DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,375,810

Ngô Nguyên Dũng - Thói "ăn" nếp "ở" của người Việt qua cách nói

Saturday, December 16, 20177:24 PM(View: 3231)
Ngô Nguyên Dũng - Thói "ăn" nếp "ở" của người Việt qua cách nói
Tặng phẩm của ngôn ngữ:
Thói "ăn" nếp "ở" của người Việt qua cách nói


blank

- Thói ăn:
Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ. Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau.

Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi trong bếp coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm thứ gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong kho tàng Việt ngữ có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác.
Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ!
Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết",  "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", "ăn đầy tháng", "ăn thôi nôi", … Từ "ăn" trong những nhóm từ này rõ ràng là hành động đưa thực phẩm vào miệng, nhai rồi nuốt, không thoát đi đâu được. Giống như "ăn" trong "ăn khín", "ăn chực", cũng là "ăn", nhưng hàm ý không mấy tốt, tới ăn không ai mời, hoặc có mời nhưng sau đó lại nhiếc móc sau lưng:
"Cái thằng đó ưa tới nhà mình nhằm giờ cơm để ăn khín mà không biết mắc cỡ!"

Nhưng "ăn chực" trong thành ngữ "ăn chực nằm chờ" lại ngụ ý: kiên nhẫn chờ được giải quyết một vấn đề gì đó. Nguyên nhân có lẽ bắt nguồn từ xưa: mỗi khi dân chúng từ những làng quê xa xôi có việc tới nhà quan ở chợ, ở tỉnh, ở kinh thành, thường đem theo đồ ăn thức uống để lót bụng, vì biết chắc thế nào cũng phải chờ đợi lâu lắc, lắm khi dăm ba ngày liên tiếp: Ăn để chực chờ tới lượt được vô hầu quan lớn.

Còn có chuyện "ăn ké" nữa kìa! Trong vở tuồng ăn uống này, có hai vai: chính và phụ. Vai chính là người quyết định chuyện ăn, còn vai phụ "ăn ké" là kẻ chầu rìa, được vai chính cho gì ăn nấy, đôi khi là miếng ăn dư. Đó là nghĩa đen. Còn nghĩa bóng? Trong chuyện bài bạc, bài cào hay xì-dách, thường có người ít tiền hay nhát gan đứng ngoài, nhưng để ý coi tay con nào có số đỏ, lâu lâu lại chồng thêm tiền đặt ké, khi thắng gọi là "ăn ké".
Phong cách ăn uống, nói năng giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong truyền thống phong tục, lễ giáo của người Việt. Con cái, đặc biệt là con gái, bởi lẽ thời xưa không được tới trường, được mẹ dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở", coi như những chuẩn mực để xử thế và giao tiếp trong gia đình, họ hàng và ngoài xã hội. Nghĩ rộng, thấy bốn món "công, dung, ngôn, hạnh" được gói ghém gần như trọn vẹn trong đó. (Tới đây, người viết xin được mở dấu ngoặc, đặt dấu hỏi lớn về nghĩa đen và nghĩa bóng của cụm từ "học gói, học mở" trong thành ngữ này. Tự điển Việt ngữ có vài cách giải thích khác nhau, không biết thực hư ra sao?).

Vậy, "ăn" khi đi chung với "nói" được hiểu là đối đãi, cư xử. Nhưng khi cặp kè với "nhậu", tuỳ theo cách nói, lại có nghĩa hoàn toàn khác: "Chuyện vợ chồng người ta không ăn nhậu gì tới mình, mình xía vô đâm ra mất lòng." Ở đây, không biết vì nỗi niềm trắc trở gì mà "ăn nhậu" đành đoạn chia tay, không còn luyến tiếc chút dư vị nào của "ăn uống, nhậu nhẹt" nữa, để cải trang, đổi lớp thành "dính líu, dính dáng". Lạ, nhưng không lớn!
Chuyện lớn chỉ thực sự xảy ra, khi "ăn" lỡ chung chạ với "nằm". Thử nghe mẹ quát con gái:
"Hả, cái gì? Bộ đui hay sao mà mày ăn nằm với cái thằng trời đánh thánh đâm, lưu manh láu cá đó? Trời ơi là trời, con ơi là con!"

Nhất định là phải có "ăn" vô đây thì "nằm" mới trọn nghĩa "tằng tịu" của nó, và được dùng để ám chỉ những trường hợp chung chạ xác thịt không chính thức. Vợ chồng với nhau, không ai, hoặc không nên, nói "ăn nằm", mà nói "ăn ở". Khi người vợ rưng rưng nước mắt trách cứ:
"Vợ chồng mình ăn ở với nhau bảy mặt con, không còn tình cũng còn nghĩa, mình nỡ lòng nào ăn nằm với con ở.
Bây giờ, nó chang bang một bụng, em biết ăn nói sao đây với con cái?"

Nghe thương xót biết mấy! Và, "ăn nói" trong tình huống này, có thêm nghĩa "giải thích, làm sáng tỏ", ở đây là lý do tại sao cái bụng chị ở không dưng càng ngày càng phình lớn một cách vô cùng khó hiểu.
Chuyển qua "ăn vụng". Nghĩa đen ý nói "giải quyết cái đói một cách lén lút": "Nhà tôi có tật ăn vụng ban đêm, khuya nào cũng thức dậy, xuống bếp lục cơm nguội." Chuyện nhỏ, không sao cả. Nhưng tới lúc nàng nghiến răng trèo trẹo cảnh cáo: "Tôi nói cho anh biết, anh mà lén tôi đi ăn vụng, tôi biết được, đừng có trách tôi ác!" Và, tới khi bạn gái trề môi nhún mỏ rỉ tai nhau: "Ai kêu, ăn vụng không biết chùi mép, bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đáng đời!", thì chuyện đã… mọc trăng sao, đang tối thành sáng trưng. Hành động "ăn vụng" trở mặt, chỉ còn độc nhất một nghĩa bóng: "Đã có gia đình, còn lén lút ngoại tình."

Trực tiếp hay gián tiếp cùng nghĩa với "ăn", trong tiếng Việt có "ăn xin", "ăn mày": "Xin" người khác để có miếng ăn, để sinh sống. (Chữ "mày"  trong "ăn mày" ngụ ý gì, có dính dáng gì tới "mày ốc", "mày ghẻ" hay không, người viết không rõ. Tìm trong tin mạng, thấy bác Google phán: "mày" có nghĩa bóng là "của bố thí".) Không riêng gì ở Việt nam, mà khắp nơi trên thế giới, đều có người ăn mày. Thậm chí, như ở Việt nam, nghe nói có cả làng sống bằng nghề ăn mày, từ đời cha tới đời con (?). "Ăn mày", lẽ đó, nghiễm nhiên trở thành cái nghề. Để rồi, từ "nghề" chuyển ra "nghiệp", đâu mấy hồi. Sinh ra, vướng nghiệp "ăn mày", cuộc đời hẳn nhiên rách, rách tả tơi. Đâu mấy ai nhờ đó mà "ăn nên làm ra"?

Qua tới các động từ "ăn cắp", "ăn trộm", "ăn cướp" thì đột nhiên "ăn" không còn ý nghĩa là hành động giải quyết cái đói nữa (hay có, nhưng rất gián tiếp), mà: lấy của người khác làm của riêng.
Ca dao có câu:
Con ơi học lấy nghề cha,
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.

Thì ra, không phải chỉ có nghề "ăn mày", có cả nghề "ăn trộm" nữa kia. Và, cái nghề này hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn nhiều. "Ăn trộm" trúng mẻ, trời ạ, "thu nhập" ngang ngửa ba năm làm. Nghe bắt ham!
Dĩ nhiên, đã là nghề thì phải có trường ốc đào tạo, để học viên rành rẽ bài bản sáu câu mùi mẫn sau khi tốt nghiệp học đường "ăn mày", và có chiến thuật tiến thoái gọn gàng, êm thắm, không để lại dấu vết khi thành tài "cử nhân ăn trộm". Theo học trường ốc ở đây, học viên không cần ghi danh, đóng lệ phí, cũng không nên hy vọng sẽ có ngày được bảng vàng ghi tên. Tất cả tuyệt chiêu, mánh mung được "sư phụ" tận tình chỉ giáo cho "đệ tử", và hẳn là lén lút theo truyền thống dân gian truyền khẩu, cha truyền con nối. Vì vậy, không thấy lưu lại sách vở, tài liệu gì, để hậu bối đưa lên tin mạng cho người viết tiện việc tra cứu.

Trong khi "ăn cắp" và "ăn trộm" mang nghĩa lén lút, lặng lẽ, lấm lét, lạnh lùng lấy "cắp" và lấy "trộm" của người khác làm của riêng, thì "ăn cướp" là dùng võ lực lấy công khai, nhiều khi sử dụng cả dao găm, súng đạn để tước đoạt cho bằng được.
Con ơi nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Khổ cho dân mình quá! Nhưng không phải chỉ có khổ không đâu, cũng có trường hợp dân chúng nhờ cướp mà sướng. Thời xưa, ở Tây có anh hùng Robin Hood, ở Tàu có "108 anh hùng Lương Sơn Bạc" là những anh hùng thổ phỉ, cướp của người giàu, phân phát cho dân nghèo. Sướng không? Rủi thay, chỉ sướng… ảo, vì các vị anh hùng thảo khấu nêu trên toàn là những nhân vật huyền thoại. Thời nay, tin mạng loan tin, ở Mỹ có anh quản lý ngân hàng "vừa bị tuyên án 41 tháng tù giam vì tội đã lấy tiền ở một số tài khoản của ‘người giàu’ bù vào tài khoản của ‘người nghèo’ tại ngân hàng nơi anh ta làm việc." Khi bị phát giác, anh được các nhà tâm lý học chẩn bệnh, rằng anh mắc phải "hội chứng Robin Hood" (Robin Hood syndrome). Dù vậy luật sư vẫn không cứu vãn cho anh được trắng án. Thì ra, ngoài "hội chứng ăn cắp", danh từ khoa học là Kleptomania, còn có thêm "hội chứng ăn cướp"! Biết đâu chừng, dám có cả "hội chứng ăn chực, ăn khín" nữa, mà quý ông Sigmund Freud, Carl Gustav Jung chưa tìm ra!

Đàn bà, con gái khi trong nhà không có gì ăn, tối tối ra đường ăn… sương, riết thành chuyên nghiệp. Người nào lỡ mang tiếng "gái ăn sương", không được ai thương hại, mà còn bị bêu rếu. Thời đại bây giờ, phụ nữ không còn độc quyền hành nghề này nữa, cả nam giới và, buồn thay, ngay cả thiếu niên nam nữ cũng nhảy vô cạnh tranh. Còn động từ "ăn đêm", tôi nghĩ, không hẳn đồng nghĩa với "ăn sương", mà gần với "ăn khuya" hơn. Ngoài ra, còn được dùng để chỉ "hành động đi kiếm mồi trong đêm tối" của muông thú, như trong bài đồng dao ru con:
Con cò mày đi ăn đêm,
đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao…
Ỷ mạnh hoặc vai vế lớn, người miền Bắc nói "bắt nạt", người miền Nam dùng động từ "ăn hiếp". Chúng ta thường nghe trẻ con hài tội lẫn nhau trong lớp học:
"Thưa cô, trò A ăn hiếp con, mượn con cục gôm, con đòi không chịu trả, còn kí đầu con nữa!"
Khi có kẻ thừa cơ "chôm" của, hoặc đợi anh hùng hảo hán ra tay trước, rồi hùa theo lấy, người Việt mình nói "ăn hôi". "Ăn tàn" trong thành ngữ "theo đóm, ăn tàn" cũng có nghĩa tương tự.
"Cái thằng đó là hạng người ‘theo đóm ăn tàn’, không hiểu sao mầy ăn ở với nó tới sáu mặt con!" Nghe nhục nhã lắm! Còn "ăn mót" nghe lại thấy tội: "Vợ chồng nó chuyên môn ăn mót lúa của người ta mà sống", và chẳng có gì đáng hãnh diện. Ấy mà tục ngữ có câu:
Muốn ăn cơm ngon, lấy con nhà đi mót.
Muốn ăn canh ngọt, lấy con nhà bắt cua.
Câu đầu, người viết không biết phải hiểu sao cho đúng. Có lẽ ở đây không hẳn chỉ nói chuyện đi mót lúa đem về nấu cơm? Và cả hai câu hàm ý bóng gió, khuyên người đời nên biết chọn ý trung nhân cho đúng… tâm nguyện "ăn uống" chăng?

Còn "ăn" trong "ăn quịt" nguyên thuỷ hẳn có nguồn gốc "ăn xong, lỉnh mất, không trả tiền". Về sau được dùng chung cho mọi trường hợp, khi tiền bạc không được thanh toán sòng phẳng. Hai bà chủ nợ khuyên nhủ nhau:
"Chị coi chừng cái thằng cha X, bản mặt nó bảnh bao vậy chớ chuyên môn mượn tiền rồi ăn quịt."
Còn chuyện "ăn chận" hay "ăn chặn" có nghĩa "lấy bớt". Những chuyện "ăn" nầy thường xảy ra trong "xã hội đen": Mấy tay đầu nậu, ma cô ma cạo "ăn chặn" tiền của băng đảng ăn xin, đĩ điếm đứng đường. Hãy nghe chị Nguyễn thị X., ăn sương bất hợp pháp ở phố Tây ba-lô, bị cảnh sát bắt quả tang, van nài: "Mấy ông tha cho tui lần nầy. Tại tui cần tiền nuôi mẹ già con dại, chồng bại liệt, nên mới làm cái nghề nầy. Kiếm được mười, bị thằng bảo kê ăn chặn mất bảy. Tui hứa, từ rày về sau sẽ làm ăn lương thiện."

Cũng là "ăn chận", nhưng hợp pháp, thường thấy trong thị trường mua bán bất động sản, gọi là "ăn huê hồng" theo phần trăm, ký kết giao kèo đàng hoàng. Những người hành nghề nầy, theo ngôn ngữ hậu hiện đại, được mang danh xưng "bác sĩ nhà đất". Ông bác sĩ nầy không có phòng mạch cũng chẳng chữa bệnh ai, mà chỉ lo kinh doanh chuyện nhà đất, hưởng tiền hoa hồng. Những khi trúng mối, bán được nhà cho Việt kiều mệnh danh "triệu phú chả giò" hay "tỷ phú bánh mì", kiếm bộn bạc chứ chẳng chơi.
Khi "ăn" cặp kè với "vạ", ngộ nghĩnh thay, "ăn" bay mất nghĩa gốc. "Ăn vạ" là tiểu xảo thường thấy ở tâm lý lì lợm của trẻ con và… cầu thủ đá banh. Nhiều bà mẹ thường than phiền:
 "Thằng út nhà tôi, mỗi lần đòi gì không được là lăn ra ăn vạ, khóc lóc thảm thiết, thấy ghê lắm!"
Hoặc:
"Cầu thủ Y cố tình ăn vạ, thay vì được quả phạt đền, lại bị trọng tài phạt vạ thẻ vàng."
"Ăn" trong trường hợp này, có lẽ gián tiếp ngụ ý "cầu thắng, để đạt được mục đích" chăng?

Tản mạn thêm chuyện bài bạc. Tứ sắc là trò chơi bài lá thông dụng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Người viết biết chơi bài nầy từ nhỏ, được má, dì và bà ngoại chỉ vẽ vào những dịp Tết. Thông thường, tứ sắc gồm bốn tay. Khi chơi có luật, nói theo "ngôn ngữ tứ sắc", cấm "ăn sang sông". Có nghĩa đại khái, tay bài không được phép xé đôi trong bộ tướng-sĩ-tượng, xe-pháo-mã hay bộ chốt để "ăn" bài trên tay của hai người ngồi bên phải đánh ra hoặc kéo từ trong "nọc", giành mất cơ hội của người khác. Như vậy, từ "ăn" trong trường hợp này, có nghĩa là "giành lấy" (lá bài tứ sắc) về phần mình. Ai chơi trái luật, bị bắt quả tang, sẽ bị phạt đền, bù tiền cho những người thua bàn ấy.   
Cũng chuyện đỏ đen, bài bạc. Vợ chồng Năm Chuột là dân cờ gian bạc lận, sống bằng nghề "bài ba lá". Ngày nào đi làm về, anh Năm cũng bị vợ vặn hỏi:
"Bữa nay ăn thua sao rồi?"
Không thoát đi đâu được, "ăn" ở đây đồng nghĩa với "thắng". Giống như trong thành ngữ "ăn thua đủ", có nghĩa "so tài đọ sức cho tới lúc thắng thua minh bạch mới thôi":
"Tư Lùn là tay anh chị thuộc hạng dế ốc tiêu, vậy mà gan cùng mình, dám ăn thua đủ với dế cơm Hai Búa, không sợ sứt càng gãy gọng sao ta!"
Hoặc trong "ăn gian": Gian lận để thắng. Nhưng nhiều khi còn được sử dụng thay cho "gian dối":
"Cô hoa hậu ăn gian chiều cao, lùn xịt 1 thước 55 thôi mà dám nổ, nói cao 1 thước 70!"

Chuyện nhỏ. Còn có người "ăn gian" trí thức nữa kia! Hãy nghe chị em bạn gái tâm sự với nhau:
"Chị lấy nó về làm chồng, mới biết nó là đứa ăn gian bằng cấp, đi du học Liên-xô chỉ được bằng phó tiến sĩ thôi, mà dám khoe mình là tiến sĩ, nghe có tức không?"
Khi ai muốn dằn mặt, cảnh cáo kẻ khác, chỉ cần đeo vũ khí, đạn dược cho "ăn" là đủ:
"Nói cho mầy biết, chớ có đụng vô con nhỏ đó, chồng nó cho mầy ăn dao tức thì!"
Hoặc khi đi chung với những hành động không mấy nhẹ nhàng như "tát", "đấm", "đá", v.v… thì "ăn" có nghĩa "nhận lãnh, gánh lấy hậu quả" không mấy êm đẹp. "Con bé coi vậy mà dữ, tao chỉ mới khều mông một cái nhẹ hều, đã bị nó cho ăn tát." Đối với trẻ con, ăn gì cũng thích, chỉ không hảo mấy món "ăn đòn", "ăn roi", "ăn chổi lông gà", v.v… mà thôi.

Gặp trường hợp bà mai đưa ảnh cho anh chàng kiếm vợ coi mặt, thòng theo câu nói:
"Tại con nhỏ chụp hình không ăn ảnh, chớ ngoài đời cổ ngó coi đẹp gái lắm, chú à!" Hoặc có ai đó chặc lưỡi xuýt xoa: "Cô đào X lúc nhỏ té thùng đinh, mặt rỗ như tổ ong, vậy mà tô son dặm phấn lên sân khấu, ăn đèn dễ sợ!"
Từ "ăn" trong những trường hợp này, bỗng dưng mất bén nghĩa gốc, mà có nghĩa "thích hợp, hoà hợp" với kỹ thuật chụp ảnh trong "ăn ảnh", hoặc với ánh đèn sân khấu trong "ăn đèn".
Nghĩa cũng gần như vậy, người Việt nói "ăn nhịp", thường được sử dụng khi đàn ca hát xướng, và "ăn khớp" để chỉ trường hợp nói năng, hành động sao cho hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Anh dẫn em đi quán bia ôm, trước khi về nhà, thằng anh thủ thỉ dặn dò thằng em:
"Má hỏi, mày nhớ nói là mình đi ăn sinh nhật bạn cho ăn khớp, không thôi bả đánh nát đít!"
Cùng nghĩa như vậy, nhưng đi đôi với tiếng… nước ngoài, Việt ngữ có động từ "ăn rơ", với "rơ" được phiên âm từ jeu (trò chơi, cuộc chơi) của tiếng Pháp. "Trời ơi, chị em nhà Williams chơi quần vợt đôi ăn rơ với nhau hết sức." Lẽ đương nhiên, cách nói này chỉ bắt đầu thông dụng từ khi có mặt người Pháp, ở thành thị, cũng như trong giới có… ăn học, hoặc làm dáng trí thức.

Phần trên có nhắc tới động từ kép "ăn ở", ngoài ý nghĩa "đời sống vợ chồng" còn hàm ý chỉ "cách xử thế, đối đãi" với nhau, như trong trường hợp vợ Năm Chuột than thở cùng chồng:
"Lúc nào vợ chồng mình cũng ăn ở hiền lành, phước đức, mà sao nghèo hoài hổng biết!"
Nhưng khi người mẹ xẳng giọng với anh con trai đã ngoài năm mươi vẫn còn độc thân:
"Mầy cứ ăn ở keo kiết như vậy, có chó cái nó lấy mầy làm chồng."
Hoặc khi cô con gái lắc đầu nguây nguẩy:
"Con không ưng anh ấy đâu, người gì mà ăn ở dơ dáy như heo!"
Nghĩ kỹ, thấy ra "ăn ở" đổi nghĩa hoá thành "thói ăn nếp ở" hoàn toàn có tính cách cá nhân, không đụng chạm gì tới người khác.

Thành ngữ Việt Nam có vô số câu liên quan tới "ăn". "Ăn không", tiếng miền Nam, cùng nghĩa với "ăn vã", tiếng miền Bắc, ý nói, chỉ ăn món chính, không kèm theo cơm, cháo, v.v… Khi đi chung với "ngồi rồi", thành "ăn không ngồi rồi", có nghĩa "rỗi việc", nhưng không mấy tốt, gần như "vô tích sự". Hãy nghe người vợ than thở:
"Từ khi anh ấy bị muỗi voi chích tới giờ, suốt ngày ảnh ăn không ngồi rồi, bí rị một chỗ, thấy chán lắm!"
"Ăn xổi", với trạng từ "xổi" ("qua loa, tàm tạm", thí dụ: cà pháo muối xổi), thuần tiếng Bắc, đi chung với "ở thì" ("ở ngắn hạn, nhất thời, có giai đoạn"), thành "ăn xổi ở thì": nghĩa đen ý nói kẻ nào ăn ở với ai đó một thời gian ngắn để trục lợi, nghĩa bóng ám chỉ hạng người chỉ biết lợi dụng, bạc tình bạc nghĩa.
Truyện Kiều có đoạn, khi chàng Kim lơi lả buông lời ong bướm, ngôn ngữ hiện đại nói là "thả dê", đòi… ăn nằm, nàng Kiều bèn thỏ thẻ xổ… Nho và thành ngữ cảnh giác:
"Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm, nỡ bỏ đi một ngày! "
Rõ là nàng Kiều được Vương ông Vương bà dạy cho "học ăn, học nói, học gói, học mở" khéo thì thôi! 
- Nếp ở:
Bàn thêm chuyện ăn uống. Ở miền Trung, miền Nam, những khi giỗ quải người ta thường làm bánh ít để cúng. Bánh được làm bằng bột nếp, nhưn đậu hay dừa, gói bằng lá lùn và lá chuối, rồi đem hấp. Nhưng cũng có loại bánh ít không lông không lá gì hết, mang tên bánh ít trần. Cổ tích dân gian có truyện "Trần Minh khố chuối". Nhân vật chính tên Trần Minh, con nhà nghèo, nghèo mạt rệp, không có áo để mặc, phải xé lá chuối làm khố. Viết tới đây, người viết băn khoăn, bật ra thắc mắc, không rõ cái họ Trần trong tên Trần Minh có phải dùng ám chỉ người con trai tên Minh không mặc áo? Người viết không dám võ đoán, chỉ biết chắc một điều, "ở trần" có nghĩa "không mặc áo". Còn "ở truồng" là "không mặc quần". Ở Việt Nam, trời nóng, đàn ông con trai ở nhà thường "ở trần" cho mát. Còn phụ nữ, đôi khi có người đãng trí chín mươi chín phần trăm, mặc áo dài, nhưng quên mặc quần, cũng gọi là "ở truồng". Ai đó, liều mình xếch-xy trăm phần trăm trước công chúng, gọi là "trần truồng". Có điều, chưa nghe ai nói "ở trần truồng" bao giờ!

Có chuyện tiếu lâm: Người múa được gọi là "vũ công", người dạy khiêu vũ là "vũ sư". Còn cảnh hai người đàn bà nhào vô "ăn thua đủ" trong màn đánh ghen gọi là gì? Câu trả lời hợp lý nhất: "Vũ xếch-xy".
Khi đứng trơ trọi một mình, "ở" có nhiều nghĩa, và không phải chỉ đóng vai trò động từ: "Anh lại đây với em tối nay nghen! một mình, em sợ ma quá hà!", mà cũng có thể là giới từ chỉ định xuất xứ, vị trí: "Cô ấy quê mới lên, nên ưa đi chân không trong nhà."
Khi "ở" kết bạn với "đậu", "trọ" hoặc "ké", có nghĩa "sống nhờ, sống cậy" vào người khác một khoảng thời gian ngắn. Đi chung với "đợ", hoặc với "người" thành "người ở": "tới sống chung để giúp việc nhà có lãnh lương".
"Con nhỏ đó dưới quê lên Sài gòn ở đậu nhà bà con, chờ kiếm ra chỗ ở đợ."
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có sáng tác bài hát tựa đề "Ở trọ", nội dung không dính líu gì tới mấy chuyện cậy nhờ đợ đậu vừa nói ở trên, mà hoàn toàn khác. Thử nghe lại vài câu:
"Con chim ở đậu cành treCon cá ở trọ trong khe nước nguồn  Tôi nay ở trọ trần gianTrăm năm về chốn xa xăm cuối trời ..."

Hẳn là người nhạc sĩ muốn mượn triết lý Phật giáo, ví von trần gian, còn gọi là cõi ta-bà theo ngôn ngữ nhà Phật, là chỗ trọ của chúng sinh. Đời người ngắn ngủi như một sát-na, thoảng qua như chớp mắt, tựa hồ quãng thời gian ở tạm trong chuỗi luân hồi dằng dặc.
Với "ở vậy", theo người viết, có hai nghĩa: "ở vá": độc thân, không lập gia đình (có tự điển ghi thêm, "vá" cũng còn có nghĩa như "goá"). Hoặc, "ở goá": sau khi vợ hoặc chồng chết, không lấy người nào khác. V.v… và v.v… Tựu trung, trong tất cả những trường hợp nêu trên, "ở" có nghĩa "hoàn cảnh gia đình".
Ở trên có nhắc tới "ăn không", với "ở" ta có "ở không": rảnh rỗi, không làm gì cả. "Nhân lúc vợ ở cữ, thi sĩ ở không, bèn lấy giấy viết tí toáy làm thơ tình gởi đăng nhật trình." Tới đây, ta có thêm "ở cữ": hoàn cảnh, thời gian sau khi sinh nở, cần kiêng cữ.
Thời trước, thi sĩ trào phúng Tú Mỡ có làm bài thơ tựa đề: "Sư cô ở cữ".
"… Nhưng rồi một sáng mùa thu,
Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.
Bụng đeo cái trống cà rùng,
Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa …
"Ăn" với "ở", tóm lại, thường đi đôi với nhau như hình với bóng, như đũa có đôi, như môi răng, miệng lưỡi đặc thù hương vị ngôn ngữ của người Việt. Người viết xin được kết thúc bài tiểu luận ở đây với câu ca dao "hậu hiện đại" tự biên tự chế:
Ăn có đũa, ở có đôi.
Bậu ơi, khéo giữ trọn đời có nhau.


Ngô Nguyên Dũng
(Đức, Nhuận sắc, 12.2017)
(từ: DĐTK)


*

Mời tìm đọc:


Amazon Sấp Ngửa
Amazon Mẫu Hệ



*

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

*


Mua bán nhà


- Quí vị ở VN mới sang định cư ở Nam California.
- Quí vị ở các tiểu bang xa muốn về sống ở Nam California nắng ấm.
Muốn mua một căn nhà hợp với túi tiền và điều kiện của mình.

Xin gọi ngay cho:
Marvin Trần
(714) 768-8810

Quí vị sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình
Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


scan_pic0296-content



*


Phòng Khám Nha Khoa


Dream Dental Place


Hoàng Anh D.D.S

Làm mọi dịch vụ về Răng

Tận tâm, Vui vẻ, Kỹ lưỡng, Uy tín
Nhận Medicare, Medical, Obamacare, Bảo hiểm các loại
Gọi ngay:

Hoàng Anh

        (714) 724-5699


scan_pic0035-contenthoang_anh_1_0-content

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 215)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 192)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 501)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 374)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 299)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,