DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,378,059

John M.Swomley - Sự Can Thiệp Chính Trị Ngoại Quốc ... Kiểu Vatican

Friday, December 8, 20174:10 PM(View: 2166)
John M.Swomley - Sự Can Thiệp Chính Trị Ngoại Quốc ... Kiểu Vatican

Sự Can Thiệp Chính Trị Ngoại Quốc ... Kiểu Vatican

 
Image result for John M.Swomley
 
 
John M.Swomley là giáo sư danh dự về đạo đức xã hội tại Trường Thần Học St. Paul ở Kansas City, Missouri. Ông cũng là chủ tịch hội Tự Do Tôn Giáo cho Hoa Kỳ và thành viên ban quản trị của Hiệp Hội Tự Do Dân Sự Hoa Kỳ. Trong bài viết này, John M. Swomley nói về sự can thiệp của Vatican vào nội bộ của Lebanon, Ba Lan, Argentina, Sudan, Biafra, Nicaragua, Palestine, Hoa Kỳ, và Liên Hiệp Quốc.
 
Những báo cáo về việc Tàu, Indonesia, và có lẽ những chính phủ ngoại quốc khác cố gắng gây ảnh hưởng đến Tòa Bạch Ốc qua những đóng góp tiền bạc cho phe Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996 đã gây nhiều sự tố cáo ồn ào từ những người Cộng Hòa nhanh nhẩu kết tội. Rồi thì có chứng cớ là cả GOP cũng không tránh khỏi ảnh hưởng từ ngoại quốc như vậy, và những người thuộc phe Dân Chủ vội vàng quay ngược trở lại. (Và mới đây vụ thông đồng với Nga trong cuộc bầu cử 2016.)
 
Không có gì mới lạ cả. Những người ngạc nhiên về tất cả những điều này đã quên hai yếu tố quan trọng.
 
Trước hết, trong Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ cũng đã rót hàng triệu đô la cho các đảng phái chính trị ở Tây Âu để tạo ảnh hưởng, kể cả ít nhất là 10 triệu cho đảng Dân Chủ Thiên Chúa ở Ý Đại Lợi trong cuộc tranh cử năm 1948. Hoa Kỳ cũng dùng CIA để lật đổ những chính phủ dân cử, và đánh bại những ứng cử viên khác, đặc biệt là ở Châu Mỹ Latin.
 
Thứ hai, Vatican thường xuyên can thiệp và nền chính trị Hoa Kỳ mà không hề có bất kỳ sự điều tra nào của quốc hội. Và những sự can thiệp của Vatican như vậy không chỉ xảy riêng tại Hoa Kỳ mà trên toàn khắp thế giới.
 
Vì sự can thiệp của Vatican thuộc loại tối mật như của CIA, những trường hợp sau đây thường ít được biết tới, với một biệt lệ, nó được cung cấp bởi chính những người của Ca Tô. Những người bên trong này nhận ra rằng những hành vi bẩn thỉu của Vatican không đại diện cho tất cả, hay ngay cả riêng đối với những người theo Ca Tô La Mã. Thật vậy, hàng trăm ngàn người Mỹ theo Ca Tô đã chống đối quyết liệt những chức vụ của vua Vatican, cùng những người Mỹ được vua Vatican chỉ định, cho nên họ thường bầu cho những ứng cử viên chống lại những giáo điều chính thức của Vatican như về thuốc ngừa thai, phá thai, và việc tài trợ cho các trường học của nhà dòng, kế hoạch gia đình, cùng những vấn đề liên quan đến phái tính và tình dục khác.
 
Trong cuốn sách Chế Độ Giáo Vua và Trung Đông, tác giả George E. Irani cho biết sự can thiệp của Vatican vào nội tình của Lebanon qua một loạt chiến tranh tôn giáo suốt trong hai thập niên từ 1970 đến 1980. Irani viết: “Linh Mục (Holy See) không là một diễn viên công bằng vô tư ... Nó có quyền lợi tâm linh và thế tục của nó mà nó cần phải bảo vệ.” Nó còn có những quyền lợi kinh tế, theo Irani: “Những quyền lợi tài chính của Giáo Hội liên quan đến những tư bản của Ý và thị trường tự nhiên của Ý nằm dọc theo bờ biển phía nam và phía đông của Đại Trung Hải.”
 
Sự can thiệp của Vatican bao gồm cuộc viếng thăm của quan áo đỏ Terence Cook của tổng giáo phận New York đến Lebanon vào năm 1982 trong tư cách đặc sứ của lực lượng quân sự Hoa Kỳ. Quan đại thần Ca Tô là John G. Meaney, giám đốc vùng của phái đoàn giáo vua tại Lebanon, cho biết cuộc viếng thăm của Cooke “có một ảnh hưởng to lớn trong việc điều chỉnh lại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đi cho đúng hướng của Vatican. Nó hoạch định chính sách của họ, cùng chính sách của Quốc Hội Mỹ, rất nhiều, rất nhiều.”
 
Vatican cũng làm việc với, và qua, tổ chức quân sự Ca Tô có tên là Maronite và Melkite tại Lebanon. Năm 1989, tờ New York Times cho biết, trong những tổ chức quân sự tôn giáo khác nhau, Maronite là lực lượng lớn mạnh nhất, có khoảng 26 ngàn tay súng, kể cả phe được gọi là “Lực Lượng Lebanon” riêng tổ chức này cũng đã có đến 6 ngàn tay súng.
 
Theo lời nhà báo Lebanon, Salim Al Laouzi, Irani cũng viết về lực lượng quân sự Ca Tô như sau:
 
Vào đầu thập niên 1970 ... qua những ông thầy dòng ở giáo phận Kaslik, một số lãnh tụ của lực lượng Ca Tô Maronite đã ký hợp đồng với Linh Mục (Holy See), để yêu cầu họ đưa ra những đề nghị về những trung tâm huấn luyện quân sự cho lực lượng quân sự Maronite tại châu Âu. [Al Laouzi] nói: “Một tổ chức quân sự bí mật đặt căn cứ tại La Mã đã gửi những chuyên gia quân sự từng có kinh nghiệm trước đó trong những cuộc chiến tranh ở miền nam Sudan và Biafra.”
 
Những chuyên gia về chiến tranh du kích này được chọn lọc trong số những lực lượng quân sự Ki Tô tinh nhuệ nhất và được gửi đến thành phố Anvers [Bỉ Quốc], ở đó họ gia nhập các trung tâm huấn luyện đặc biệt. Hơn thế nữa, người phóng viên Lebanon còn cho biết Linh Mục (Holy See) khuyên các thầy dòng Maronite phải tài trợ cho việc huấn luyện quân sự qua đảng Phalang.
 
Theo tờ báo Người Báo Cáo Ca Tô Quốc Gia (National Catholic Reporter) số ra ngày 27 tháng 10 năm 1989, những người Ca Tô Maronite trong thập niên 1930 đã trở thành lực lượng nòng cốt của ĐoànThanh Niên Quốc Xã của Hitler, và Đoàn Thanh Niên Phát Xít của Mussolini, và từ quan điểm họ đó đã thành lập ra đảng Phalang cho riêng họ.’
 
Theo những người Ca Tô cho một Lựa Chọn Tự Do, ở Ba Lan, nơi phá thai bây giờ được xem là hợp pháp, vua Vatican “đã bắt đầu thành lập một tổ chức phi chính phủ gọi là hội Dược Sĩ cho Sự Sống. Những dược sĩ chống lại thuốc ngừa thai đó, đến tất cả các tiệm thuốc tây trên toàn quốc, mua hết những lô hàng thuốc ngừa thai trong kho để tiêu hủy.”
 
Emilio F. Mignone, một người theo Ca Tô, viết cuốn sách có tựa đề Chứng Nhân của Sự Thật: Sự Đồng Lõa của Giáo Hội và Chế Độ Độc Tài ở Argentina, tiết lộ những kế hoạch cho cuộc đảo chính bằng quân sự vào ngày 24 tháng 3 năm 1976 tại quốc gia đó. Mignone cho biết những kế hoạch đó cũng gồm “ba thành viên chính của lực lượng junta [có] một cuộc họp rất lâu với đặc sứ quân sự,” các giám thị Ca Tô chịu trách nhiệm liên lạc với các lực lượng vũ trang. Qua năm sau, sau hàng trăm vụ “mất tích,” tra tấn, và giết hại đã xảy ra dưới tay của những lực lượng quân sự gồm những giáo sĩ chống lại quân đội. Tồng giám thị Ca Tô Aldolfo Tortolo tuyên bố: “Giáo Hội nghĩ rằng trong những tình trạng như lúc này đòi hỏi lực lượng vũ trang phải điều hành chính phủ.”
 
Vào tháng 12 năm đó, giám thị Ca Tô Victorio Bonamin, đặc sứ quân sự, trong khi trình bày về ảnh hưởng của phong trào cộng sản ở Argentina nói: “Cuộc chiến đấu này là một cuộc chiến đấu bảo vệ danh dự đạo đức nhân loại và tối hậu hơn là cuộc chiến đấu bảo vệ Thượng Đế... Cho nên, tôi cầu xin sự bảo vệ thiêng liêng cho cuộc ‘chiến tranh bẩn thỉu’ mà chúng ta tham dự.”
 
Vua Vatican John Paul II tham gia sự việc này vào năm 1982 bằng cách bổ nhiệm một đặc sứ quân sự, giám thị Jose Medina, người mà theo Mignon là “công khai bênh vực cho việc tra tấn có giấy phép.” Vua Vatican không những biết tình trạng đó ở Argentina mà còn đích thân sang thăm viếng chế độ độc tài quân phiệt vào năm 1980. Ông ta từ chối tiếp xúc những nhóm nhân quyền, nhưng nói với các bà mẹ hãy “có đức tin, kiên nhẫn, và hy vọng.” (vua Francis của Vatican hiện nay, lúc bấy giờ là thủ lĩnh của dòng Jesus ở Argentina.) Để đánh dấu sự đối nghịch lại việc ông ta không đồng ý về những sự kiện xảy ra trong những quốc gia khác, như Ba Lan và Nucaragua, Mignone viết rằng vua Vatican không nói công khai về những sự kiện ở Argentina ngoại trừ việc nói rằng: “trước khi bắt đầu trở lại Buenos Aires, tổng giám thị Pio Laghi [đại sứ của triều đình Vatican tại Argentina] tiếp xúc với những tư lệnh và sĩ quan trong quân đội tại Tucuman và làm lễ ban phép lành của giáo vua cho họ.”
 
Câu chuyện của Associated Press đăng trên báo Kansas City Star số ra ngày 21 tháng 5 năm 1997 tường trình rằng Laghi lúc này đang ở La Mã, và là một trong những đại quan đại thần cấp bậc áo đỏ có thế lực nhất của Giáo Hội Ca Tô La Mã, đang bị tố cáo bởi một tổ chức nhân quyền hàng đầu ở Argentina (Những Bà Mẹ của Palza de Mayo) về sự đồng lõa của ông ta trong việc tra tấn, tàn sát, và bắt cóc trẻ con đối với hàng ngàn người bị nghi ngờ bất đồng chính kiến. Tổ chức này cáo buộc rằng ông ta “đã hợp tác rất mật thiết với chính quyền độc tài quân phiệt 1976-1983” trong cuộc chiến tranh dơ bẩn và, theo lời khai của “một giám thị, bảy thầy giảng đạo, một mẹ bề trên cùng hai người khác, được thấy tại những nhà tù bí mật của chính phủ và các trung tâm tra tấn.” Tổ chức này yêu cầu Ý truy tố Laghi và yêu cầu vua Vatican gỡ bỏ quyền miễn trừ ngoại giao để ông ta có thể bị truy tố ra tòa.
 
Laghi cũng là đặc sứ của Vatican tại Washington ngay sau khi Ronald Reagan trở thành tổng thống. Dựa vào kinh nghiệm phục vụ tại Argentina, Nicaragua, and Palestine, ông ta là nhân viên giải quyết trở ngại (troulbleshooter) bí mật của vua Vatican. Tại Washington, nhiệm vụ của Laghi dễ dàng hơn bởi ông có sự hợp tác của đám Ca Tô cánh hữu, những người giữ những chức vụ chiến lược và nhạy cảm trong chính phủ Reagan. Ví dụ, giám đốc CIA William Casey là một thành viên của hội kín vô cùng bí mật Hiệp Sĩ Malta, luôn thề trung thành với giáo vua Vatican. Theo cuốn sách có tựa đề Con Người của Thượng Đế: Cuộc Chiến Đấu cho Chủ Nghĩa Ca Tô Thế Giới, tác giả Penny Lernoux cho biết, trước khi Reagan bổ nhiệm vào CIA, Casey là thành viên thuộc một nhóm nhỏ toàn quyền chọn những nhân vật chính yếu cho chính phủ Reagan, kể cả những người cầm đầu nội các. Những người khác trong nhóm gồm có hai Hiệp Sĩ thuộc nhóm Ca Tô cánh hữu có thế lực rất lớn là: James L. Buckley, anh của William Buckley, và Frank Shakespeare, chủ tịch cơ quan Heritage Foundation.
 
Những nhân vật chính yếu trong chính phủ Reagan liên lạc với Laghi là những Ca Tô cánh hữu như Casey cùng những người thân cận của ông gồm: Cố Vấn Cao Cấp về An Ninh Quốc Gia và Chính Sách Đối Ngoại, Richard Allen; Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Wiiliam Clark; Bộ Trưởng Ngoại Giao Alexander Haig; Tướng Vernon Walters; và đại sứ Mỹ tại Linh Mục William Wilson. Trong cuốn sách mang tựa đề Vatican và Chính Phủ Reagan, tác giả Anna Maria Askari có đề cập đến cuộn băng ghi âm cuộc phỏng vấn với đại sứ Wilson, trong đó ông nói về Salvador, châu Á, cùng tất cả những “điểm rắc rối” trên thế giới và nói rằng vua Vatican đã nắm trong tay tất cả những chỗ này. Căn cứ vào đâu Wilson biết được sự khác biệt giữa vua Vatican và Hoa Kỳ? Wilson trả lời: “Không có gì sai khác.” Có hiểu lầm điều gì chăng? “Không có. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều. Họ nghe chúng tôi rất kỹ.”
 
Sau đây là những điều Vatican đã khiến Hoa Kỳ phải thay đổi chính sách đối ngoại, phần lớn là công chúng Hoa Kỳ không hề hay biết:
 
▪ CIA có nhiều Ca Tô nắm những vị trí chính yếu, thiết lập một mối liên hệ hành động với Vatican sau thế chiến thứ hai và hợp tác với triều đình Vatican trong việc giúp đỡ tội phạm chiến tranh Đức Quốc Xã tìm nơi ẩn trốn, thường là ở châu Mỹ Latin.
 
▪ CIA cung cấp cho triều đình Vatican những dữ kiện cá nhân về “những nhà ngoại giao được bổ nhiệm làm việc tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Vatican” theo cuốn sách Con Người của Thượng Đế của tác giả Penny Lernoux.
 
▪ Để đáp ứng cho chiến lược chính trị của Vatican, CIA “đã bơm 65 triệu đô la vào những phong trào cánh hữu và trung tâm (centrist) ở Ý giữa những năm 1946 và 1972, theo sự điều trần bởi các Dân Biểu Ha Viện.” Tác giả Letnoux cũng cho biết “Trong khi đó đoàn quân giáo vua Ca Tô Hành Động đã sẵn sàng nhảy vào trận chiến với xe jeep, súng đạn, cùng những quân dụng, quân nhu, khác của Hoa Kỳ.”
 
▪ Các giám thị Ca Tô dẫn đầu bởi tổng giám thị Joseph Bernadin gây áp lực lên tổng thống Jimmy Carter vào tháng 8 năm 1976 bắt ông ta phải bổ nhiệm một nhân vật Ca Tô vào nội các trông coi Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế (AID). Năm 1979, tổng thống Carter bổ nhiệm Joseph Califano, một dân Ca Tô, và chấm dứt nhiệm vụ của bác sĩ RT Ravenholt trong suốt 13 năm trong chức vụ giám đốc chương trình dân số toàn cầu của Bộ Ngoại Giao.
 
▪ Trong năm 1980, thượng nghị sĩ Frank Church, chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện, đề nghị một tu chính về đạo luật yểm trợ ngoại quốc, phát biểu: “Những người Ca Tô ... đòi hỏi rằng bất kỳ một chương trình viện trợ nào chúng ta thực hiện trên bất kỳ một mảnh đất ngoại quốc nào, kể cả thông tin và dịch vụ phải có liên quan đến và yểm trợ những phương pháp kế hoạch gia đình tự nhiên.”
 
▪ Vào ngày 10 tháng 1 năm 1984, chính phủ Reagan thiết lập bang giao chính thức với Vatican, chấm dứt thời kỳ dài hơn một thế kỷ Hoa Kỳ chống đối những liên hệ ngoại giao như vậy. Mặc dù phải đối diện với một thách thức to lớn về quyền lợi của chính Hoa Kỳ, Tối Cao Pháp Viện vẫn từ chối xét xử vấn đề này.
 
▪ Trong suốt cuộc chiến tranh “contra” do Hoa Kỳ tài trợ, Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế (AID) yểm trợ Phái Đoàn Tổng Giáo Phận Phát Triển Xã Hội (CORPOS) và giáo phận Nicaragua trong việc chống lại lực lượng Sandinistas của họ.
 
▪ Năm 1984, chính phủ Reagan, theo yêu cầu của Vatican, tuyên bố tại Hội Nghị Quốc Tế về Dân Số tại Mexico City rằng nó đang đảo ngược sự tham gia của nó trong suốt nhiều năm về kế hoạch gia đình thế giới, và rút lại những tài trợ cho Liên Hiệp Quốc cho Những Hoạt Động Dân Số và Liên Đoàn Cha Mẹ Kế Hoạch Thế Giới.
 
▪ Năm 1975, Mẹ Theresa sang Hoa Kỳ với mục đích nhằm vận động với Quốc Hội chống lại việc thông qua lập pháp về việc đòi hỏi những nhà cung cấp kế hoạch gia đình phái được tham gia vào mọi phương pháp kế hoạch gia đình.
 
▪ Năm 1986, Hội Đồng Ca Tô Hoa Kỳ vận động chính trị (lobby) với Quốc Hội nhằm chấm dứt việc tài trợ các chương trình nghiên cứu thuốc ngừa thai và phải thực hiện kế hoạch tự nhiên, vốn được Vatican ủng hộ, là một phương pháp kế hoạch thích hợp hơn.
 
▪ Vào năm 1958, Hoa Kỳ tài trợ cho những chương trình kế hoạch gia đình tự nhiên đã tăng đến 7.8 rtiệu đô la, và Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế (AID) tặng 20 triệu đô la cho trường đại học Georgetown, môt cơ sở giáo dục của Ca Tô, để xét lại tất cả chương trình như vậy trên  thế giới. Cơ Quan AID cũng tặng tổ chức Family of Americas Foundation một số tiền 6,8 triệu đô la để khuyến khích kế hoạch gia đình tự nhiên trên toàn thế giới, không được cung cấp tin tức tài liệu về những phương pháp khác, và phải lên án thuốc ngừa thai.
 
▪ Tổ chức Dịch Vụ Cứu Trợ Ca Tô (Catholic Relisf Services - CRS) chỉ áp dụng những chương trình kế hoạch gia đình tự nhiên do triều đình Vatican đề ra, dù nó nhận khoảng 77% trong 290 triệu đô la ngân sách thường niên từ chính phủ Hoa Kỳ.
 
Phần ở trên chỉ nhằm cho người đọc biết vài khái niệm về việc Vatican hoàn toàn kiểm soát tất cả chính sách của Hoa Kỳ, dù đối nội hay đối ngoại, dù xã hội hay chính trị. Thêm vào những sự thao túng phía sau hậu trường loại này là qua những dân biểu và nghị sĩ Ca Tô trong Quốc Hội và nhân viên cao cấp trong Tòa Bạch Ốc, triều đình Vatican còn trắng trợn muốn quyết định độc đoán mọi chính sách đối nội của Hoa Kỳ. Vào ngày 25 tháng 6 năm 1992, Vatican ra thông báo cho tất cả giám thị Mỹ rằng: “Ngành lập pháp vừa rồi có đề nghị rằng trong vài tiểu bang sẽ chuẩn bị thông qua việc phân biệt phái tính là bất hợp pháp.” Thế là triều đình Vatican đưa ra một danh sách mà phân biệt phái tính được xem là hợp pháp, gồm; giáo chức, huấn luyện viên, người thuê mướn nhà, người nhận con nuôi và nhân viên bảo trợ chăm sóc, cùng việc gia tăng quyền lợi về bảo hiểm sức khỏe tại các công ty đối với người tình của một nhân viên đồng tính.
 
Khi dự luật bảo đảm nhân quyền đối với những người đồng tính đệ trình trước Hội Đồng thành phố Chicago năm 1986, “có sự đồng ý về mặt chính trị rằng nó sẽ được thông qua với tỉ lệ phiếu ít nhất là của 30 ủy viên” theo tác giả Lawrence Lader đã viết trong cuốn sách có tựa đề là Chính Trị, Quyền Lực và Giáo Hội. Thế nhưng giáo quan Ca Tô áo đỏ Bernadin “kết án dự luật” với những lời lẽ nặng nề gay gắt, và dự luật này bị đánh bại ngay bởi 30 phiếu chống với 18 phiếu thuận.
 
Rõ ràng là những can thiệp như vậy vào chính sách đối ngoại cũng như đối nội, cùng sự chống đối của nó trong vấn đề ngừa thai và phá thai, triều đình Vatican đã tự coi nó là kẻ cai trị quốc gia thế giới về mặt chính trị thần quyền, với quyền hạn có thể sai bảo tất cả những nhà lập pháp trong các quốc gia dân chủ những gì họ phải, hay không phải, làm luật.
 
Nếu người nào đó biện minh rằng giáo hội chỉ tham gia trên mặt đạo đức, thì điều quan trọng cần thiết nên lưu ý đến, là sự khác biệt giữa một quốc gia dân sự và một giáo hội. Tại Hoa Kỳ, Hiến Pháp đòi hỏi chính phủ phải “tăng tiến nền an sinh đại chúng” không phải chỉ là sự an sinh được chấp thuận bởi triều đình Vatican.. Hơn nữa, Vatican không phải chỉ là một giáo hội; nó cũng là một quốc gia, đang bị cai trị bởi cùng những con người cai trị giáo hội.
 
Theo Paul Blanshard tác giả cuốn Tự Do Hoa Kỳ và Quyền Lực Ca Tô, Vatican có “một chính phủ hoàn toàn dân sự với một lá cờ, một lực lượng cảnh sát, những tòa án và các con tem bưu điện. Nó phát hành tiền tệ và sổ thông hành cho công dân của nó, và có cả một đoàn ngoại giao to lớn và tích cực, cầm đầu bởi Bộ Trường Ngoại Giao với những đại sứ gọi là những tu sứ (nuncios).” Một chính phủ hoàn toàn độc tài với tất cả quyền lập pháp nằm trong tay của vua La Mã.
 
Điều này mới có nghĩa là không có sự phân biệt giữa giáo hội và quốc gia.
 
Nó cũng có nghĩa là triều đình Vatican ngang nhiên đòi hỏi quyền phán xét “tất cả nơi nào có người theo Ca Tô.” Nó chiếm quyền đại diện tại Liên Hiệp Quốc và hành xử như một quốc gia trong tổ hợp thế giới, cùng lúc nó hoạt động như một giáo hội. Tuy vậy, những chính trị gia Hoa Kỳ vẫn không bao giờ dám điều tra về bao nhiêu âm mưu của Vatican nhằm gây ảnh hưởng hay kiểm soát chính sách đối ngoại hay đối nội của Hoa Kỳ bởi vì, như con tắc kè, nó cho rằng nó chỉ hoạt động như một giáo hội, không phải là một quốc gia. Thực tế, nó đã trở nên đầy quyền lực khiến bất kỳ ai muốn điều tra nó sẽ phải đối diện với một thử thách nặng nề, một nguy cơ trong nghề nghiệp làm chính trị.
 
Tất cả những điều này là bằng chứng tại sao chủ nghĩa chính trị đại đồng (ecumenism) là một nguy hiểm thực sự. Những người Ca Tô Tiến Bộ và những người không Ca Tô phải soi xét mọi đề nghị đưa ra bởi các giám thị Ca Tô và những chính trị gia Ca Tô với một sự soi rọi nghiêm khắc không bình thường, để xem họ có đẩy chúng ta dần đến một quốc gia theo chính thể chính trị thần quyền như loại quốc gia hô hào, chủ trương bởi những nhóm Tin Lành cánh hữu như các tổ chức Liên Hiệp Ki Tô, Những Kẻ Giữ Lời Hứa, Chú Tâm vào Gia Đình, và Đoàn Mục Sư Rặng San Hô. Có nhiều chứng cớ rằng có thể họ đã ngũ chung giường với nhau lâu rồi. Than ôi, những người theo Ca Tô đã thề trung thành với vua La Mã, mà không phải với quốc gia họ được sinh ra.
 
 John M.Swomley
Từ: THE HUMANIST, trang 21




*

Mời tìm đọc:


Amazon Sấp Ngửa
Amazon Mẫu Hệ



*

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần
(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content



*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh

        (714) 724-5699


scan_pic0035-contenthoang_anh_1_0-content





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 277)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 225)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 628)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 423)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 335)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,