) là họ cơ bản của bộ Rẽ. Chim dẽ giun (hay rẽ giun) thuộc họ Choi choi. Chim dẽ giun có một tập tính kỳ lạ là thân mình liên tục cử động: đầu gật, đuôi giật theo nhịp bước chân, thỉnh thoảng chúng dừng lại, xù lông, rùng mình, rồi rung rung đôi cánh, cổ rụt lại giật giật như bị ai bóp nghẹt, trông chẳng khác nào đang run lẩy bẩy vì sợ hãi (đặc biệt là khi chim trống quyến rũ chim mái). Theo Chim Việt Nam: “Trước thời kỳ làm tổ ở nhiều loài có hiện tượng khoe mẽ, thể hiện lúc bay, tiếng kêu hay dáng chuyển động như múa lúc ở mặt đất.” Cũng do đặc điểm thân mình luôn cử động rung lắc, khi kiếm no mồi thì chạy nhảy, đánh đuổi nhau, nên ở Thanh Hoá có thành ngữ Nghịch như thọc trùn, chỉ bọn trẻ con nghịch ngợm, thọc mạch, không lúc nào chịu ở yên; hoặc Nhảy như con choi choi, chỉ bọn trẻ con hiếu động, nhảy nhót đùa nghịch.

Như vậy, “Run như dẽ” hoặc “Sợ run như dẽ” là hai dị bản đồng nghĩa. Nghĩa diễn giải của thành ngữ là: Run như con chim dẽ giun nó run. Dân gian không nhầm lẫn, cũng chẳng chơi chữ gì ở đây, mà trong thực tế có nghĩa đen như phân tích ở trên.

Tham khảo: Trong Truyện Kiều, đoạn Thuý Kiều báo oán, Nguyễn Du viết: “Cho gươm mời đến Thúc lang, Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run.” Ta có thể hiểu, Nguyễn Du mô tả Thúc lang sợ hãi, run lẩy bẩy như con chim dẽ giun. Từ điển Truyện Kiều – Đào Duy Anh giải thích: “Dẽ run: Tức là chim dẽ hay rẽ, người ta cho rằng thứ chim này mình thường run luôn.” Khi Đào Duy Anh viết: “người ta cho rằng…”, chứng tỏ ông cũng chưa có hiểu biết thực tế về loài chim dẽ, nhưng cách giải thích trên là đúng.

○ “cát liền tay, thịt chầy ngày Kinh nghiệm nông dân cho là nếu cấy ở đất cát có thể cấy ngay, còn cấy ở đất thịt thì phải cày bừa cho kỹ”.

Giải thích theo kiểu hú hoạ, nên chỉ hơi đúng nửa đầu nói về cấy trên đất cát. Chúng tôi nói “hơi đúng”, vì nếu liên hệ với vế thứ hai theo cách giảng của GS Nguyễn Lân, “đất cát có thể cấy ngay” (tức không cần làm đất, hoặc làm đất qua loa), trong khi “ở đất thịt thì phải cày bừa cho kỹ”. Nhưng đất nào khi cấy mà chẳng phải cày bừa kỹ?

Thực ra ở đây, tục ngữ nói đến kinh nghiệm gieo cấy trên chân đất cát và đất thịt của nông dân: Với đất cát nhanh lắng, bừa xong nên cấy ngay (“liền tay”) kẻo đất nén chặt xuống rất khó cấy, chứ không phải “có thể cấy ngay”. (Nói về kinh nghiệm cấy trên chân đất cát còn có câu Trâu ra mạ vào, tức trâu vừa bừa xong thì đưa mạ vào cấy ngay là tốt nhất); với đất thịt nhiều bùn non (bùn loãng), nếu bừa xong đã cấy ngay, cây lúa sẽ không đứng được, thế nên phải để “chầy ngày” (sau một ngày) cho bùn lắng xuống, đặc lại, mới cấy là tốt nhất. “Chầy ngày” (“chầy” là chậm, muộn hơn, trái nghĩa với “liền”, “chóng”; như “chẳng chóng thì chầy”) là tính thời gian một ngày sau khi bừa lần cuối rồi cấy, chứ không có nghĩa “phải cày bừa cho kỹ” (cày bừa liên tục trong thời gian một ngày) như GS Nguyễn Lân giải thích.

○ “ruộng giữa đồng, chồng giữa làng Đó là lý tưởng của một chị nông dân thiển cận”.

Giải nghĩa sai! “Giữa” ở đây không những chỉ vị trí (địa lý) mà còn có nghĩa là ngay tại, ở chính tại, rất gần. [Vè nhật trình từ Ninh Bình vào Thanh Hoá: “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, Chợ Gia trước mặt, quán Nam giữa đàng”. “Giữa đàng” đây tức là ở ngay trên con đường, đoạn đường, ở ngay bên đường]. “Ruộng giữa đồng” là ruộng gần, ruộng làng (đồng nhà), tiện canh tác, thăm nom, cũng có thể hiểu là mảnh ruộng “giữa đồng”, không bị trâu bò xâm phạm; “chồng giữa làng” là chồng gần, ngay ở trong làng. Trai gái đã hiểu nhau, lại tiện đi về thăm nom, chăm sóc bố mẹ. Câu tục ngữ trên đúc kết kinh nghiệm chọn nơi canh tác, lấy vợ, lấy chồng, sao cho tiện lợi của nông dân trong đời sống làng xã Việt Nam xưa kia, chẳng có gì gọi là “thiển cận”, đáng chê như cách phân tích của GS Nguyễn Lân.

Tham khảo: Tục ngữ Mường Thanh Hoá – Cao Sơn Hải – NXB Văn hoá thông tin – 2002 (viết tắt là Tục ngữ Mường) thu thập câu: “Đồng ruộng ven làng, trước cổng – Đo ống ná chân quên trưởc voòng”. Ý nói: Đồng ruộng ven làng trước cổng thuận tiện canh tác; và “Lấy chồng trong làng như sống giữa vườn hoa, lấy chồng đàng xa như con gà diều quắp – Lế dầu trong lùng nhơ vùng vướn va, lế dầu đáng xa nhơ kha tràng đành”. Tục ngữ Việt: Trâu ta ăn cỏ đồng ta; Ruộng nhất ở xa, không bằng ruộng ba ở gần; Ca dao: Có con mà gả chồng gần, Có bát canh cần nó cũng đem cho [“Canh cần” là thứ canh chẳng phải ngon lành, béo bổ gì. Ý dân gian là con gái lấy chồng gần thì có điều kiện quan tâm chăm sóc bố mẹ, kể cả những điều vụn vặt, nhỏ bé nhất]”.



Thanh Hoá, tháng 10 năm 2016
Hoàng Tuấn Công
(từ: VV)



*




Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần
(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content



*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh

        (714) 724-5699


scan_pic0035-contenthoang_anh_1_0-content





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Giêng 20199:06 SA(Xem: 55)
Mười giờ đêm, mọi việc đã xong xuôi, cửa tiệm đóng cửa. Tôi nhìn qua một lượt để biết chắc là mọi thứ đã đâu vào đó. Ngay cả cái đèn chớp nháy chữ CLOSED cũng đã được mở lên. Còn hai tiếng nữa là giao thừa. Yên tâm, tôi bước vào nhà bếp. Đám nhân viên nhìn tôi chờ đợi. Hiếm khi có cuộc họp bất thường kiểu này. Cuối năm. Còn hai tiếng nữa đã là năm mới. Cuối ngày. Còn hai tiếng nữa là hết một ngày cuối năm. Ai cũng muốn về nhà cho sớm, dù đã sắp nửa đêm, nhưng vẫn là sớm với những người bắt đầu công việc lúc mười một giờ trưa. Tôi nhìn quanh đám người làm công trong nhà hàng. Ngoài tay đầu bếp trung niên, còn lại là những khuôn mặt trẻ măng. Lẫn trong đó là một khuôn mặt đàn bà cằn cỗi. Thấy tôi vào tới, gã xô ghế đứng bật dậy. Cái laptop mở sẵn trên mặt bàn. “Tôi có chuyện quan trọng muốn trình bày với mọi người,” Gã nói, tia nhìn quét một lượt những khuôn mặt mệt mỏi của đám nhân viên; những kẻ sau cả ngày dài tíu tít công việc, đang chỉ muốn về nhà tắm một cái cho mát, ly rượu ấm
11 Tháng Giêng 201912:08 CH(Xem: 84)
Cha mẹ anh Chắt-Quýt thuộc thành phần bần nông. Cán bộ CCRĐ (cải-cách-ruộng-đất) về địa phương tìm hiểu để bắt rễ-xâu chuỗi, đào tạo cốt cán cho phong trào CCRĐ không những tại địa phương, mà sẽ được đi nơi khác làm cán bộ để phát động phong trào CCRĐ tiếp theo. Ông cán bộ CCRĐ có ghé vào nhà tôi như để làm công tác tìm hiểu quần chúng. Cha tôi đi vắng, tôi đi chơi với bạn bè ngoài đồng. Về nhà, nghe mẹ kể với cha tôi, ông cán bộ CCRĐ là cán bộ miền nam tập kết ra bắc được cử đi làm CCRĐ. Ông đội nón cối. Trời mưa, ông khoác tấm ni-lông màu cánh gián buộc choàng vào cổ, đi dép cao su, quần dài được xắn lên quá đầu gối, bắp thịt trên đầu gối của ông ấy to bằng quả bòng (quả bưởi). Ông ấy tự giới thiệu tên ông là Thận. Cán bộ Thận mang ba-lô quần áo và đồ dùng sinh hoạt cá nhân vào nhà cha mẹ anh Chắt-Quýt để “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Cha mẹ anh Chắt-Quýt có sáu người con. Cán bộ CCRĐ chọn ba người trưởng thành, nhanh nhẹn ra làm việc. Anh Chắt-Quýt lớn tuổi, được đào tạo
07 Tháng Giêng 20199:59 SA(Xem: 113)
Sau tháng ngày giá lạnh, sau Giáng Sinh, khi nhạc Xuân vang lên, vang vọng trong nắng ấm báo hiệu cho năm mới sắp sang của Tết Dương Lịch và kéo dài cho đến Tết Nguyên Đán. “Ta ca vang, đàn nhịp nhàng, đón Xuân sang. Vui hân hoan, tình rộn ràng, mừng Xuân mới” như Ca Khúc Mừng Xuân của Văn Phụng. Khi đất nước phân chia, miền Nam VN thuở đó còn thanh bình, những ca khúc đón Xuân như: Xuân & Tuổi Trẻ của La Hối (lời Thế Lữ) năm 1946, Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước năm 1949 với điệu Valse (luân vũ) vui tươi, rộn ràng của khúc hoan ca (Dương Thiệu Tước còn 3 ca khúc Vui Xuân, Vườn Xuân Thắm Tươi, Tìm Xuân), Bến Đàn Xuân của Ngọc Bích vào cuối thập niên 40, nhạc phẩm Xuân Đã Về của Minh Kỳ năm 1954, Xuân Thôn Giã của Văn Phụng năm 1956, và, hình ảnh miền Nam Việt Nam được phác họa qua ca khúc Xuân Miền Nam của Văn Phụng: “Miền Nam! Niềm vui chan chứa đêm mơ hồ. Miền Nam! Tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ. Giờ đây, mùa xuân đang xóa tan mây mờ. Quên đi đau thương sầu nhớ. Vui ca
02 Tháng Giêng 20198:30 SA(Xem: 160)
Người đàn ông trẻ đón ông Lâm Định ở phi trường nội địa thành phố D. giơ tay bắt, miệng cười vồn vã: “Chào mừng giáo sư Lâm Định. Tôi là Andreas Moretti, người thường xuyên liên lạc với ông từ nhiều tháng qua. Ông vẫn khoẻ? Chuyến bay thoải mái, không có gì trở ngại chứ, thưa giáo sư?”. “Rất hân hạnh được gặp anh”, ông Lâm tươi mặt, cố nén cái đau vạch đằm đằm chữ thập trên phiến lưng. “Tôi xin có lời khen ngợi, dấu giọng Việt ngữ của anh vô cùng tài hoa, hiếm thấy người Âu Tây nào đạt được trình độ như vậy”. Kiểu nói khách sáo ông thường sử dụng mỗi lần chứng đau khớp tới cữ hoành hành. Moretti cuốn vội tờ giấy cứng tô đậm mấy chữ tô dấu rõ ràng “Giáo sư Lâm Định”, cắp vào nách, dằn lấy cái xắc da nâu cũ từ tay ông giáo sư, bật tiếng cười ngắn: “Giáo sư quá lời đó thôi”. Rồi anh nhỏ giọng ra điều quan trọng: “Mà… mà biết đâu chừng, kiếp trước tôi là người Việt Nam, thưa ông”. Ông Lâm cười xoà, thoáng đưa mắt quan sát anh thanh niên. Anh cao hơn ông nửa đầu, tóc nâu
29 Tháng Mười Hai 20188:14 SA(Xem: 175)
Trong 14 bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã lấy những chữ đầu đặt thành hai câu đối: “Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc, Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” - Phi Hồ Ngoại Truyện - Tuyết Sơn Phi Hồ - Liên Thành Quyết - Thiên Long Bát Bộ - Xạ Điêu Anh Hùng - Bạch Mã Khiếu Tây Phong - Lộc Đỉnh Ký -Tiếu Ngạo Giang Hồ - Thư Kiếm Ân Cừu Lục - Thần Điêu Hiệp Lữ - Hiệp Khách Hành - Ỷ Thiên Đồ Long - Bích Huyết Kiếm - Uyên Ương Đao. Ngoài ra có đoản truyện Việt Nữ Kiếm. Đề cập đến tình yêu trong tác phẩm Kim Dung, không thể nào kể hết. Có các bài viết vễ lãnh vực nầy chỉ nêu tổng quát những nhân vật trong cuộc tình nhưng cũng chưa hết, cho thấy sự đa dạng trong toàn bộ tác phẩm. Trong mỗi tác phẩm võ hiệp của Kim Dung ngoài chưởng pháp, kiếm thuật, võ công… tình yêu vẫn là đề tài chính. Tình yêu trong thế giới võ lâm hòa hợp với thiên nhiên nên rất lãng mạn. Ngang trái tình yêu trong võ hiệp gay cấn, ly kỳ, cay đắng hơn tiểu thuyết tình cảm vì hận thù giữa chính và tà, hận thù môn phái,