DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,748,826

Tiếng chuông chùa Hàn San… - NT1 Nguyễn Đăng Hương

01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 8257)
Tiếng chuông chùa Hàn San… - NT1 Nguyễn Đăng Hương
Tiếng chuông chùa Hàn San…

pkdb2

chùa Hàn San


 Tương truyền tiếng chuông chùa Hàn San là độc nhất vô nhị, sự cảm xúc đã gợi hứng cho rất nhiều thi nhân qua các triều đại, nhưng nổi bật vẫn là bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của thi sĩ Trương Kế. Kiệt tác này hiện là pháp bảo vô giá của Hàn San, được khắc trên bia đá sừng sững giữa trời thi gan cùng tuế nguyệt.

 Chùa Hàn San tọa lạc bên bờ sông Cổ Vận thôn Thất Lý, nằm ngoài cổng Tây Xương thành cổ Tô Châu, nay thuộc trấn Phong Kiều, khu Kim Xương, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Chùa được xây cất vào năm Thiên Giám đời nhà Lương (CN 502-519). Xưa gọi là " Tháp Viện Diệu Lợi Phổ Minh ".

Vào năm Trinh Quán đời nhà Đường (627-649), theo truyền thuyết, lúc đó có hai vị danh tăng là Hàn San và Thập Đắc từ núi Thiên Đài đến trụ trì nơi đây, cho nên đổi tên là Hàn San. Trong hơn 1000 năm qua, chùa Hàn San đã 5 lần bị hỏa hoạn, lần trùng tu cuối cùng là vào khoảng năm Quang Tự đời Thanh (1875-1908). Trên lịch sử, chùa Hàn San từng là một trong mười ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Trung Quốc. Trong chùa di tích xưa rất nhiều, có bài văn bia được khắc trên đá của nhà thơ Trương Kế, có tượng Hàn San Thập Đắc được khắc bằng đá, những văn bia khắc bị vở của Văn Trưng Minh và Đường Dần...

 Qua con hẻm nhỏ đường Thạch Bản của cổ trấn Phong Kiều, hoặc đứng ở đầu cầu Phong Kiều, đưa mắt nhìn sẽ thấy trên con đường nhỏ quanh co xa tắp, thấp thoáng bóng chùa Hàn San với tường vàng ngói biếc, sân chùa tùng bách tươi xanh, tọa lạc trong rừng cây xanh thẳm.Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế , một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, xúc cảm cùng ngoại cảnh thê lương, xuất thần viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế:

 

Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế

(trong bài viết tắt là PKDB)

pkdb



Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.


Tuy bài thơ rất hay, có cảnh, có vật, có âm thanh ... nhưng rất nhiều người đã đặt 3 nghi vấn như sau:

 

Nghi vấn 1:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên: liệu có chim quạ kêu vào lúc trăng lặn không; hay Ô Đề là một địa danh? Thuyết này có nhiều người phản đối vì quạ kêu đêm vẫn có tuy là ít thấy.

Nghi vấn 2:

 Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên: Lại có nhà nghiên cứu cho rằng giang phong không phải là cây phong bên bờ sông mà là Giang thôn kiều và Phong kiều; sầu miên là núi Sầu Miên.

 Thuyết nầy cũng bị phản đối vì ở Tô Châu đất đai bằng phẳng không thể có núi Sầu Miên được (nhiều khách du lịch Việt Nam đã may mắn có dịp thăm chùa Hàn San ở Tô Châu và cả dân bản địa thì cũng có cùng một nhận xét như vậy, do đó nếu có bức tranh nào vẽ cảnh chùa Hàn San mà nằm bên sườn núi thì họa sĩ đã vẽ ... trật lất ). Ngoài ra, nếu xét về âm điệu của bài thơ thì chữ sầu miên có nghĩa là buồn không ngủ được thì đặc sắc hơn nhiều so với sầu miên là một địa danh.

 Ngoài ra để rông đường dư luận xin trích 7 vài thơ tiếng Anh dịch PKDB, chỉ trừ bài thứ 7 là của người Mỹ, còn lại 6 bài khác đều của các văn-thi-sĩ Trung Quốc, người bản xứ và chắc chắn là thông-hiểu ngọn ngành gốc tích ngôn ngữ của họ, giới thiệu bài thơ PKDB, nhưng không thấy có một bản dịch nào đã đề cập và giải thích "hai cây cầu Giang thôn kiều và Phong kiều " hoặc một ngọn núi có tên là "Sầu Miên"

 

BẢN DỊCH ANH NGỮ CỦA VĂN-THI-SĨ TRUNG HOA

1- NIGHT MOORING AT MAPLE BRIDGE
The moon descends, and crows cry in the frost-filled sky.
I gaze at the riverside maples and fisherman's light in melancholy sleeplessness,
Then, outside the town of Suzhou, the night bell of Han Shan

Temple, Reaches as far as my boat.
(http://www.apec2001fm.gov.cn/suzhou/e-suzhou/suzhou.htm)

2- ANCHORING AT NIGHT BY THE FENGQIAO BRIDGE
The moon sets and crows crow in a frosty sky,
the fisherman dozes off by his fishing light at the Feng Bridge;
the bell in Hanshan Temple on the outskirts of Suzhou chimes,
and arrives the passenger boat at midnight
(http://www.shanghai-rr.com/e-shrr/surround%20areas/main-3.htm)

3- A NIGHT'S MOORING AT THE MAPLE LEAF TREE
Moon sets, crows cry and frost fills all the sky; 
By maples and boat lights, I sleepless lie. 
Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight; 
Its ringing bells reach my boat at midnight.
(http://www.chinapage.org/poet.html)

4- OVERNIGHT STAY AT FENG QIAO
The moon goes down and in frost-filled air rings crow's cry,
Sleepless, in the shadow of riverside maples, I stare at the fisherman's lantern.
Away from the town of Suzhou stands Han Shan Temple,
The chime of its mid-night bell reaches as far as my boat." 
(http://202.84.17.73/english/temple12.htm -Xinhua News Services)

5 MOORING FOR THE NIGHT AT FENGQIAO BRIDGE
The moon goes down, crows cry under a frosty sky, 
Dimly lit fishing boats' neath maples sadly lie.
Beyond the Suzhou walls the Temple of Cold Hill 
Rings bells, which reach my boat, breaking the midnight still.
(http://www.chinatour1.com/Jiangsu.htm -Jiangsu)

6- NIGHT-MOOR AT MAPLE BRIDGE 
Moon set, crows caw, frost fills the sky
River maples, fishing fires, drowsing in sorrow 
Outside Gusu City, the Cold Mountain Temple 
At the midnight bell, arrives the visitor's boat
(Zhang Ji)

7- A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE 
While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.
(Witter Bynner) 

Nghi vấn 3:

Câu cuối cùng: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền: ngay cả nhà thơ Đỗ Phủ cũng chê câu nầy là không thực tế vì làm gì mà lại nghe được chuông chùa vào lúc nửa đêm.

Để giải thích điều này theo Trần Trọng San và nhiều người khác đã truyền tung giai thoại về bài thơ của sư đồ chùa Hàn San:

Giai thoại kể rằng, một hôm nhà thơ Trương Kế đi chơi thuyền trên sông. Đêm đã về khuya, nhà thơ cao hứng cất lên hai câu thơ tuyệt tác:

 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

 Đến đây nhà thơ của chúng ta có lẽ chưa cảm hứng làm tiếp hai câu sau. Cùng lúc đó tại chùa Hàn San sư cụ trụ trì cảm hứng nghĩ ra 2 câu thơ:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tự ngân câu bán tự cung

Đến đây thì sư cụ nghĩ mãi không hai câu tiếp. Bổng có tiếng gõ cửa; thì ra một chú tiểu cũng đang trằn trọc vì hai câu thơ mới nghĩ ra mà không làm tiếp được muốn xin thầy làm giúp, đấy là:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán trầm thủy để bán phù không. Nghe xong, sư cụ mừng quá vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ thành 1 bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau:

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không

Để tạ ơn Thần Phật, phá lệ thường, sư cụ cho dóng lên một hồi chuông giữa đêm khuya thanh vắng. Phần nhà thơ Trương Kế, vẫn đang trằn trọc với hình ành “Nguyệt lạc ô đề” mà chưa ngủ được; bỗng đâu nghe tiếng chuông chùa vừa thực vừa hư gieo vào lòng ông thi hứng, thi nhân viết nốt 2 câu cuối, và cũng là 2 câu thơ để lại nhiều tranh cãi luận bàn cho hậu thế:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Theo thiển ý của người viết thì giai thoại trên có lẽ chỉ là một câu chuyện để thi vị hóa thêm bài thơ PKDB của Trương Kế như thể thắp thêm một ngọn nến bên ánh đèn lưu ly. Bởi lẽ ngoài nhà thơ tài danh này mấy ai chứng minh được là ông chỉ làm được hai câu rồi cụt thi hứng phải chờ đến tiếchuông chủa nữa đêm mới hoàn tất bài thơ.

 Trong "Lục Nhất thi thoại" - cuốn sách mở đầu cho thể giai thoại về thơ trong lịch sử văn học Trung Quốc - của Âu Dương Tu (1007 - 1072) nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Bắc Tống, câu thứ tư trong bài PKDB: "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" trước đó chưa có ai phát biểu, Âu Dương Tu là người đầu tiên thắc mắc: "Các nhà thơ thường tham những câu hay mà lý thì có chỗ không thông.

"Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" … hay thì có hay, nhưng canh ba quả không phải lúc nhà chùa đánh chuông."
Sau đó dấy lên một loạt tranh cãi của các "nhà" về câu thơ này. Diệp Mộng Đắc cũng đời Tống viết trong "Thạch Lâm thi thoại": "Có lẽ ông Âu Dương chưa từng đến Ngô Trung (chỉ Tô Châu) chứ chùa chiền đất Ngô Trung cho đến nay vẫn thỉnh

chuông vào nửa đêm."
Sách "Đường thi kỷ sự" thì nói: "Đất này có chuông nửa đêm gọi là "Vô Thường chung". Trương Kế ghi lại một điều có thực mà ông cho là lạ, còn ông Âu Dương Tu cho là "bệnh ngữ" thì không phải!"
Hồ Tử cũng đời Tống trong cuốn "Điều Khê ngư ẩn tùng thoại" nói kỹ hơn: "Sách Nam Tử có chép bài thơ "Cảnh Dương lâu" của Từ Võ Đế, bài ấy có nói đến chuông canh ba, chuông canh năm. Khi Ngô Cảnh Trọng làm thái thú Ngô Hưng thì cấm chuông nửa đêm. Các nhà đời Đường, như Bạch Lạc Thiên, Ôn Đình Quân, nói nhiều đến chuông nửa đêm. Ông Âu Dương chắc không khảo cứu đến…"


pkdb1

 Thư họa Phong Kiều Dạ Bạc


Lại nữa nhà thơ là người cảm được và chuyển tải được cái đẹp theo sự thăng hoa của mình mà không theo một lý luận cứng nhắc của khoa học, một không gian thời gian theo lý lẽ đời thường. Và phải chăng trong lúc đêm khuya đối mặt với cảnh thê lương, một mình trên thuyền sầu không ngủ được bổng chốc trong một sát na (*) nào đó tiếng chuông từ tâm thức vọng lại làm nhà thơ đốn ngộ, tâm và cảnh đã nhập làm một, mới viết nên một bài thơ tuyệt tác nhưng lại gây nhiều tranh cãi như vậy.

 (*) Danh từ sát na (Khana) được dùng để chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi. Theo Abhidhamma Mahàvibhàsa (Trí Luận) những sự biến đổi của hiện tượng giới được giải thích một cách rõ ràng như sau: "Vạn pháp luôn luôn biến đổi, không một vật gì có thể tồn tại trong hai sát na liên tiếp". Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.

 

 

NT1 Nguyễn Đăng Hương

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Bảy 20187:58 SA(Xem: 35)
Thậm chí, chỉ việc ông Donald Trump đồng ý ngồi xuống nói chuyện với Tổng thống Nga Vladimir Putin ở Helsinki, Phần Lan, hôm thứ Hai ngày 16/7, đã được cho là ‘một chiến thắng đối với ông Putin’. Trong cuộc họp báo chung đó, ông Trump đã không chịu công nhận kết luận của chính quyền Mỹ, bao gồm cộng đồng tình báo và Quốc hội, rằng Nga đã can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống hồi năm 2016 để giúp ông giành thắng lợi mà ngược lại ông còn ủng hộ những tuyên bố của ông Putin. Ông Trump thậm chí còn gọi nước Mỹ là ‘ngốc nghếch’ và ‘ngớ ngẩn’ khi để quan hệ hai nước xấu đi. Putin thắng lợi? Khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ngồi xuống với Tổng thống Mỹ Donald Trump trong một cuộc gặp thượng đỉnh mà ông ấy mong muốn từ lâu, Putin sẽ gần như đạt được mọi thứ mà ông ấy hy vọng, tờ New York Times nhận định. Tất cả những gì mà Putin cần để cho cuộc gặp thượng đỉnh này thành công là để cho nó diễn ra mà không có va chạm gì lớn – do đó ông có thể tạo ra một sự kết thúc
16 Tháng Bảy 201811:47 SA(Xem: 125)
Biến cố 1975, một cuộc đổi đời lần thứ hai kể từ sau ngày phân chia đất nước với Hiệp định Genève 1954. Sau 1975, vẫn các giáo sư gốc di cư từ miền Bắc vào Nam còn ở lại như Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Hoàng Tiến Bảo, Gs Đào Đức Hoành, Gs Nguyễn Đình Cát... cácThầy nay tuổi đã cao, mỗi ngày phải đi làm bằng xe đạp tới bệnh viện hay xa hơn tới trường Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng vẫn các Thầy ngoài việc chăm sóc bệnh nhân và giảng dạy cho sinh viên, từ nay còn phải làm thêm việc của y công như lau quét các phòng vệ sinh và cả đổ rác. Không làm sao mà quên được cảnh tượng một Gs Phạm Biểu Tâm phải lau chùi cầu tiêu bị té ngã bầm dập ở bệnh viện Bình Dân, Thầy Tâm rất sợ Cô lo, nên dặn dò không báo tin cho Cô biết. Như từ bao giờ, trong mọi hoàn cảnh các Thầy vẫn luôn giữ được nhân cách cao trọng của người trí thức, không phát biểu những lời xưng tụng chế độ mới. Các Thầy cũng không thể không não lòng khi hàng ngày phải chứng kiến trình độ dốt nát
13 Tháng Bảy 20189:52 CH(Xem: 411)
Sự thành lập ngôi trường thật sự chỉ là một cơn nứng c. của tên tướng không quân, từ lò lính Pháp ấy, văn dốt võ dát ấy, ký sắc lệnh thành lập, rồi sau đó cho một tên đại tá hải quân tốt nghiệp từ thương thuyền qua chỉ huy. Tên đại tá hải quân mê gái, không biết cách chỉ huy bộ binh, không biết cách phòng thủ trường, chỉ biết "rếch lô" khám giường, tủ, súng ống cho không có một hạt bụi, một vết dơ. Sau đêm địch đánh vào trường, không có chiến thuật nào phòng thủ, đánh trả, khiến trên 30 tu sĩ đang theo học ở đây chết, thêm 10 sinh viên sĩ quan chết và bị thương. Trường u sầu như khóc than thân phận, và hờn oán cho những tên cai thầu chiến tranh, đứng ngất ngưỡng trên cao rung đùi, sắp đặt âm mưu chiếm quyền, chiếm ghế. Tay chỉ huy trưởng, đại tá hải quân, dốt đặt cán mai về chỉ huy bộ binh, đã làm chết hơn bốn mươi học viên, không bị đưa ra tòa án quân sự, không bị tù, không bị xử phạt, không bị hạ cấp bực, hay trọng cấm... mà sau đó được đưa về lại hải quân, giữ chức vụ cao
11 Tháng Bảy 20183:46 CH(Xem: 136)
Khi tôi còn trẻ hơn bây giờ 10 tuổi, thì mới được một cái nghề rất nhênh nhang, là đi về các xóm thôn quê kiểng để thu thập sưu tầm ca dao dân ca. Cả một mùa hè năm đó, tôi cứ như một con chim sẻ bay lung tung khắp nơi tắm táp trong những nơi thôn ổ dư thừa ánh mặt trời và dằng dặc tiếng ve kêu. Tôi thích uống thứ nước chè có vị đăng đắng của các bác nông dân, thùng nước của họ thường để dưới gốc cây to giữa cánh đồng. Tôi không chút ngại ngần, vục chiếc bát uống chè cáu kịt những cao chè vào thùng nước mà uống ngon lành; uống xong, còn múc đổ đầy bi đông của mình để mang đi. Tôi cũng chẳng kiêng dè, tham gia góp miệng với đám trai cày những câu chuyện tếu tá, kể cả nhảm nhí; rồi vênh váo nghênh ngang ra đi, để lại sau tai tiếng rúc rích thầm thì của các cô gái, dù cho có thừa biết là họ đang xì xầm vì sự có mặt của mình.
07 Tháng Bảy 20186:27 CH(Xem: 153)
Từ ít nhất bốn năm năm trở lại đây, “vấn đề Nhất Linh” cứ được hâm nóng bởi một số cây bút. Đúng ra chỉ có một người “chấp bút” viết về nhân vật này với một chủ đề nhất định, là Nhất Linh chết vì bệnh tâm thần, cùng lúc bác bỏ tất cả những chứng cứ lịch sử rất rõ rệt cho biết Nhất Linh chết vì những lý do khác. Có một điều rất ngộ nghĩnh, là khi “người chấp bút” ra một bài thì lại có người viết bài phản biện, người đó đọc rất kỹ các phản biện ấy để sửa đổi bài của mình cho hoàn chỉnh hơn, và đến một lúc nghĩ rằng bài của mình đã rất hoàn chỉnh rồi, không thể cãi đằng nào được nữa thì in thành sách. Nhưng khi sách phát hành thì đến phiên người con út của chính Nhất Linh là ông Nguyễn Tường Thiết vào cuộc, viết một bài dài bẻ gãy từng điểm không trung thực về thân phụ của mình, để đính chính trước dư luận về những điều mà ông cho rằng cố tình bóp méo những sự thật nay đã trở thành lịch sử