DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,464,256

VN: Biển số xe giả tràn lan - Vụ án "Con cua cái"

Monday, October 3, 201112:00 AM(View: 7832)
VN: Biển số xe giả tràn lan - Vụ án "Con cua cái"

Biển số xe giả tràn lan 



bien_so_gia-content



Chỉ với 380.000 đồng bất cứ ai cũng có thể mua cho mình một biển số xe tứ quý (chọn bất cứ số nào). Muốn có biển số xe công vụ giả cũng chỉ từng đó tiền. Cuộc ngã giá của chúng tôi diễn ra trên phố Trần Nhật Duật (Hoàn Kiếm, Hà Nội).

Biển số xe giả rẻ như bèo!

Trưa muộn, theo lời giới thiệu của cánh xe ôm, chúng tôi đáp vào một cửa hiệu sửa chữa xe máy, ô tô trên phố Trần Nhật Duật. Thấy khách, gã thợ sửa xe đã chạy ra đon đả, xởi lởi. Tôi hỏi: Có bán biển số xe giả không anh?, Có – gã thợ xe đáp ráo hoảnh rồi dẫn chúng tôi vào trong. Tại con ngõ nhỏ, tối um cạnh quán, cuộc ngã giá của chúng tôi diễn ra. Gã thợ xe đem ra cho chúng tôi một đống biển số xe máy thường và biển số xe máy “xịn” để minh chứng cho lời mình nói.

Theo lời của gã, giá biển số xe thường bán với giá 200.000 đồng/chiếc; biển số xe “xịn” là 380.000 đồng/chiếc. Sự khác nhau giữa hai loại biển số xe này chính là việc sản xuất một bên bằng tay và một bên bằng máy dập và phun. “Biển số thường vẽ số bằng tay sau thời gian ngắn sẽ bị bong tróc trong khi đó biển số xe “xịn” được dập và phun sơn bằng máy. Y như thật. Công an nhìn vào khó mà phát hiện đựợc thật giả”, gã thợ sửa chữa xe này nói. Vẫn theo lời của gã thợ này, nếu khách đặt tiền, mua biển chỉ cần để lại địa chỉ ngày hôm sau sẽ có người đưa tận tay.

“Chú em muốn lấy biển số nào cũng được. Tứ quý 8, tứ quý 9… số nào cũng đựợc hết. Biển 29, 30 hay ngoại tỉnh đều được hết. Giá bán như nhau. Không quan trọng số nào chỉ cần chú em chọn loại biển thường hay biển xịn thôi!”- gã cởi lởi tiếp lời.
Lấy lý do cần gấp biển số xe trong ngày do cửa hàng không đáp ứng được, chúng tôi đáp qua một cửa hiệu sửa chữa xe máy cạnh đó. Tại đây, bà chủ quán nói rằng: Cửa hiệu của chị làm ăn lâu năm, có uy tín rồi đưa cho chúng tôi mảnh giấy trắng với hàm ý muốn lấy số nào thì ghi vào đó. “Bây giờ đặt tiền, ghi số, đầu giờ chiều quay lại lấy biển số xe. Biển số thường là 150.000 đồng/chiếc; Biển số xịn là 250.000/chiếc”, bà chủ quán nói.

Theo lời của bà, sự khác nhau của biển số thường và biển số xịn chính là việc nhận biết ở dấu nổi quốc huy trên biển. Đó cũng là dấu hiệu để nhận biết cái nào là thật, cái nào là giả. “Quốc huy thường được dập nổi và chìm. Cái nào dập chìm thì đắt hơn”. Khi chúng tôi đặt vấn đề muốn lấy nhanh với bất cứ giá nào trong vòng 1-2 giờ đồng hồ, bà chủ quán ngần ngừ rồi bốc máy điện thoại gọi. Cuộc gọi nhanh chóng kết thúc. Bà nói: Nhanh nhất thì đầu giờ chiều mới có đựợc. “Hàng” ở Thanh Xuân mới lên. 1-2 giờ đồng hồ lấy thì chịu rồi!

Thủ đoạn tinh vi

Theo tìm hiểu của chúng tôi, phần lớn các cửa hiệu buôn bán, sửa chữa xe máy ở phố Trần Nhật Duật đều có dịch vụ mua bán biển số xe giả. Tất cả đều hoạt động trá hình, lấp liếm để che mắt người dân và đối phó với lực lượng chức năng. Khi nhận ra “con hàng” cần mua biển số giả, các “cò mồi” ở đây nhanh chóng tiếp cận rồi dẫn vào phía trong quán để giao dịch. Ngoài việc bán biển số xe máy giả, các cửa hiệu này còn nhận làm biển số xe ô tô giả. Giá của mỗi BS ô tô giả này cũng chỉ ‘vênh” từ 20.000-50.000 đồng/chiếc so với biển số xe máy. Những cửa hiệu hoạt động trá hình kinh doanh mua bán biển số xe giả này chủ yếu là nhận giao dịch của khách sau đó đặt hàng ở các cơ sở sản xuất rồi từ đó ăn tiền chênh lệch của hai bên. Với mỗi chiếc biển số xe giả bán được những “đại lý phân phối” này kiếm được 100-200 ngàn đồng.

Việc mua bán biển số xe máy, ô tô giả trên phố Trần Nhật Duật diễn ra nhiều năm nay. Phương thức hoạt động ở đây rất tinh vi. Khi thấy lực lượng chức năng đi kiểm tra bọn chúng nhanh chóng giấu biển số xe đi và báo cho nhau. Để tránh bị phát hiện, đối tượng bị theo dõi thường thay đổi việc di chuyển bằng xe máy, đi bộ rất chóng vánh.


Tổng hợp


*


Ph
óng sự

1. V
ụ án "Con Cua Cái

DÙNG “HỎA CÔNG” VỚI CHỒNG

Đêm mồng 3 rạng sáng mồng 4 Tết Tân Tỵ (2001), vùng quê hẻo lánh thuộc tỉnh Đồng Tháp chìm trong yên tĩnh. Mọi người đang say giấc nồng sau một ngày Tết vui nhộn với men xuân, men rượu bỗng có tiếng hét hãi hùng vang động cả xóm ấp: “Bớ bà con cháy, cháy, nóng quá!”. Nhiều người giật mình thức giấc. Qua các khe hở, từ trong nhà nhiều người nhìn thấy một quầng sáng đỏ lòm nổ lép bép, rực lên cùng tiếng đàn ông kêu la thảm thiết. Họ chạy về bờ sông Cả Trinh và phát hiện lán trại giữ vườn của gia đình anh Huỳnh đang ngùn ngụt khói. Mọi người đồng loạt tri hô và lao về đám cháy. Ngọn lửa đang bốc cao 6 - 7m đã thấp dần nhưng cũng đủ sáng để bao nhiêu cặp mắt cùng chứng kiến một cảnh tượng thương tâm. Đó chính là ngọn lửa đã làm nên một vụ án tình hiếm có.

Chị Đặng và anh Huỳnh kết thành vợ chồng đã 26 năm. Họ rất đẹp đôi. Anh Huỳnh là ch
ồng, còn chị Đặng luôn tràn trề sức sống từ thời con gái cho đến khi ngấp nghé tuổi 50. Năm 1977, họ có một con trai. Khi con được 2 tháng tuổi thì anh Huỳnh mắc bệnh sạn thận phải lên TPSG chữa trị. Căn bệnh quái ác đó đã làm anh mất dần khả năng đàn ông của mình, còn Đặng thì đang ở cái tuổi hồi xuân, không kiềm chế được lòng mình. Từ chỗ đẹp đôi, họ trở thành cặp “đồng sàng dị mộng”. Đầu năm 1980, trong một đêm mưa tầm tã, chồng vắng nhà, Đặng trùm áo mưa đi như người mộng du ra đường. Trong cơn khủng hoảng, vô thức sâu thẳm đã dẫn Đặng đến một căn chòi giữ vườn mà Đặng thừa biết ở đó có một người đàn ông cũng đang khổ sở vì mưa gió và cô đơn.

Những mối tình ngoài hôn nhân của Đặng dần dần trở thành dư luận chìm nổi quanh cuộc sống của anh Huỳnh. Nhưng anh quá yêu thương Đặng, lại là người
địa phương nên không thể ghen bừa bãi được, anh cố làm cho lắng dịu bằng rượu. Có khi say, Huỳnh về nhà tìm lý do cãi nhau với vợ, đập phá đồ đạc... Không khí gia đình ngày càng thêm nặng nề dù bên ngoài cả vợ lẫn chồng đều muốn đóng vở kịch “hạnh phúc” để ngụy trang với con trai, với hai bên nội ngoại và các quan hệ xã hội. Đặng nghĩ đến một kế hoạch tự giải thoát đời mình khỏi cuộc sống vợ chồng đã quá vô vị, nhạt nhẽo. Nghe người ta nói đến độc tính trứng cóc, Đặng cố tìm đem về trộn với thức ăn dành cho anh Huỳnh. Thấy anh Huỳnh vẫn tươi tỉnh, khỏe mạnh, Đặng tức lắm, quyết chờ cơ hội thứ hai. Ngày 25-11-1996 nhằm ngày rằm tháng 10 âm lịch, Đặng nấu chè xôi nước cúng rằm. Đặng cầu trời cho anh chồng bất lực của mình mau mau lên bàn thờ. Khấn vái xong, Đặng ăn sạch nồi chè, chẳng cần chừa phần chồng. Trong lúc nhấm nháp vị ngọt của chè, Đặng lóe lên suy nghĩ “mật ngọt chết ruồi”.

Sau một ngày làm việc nặng nhọc, anh Huỳnh ăn ngon lành tô chè do vợ đưa. Khoảng 2 giờ tiếp theo, khi anh đang lâng lâng trong sự chăm sóc, chiều chuộng của vợ thì thuốc chuột trong chè phát huy hiệu quả, ruột gan Huỳnh quặn đau, anh ngã lăn ra đất quằn quại, nôn mửa. Cơn đau đã làm anh Huỳnh kêu la, bà con xóm giềng chạy đến đưa anh đến Trung tâm y tế huyện Châu Thành cấp cứu. Sau đó anh được chuyển lên Bệnh viện Sa Đéc và được cứu sống trong đường tơ kẽ tóc tại Bệnh viện Chợ Rẫy, TPSG. Nhận định ban đầu Huỳnh bị ngộ độc do có người muốn mưu sát. Đặng được điều tra. Đặng mồm năm miệng mười chối bai bải.

Mẫu thức ăn trong bụng anh Huỳnh được đưa đi giám định nhưng thời đó vì chưa có mẫu thuốc diệt chuột do Trung Quốc sản xuất nên cơ quan kiểm nghiệm của Bộ Y tế không giám định được. Đặng được trả tự do vì không có đủ tài liệu, chứng cớ buộc tội. Anh Huỳnh cũng cho rằng mình bị ngộ độc là do ngẫu nhiên nên tiếp tục chung sống với Đặng.

Mồng 3 Tết Tân Tỵ, sáng sớm anh Huỳnh đang ngồi uống trà với con trai thì anh Hải đến thăm. Nói chuyện một lát, Hải rủ: “Hay là mình về nhà tía (cha) tui làm bậy mấy xị cho vui?”. Anh Huỳnh đồng ý rồi tìm Đặng rủ đi cùng, Đặng từ chối, nại rằng người không được sạch, đầu năm không muốn mang xui xẻo đến nhà người khác. Anh Huỳnh cùng anh Hải đến nhà anh Tùng (sui gia với Hải) uống 2 xị rượu rồi cả ba đến chúc Tết cha của Hải. Lại bày tiệc nhậu, năm người uống hết một két bia Bến Thành rồi chia tay, ai về nhà nấy. Lúc đó trời đã xế chiều, sực nhớ mình chưa ghé chúc Tết ông Văn ở cùng ấp nên anh Huỳnh đến nhà. Ông Văn lại chúc anh một ly rượu...

Vợ chồng Huỳnh có một căn nhà chính và một căn trại giữ vườn nhãn. Nhà và trại cách nhau đôi bờ sông rộng khoảng 200 mét. Trong ngày mồng 3 Tết, khi anh Huỳnh du xuân vui vẻ thì Đặng vẫn ở trại giữ vườn. Buổi trưa, Đặng ngủ một giấc ngon lành rồi dậy nấu cơm ăn, sau đó sang hàng xóm sử dụng nhờ nhà vệ sinh. Trên đường quay lại trại, Đặng thấy một nhóm trẻ con ở bờ sông bên kia gọi lớn:

- Bác Đặng ơi, bác Huỳnh bị say rượu đang nằm ở nhà ông Văn!

Nghe vậy, Đặng xuống bờ sông lấy xuồng bơi qua sông đến nhà ông Văn. Thấy vợ đến đón, anh Huỳnh từ trong nhà ông Văn lảo đảo bước ra. Đặng chạy lên đỡ chồng đưa xuống xuồng. Anh Huỳnh bị say rất nặng, ngồi không vững làm chiếc xuồng lắc lư, sém vô nước mấy lần. Khi xuồng cặp bến sông trước căn trại, anh Huỳnh say quá phải bò trên chiếc cầu dẫn vào bờ. Ông Phương nhà ở gần đó thấy vậy trêu chọc anh Huỳnh: “Đi nhậu bằng hai chân, nhậu xong về bằng bốn chân!”. Huỳnh không buồn trả lời, đi thẳng lên trại nằm trên bộ ván gỗ thở khì khì. Căn trại này được cất theo ý của Đặng nhưng anh Huỳnh biết tính vợ lẳng lơ nên không muốn Đặng biến căn chòi này thành nơi hò hẹn, vì vậy anh thường xuyên sang đây ở giữ vườn nhãn và giữ luôn vợ! Lúc này Đặng đang đi dưới sông lên, một tay cầm cây dầm bơi xuồng, tay kia là đôi dép của anh Huỳnh. Vào trại, Đặng sửa thế nằm thoải mái cho chồng rồi đi pha một cốc nước chanh, sau đó Đặng kiên nhẫn đút từng muỗng nước cho chồng. Trời đã tối, Đặng kiếm quẹt gas đốt cây đèn dầu nhỏ. Đặng mắc mùng cho chồng. Thấy Huỳnh ngáy pho pho, Đặng yên tâm đi ra ngoài, đến nhà hàng xóm xem ké tivi nhưng chị Hoa - chủ nhà, bảo: “Hết bình ắc-quy rồi”. Đặng trở về trại, vào mùng ngủ chung với chồng. Đến nửa đêm Đặng giật mình thức giấc ra ngoài đi vệ sinh, sau đó bắt đầu thực hiện ý đồ nung nấu bao lâu nay của mình. Đặng đến một gốc nhãn cách nhà trại 8m, vạch cỏ và lấy một can nhựa loại 5 lít, trong đó có gần 3 lít xăng. Số xăng này Đặng mua ở quán tạp hóa gần nhà từ 10 ngày trước. Đặng xách can xăng tiến về phía trại, vừa đi vừa thong thả mở nắp. Đặng ghé đầu vào mùng nghe ngóng, tiếng ngáy của anh Huỳnh vẫn đều đặn chứng tỏ anh đang chìm vào giấc ngủ sâu. Yên tâm, Đặng tưới xăng lên nóc mùng. Xăng chảy thấm xuống giường chiếu, quần áo anh Huỳnh tỏa mùi nồng nặc nhưng rượu trong cuộc vui ngày xuân đã làm anh say li bì, không biết trời trăng gì nữa. Đổ hết xăng xong, Đặng liệng can xuống dòng sông Cả Trinh, mở họng đèn dầu, nhúng cây nhang cho đẫm dầu rồi bật quẹt đốt. Đặng ném cây nhang đang cháy lên nóc mùng, ngọn lửa đỏ rực bùng lên trong đêm tối. Đặng chạy nhanh ra lấy cây dầm, hối hả tháo xuồng bơi đi. Đặng bơi xuồng thật nhanh đến nhà cha mẹ ruột ở Thạch Quới, Long Hồ, Vĩnh Long, sau lưng Đặng lửa đã bùng lên cao ngút, sáng rực một góc trời. Nhiều tiếng la ầm ĩ vọng trong đêm vắng... Đặng vẫn chèo xuồng mải miết, trong đầu nghĩ sẽ kể hết cho bố mẹ nghe chuyện dùng lửa xử chồng mình, sau đó sẽ tự sát. Đặng cột xuồng dưới bến rồi vào nhà. Mẹ không có ở nhà làm Đặng hụt hẫng, cô em gái là Huệ ra đón chị. Dưới ánh đèn, Huệ thấy sắc mặt của Đặng không bình thường nên ái ngại hỏi:

- Đêm hôm khuya khoắt mà chị đi đâu? Lại cãi nhau với anh Huỳnh chứ gì?

Đặng lắc đầu mệt mỏi:

- Không, chị chỉ nhức đầu, mệt mỏi, muốn sang xin em thuốc (Huệ là y sĩ).

- Vậy để em tiêm cho chị một mũi?

- Khỏi cần, cho chị uống thuốc được rồi!

Huệ đưa cho Đặng vài viên thuốc, dặn uống hết nhưng Đặng chỉ uống một nửa, trả lại một nửa rồi vào giường ngủ. Lát sau có tiếng phụ nữ dồn dập gọi cửa. Khách là chị Dung, chị An, hàng xóm của Đặng. Gặp Đặng, hai chị hấp tấp kể: “Bà về ngay, trại nhà bà cháy, anh Huỳnh bị phỏng nặng lắm đã được đưa đi cấp cứu...”.

Ông Tuấn - cha Đặng - nghe vậy thì hối con cháu mau mau về trại xem sự việc thế nào. Đặng xuống xuồng đi trước, ghé lại nhà con trai lục tìm hồ sơ bảo hiểm y tế của anh Huỳnh rồi được người nhà đưa bằng ghe đến Trung tâm y tế Châu Thành, Bệnh viện Sa Đéc để tìm chồng nhưng lúc đó anh Huỳnh đã được chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy, TPSG. Đặng đón xe ôm trở về nhà con trai và vài giờ sau anh Huỳnh trút hơi thở cuối cùng thì Đặng bị bắt.

Lúc đầu Đặng cố đóng vở kịch đau khổ, than thở cho hoạn nạn của chồng. Nhưng khi các điều tra viên áp dụng một số biện pháp nghiệp vụ, đưa ra một số chứng cứ thì Đặng phải cúi đầu nhận tội.

Để rảnh tay tìm tơ duyên mới, Đặng hại chồng bằng cách cho ăn trứng cóc, sau đó pha thuốc chuột vào chè cho chồng ăn. Cả hai lần đó đều thất bại nên Đặng chuẩn bị “hỏa công”. Biết tính chồng mỗi lần say thường về trại nằm ngủ, trại lại cất toàn cây lá dễ cháy, Đặng chỉ chuẩn bị thêm xăng, quẹt là giết được chồng. Cơ hội tới vào chiều mồng 3, trước đó mấy ngày hai vợ chồng có trận cãi nhau lớn, anh Huỳnh nóng giận đã đập phá một số vật dụng trong trại và bóp cổ Đặng. Khi chồng ngủ say, Đặng ra ngoài đi vệ sinh, lúc đứng lên cảm thấy nhói đau nơi cổ và lòng căm giận nổi lên, thị triển khai ngay ý đồ đã nung nấu trước đó.

Tỉnh Đồng Tháp cho thực nghiệm điều tra, dựng lại hiện trường trước sự theo dõi của khoảng 4.000 người dân và một số phóng viên báo đài. Đặng với thái độ không hề tỏ ra ăn năn hối cải, bình thản diễn lại 45 động tác để đưa chồng “về nơi chín suối”. Điều đó càng gây thêm căm phẫn cho những người chứng kiến, họ vốn quá hiểu bản chất đa tình, thâm độc của người đàn bà có khuôn mặt tròn trịa ấy. Vụ án từng gây xôn xao dư luận này đã được đưa ra xét xử lưu động để răn đe những kẻ có ý đồ muốn gây chuyện ác, gây mất trật tự an ninh địa phương và những kẻ muốn thỏa mãn dục vọng bằng cách vượt qua đạo đức, pháp luật. Một số người dân địa phương thì nói rằng câu chuyện về thị Đặng sao giống câu vọng cổ bà con miền Tây hay hát: “Khi con cua đực lột vỏ mềm nhũn thì con cua cái đến xơi tái...”.


2. BÍ MẬT DƯỚI GIẾNG HOANG



NGƯỜI VỢ GIỎI GIANG

Phi SN 1958, quê quán Đông Hà - Đông Hưng - Thái Bình, vốn là giáo viên của một trường mẫu giáo. Nếu anh T. chồng chị là người ốm yếu, hay đau bệnh thì Phi là một phụ nữ mạnh mẽ. Ngoài công việc đồng áng, chị còn là tài xế máy cày kéo rơ-moóc. Khi chị mặc đồ bảo hộ lao động đầy bụi bặm, dầu nhớt, mang găng tay, đeo kiếng đen, đi giày ống trông y chang một thợ máy chính hiệu. Đàn ông lại càng lắc đầu lè lưỡi khi thấy chị cặp nách hai bao phân hoặc cà phê cả trăm ký chạy phom phom. Đặc biệt là lúc cao hứng, chị lái cả một chiếc máy cày dềnh dàng chở 4 - 5 tấn hàng bằng... chân(!). Chị ngồi ngửa ra ghế, dùng hai chân kẹp vô-lăng lái tỉnh queo. Phi còn là một phụ nữ có học vấn, chị thích những bản nhạc nhẹ như: Chiều Mátxcơva, Triệu đóa hoa hồng... Chị vừa lái máy cày vừa hát bằng tiếng Nga. Khi tranh luận, lời lẽ của chị sắc sảo, chặt chẽ. Phi còn là người xốc vác, lanh lợi, làm việc rất hiệu quả. Tuy có 4 con nhỏ và chồng ốm yếu nhưng nhờ sự giỏi giang của Phi, kinh tế gia đình họ rất khá: vườn cà phê hơn 1 hécta xanh tốt, nhà xây khang trang, máy cày, máy bơm, xe máy và một lô đất mới tậu ở khu đô thị... Sau khi anh chồng mất tích, Phi một mình đứng ra cất lại nhà. Nhà mới lại có thêm bát nhang trên bàn thờ...

Trong lúc làm việc với các điều tra viên, Phi trình bày rất hợp lý việc chị ta khuyên chồng đi TPSG chữa bệnh bao tử, việc gói ghém tiền, vàng và đưa chồng ra bến xe tốc hành... Chị ta còn khóc rưng rức, trách móc chồng phản bội vợ con đi tìm duyên mới! Có điều sau mỗi lần như vậy, Phi thường ghé về cái am của bà M. thắp cho bát nhang ghi tên “T.”. Có một lần chị ta đã hoảng hốt và òa khóc khi cái bát nhang đó tự dưng biến mất. Hôm sau chị ta về nhà làm thịt một con chó mực cúng rồi dán các loại bùa phép xanh đỏ khắp cửa lớn, cửa nhỏ... Bà M. - chủ cái am mà Phi hay lui tới - cho biết, “cơ sở” thờ cúng của bà có cả trăm người gởi bát nhang, có thể để cúng người đã chết hoặc cầu may mắn cho người đang sống. Điều này cho thấy nếu có bắt quả tang Phi đến đây thắp nhang cho chồng, chắc chắn người đàn bà khôn ngoan này sẽ giải thích: “Tôi cầu xin trời Phật cho chồng tôi mau trở về với vợ con”. Bát nhang có tên “T.” chưa phải là cái nút duy nhất có thể mở được bí ẩn về người đàn ông bị mất tích này. Cùng lúc đó tỉnh Thái Bình theo đề nghị của tỉnh Đắk Lắk đã báo lại: “Qua xác minh, anh T. không trở về Thái Bình để dưỡng bệnh...”. Một nhân chứng quan trọng là cô Oanh, ở chung nhà và gọi anh T. bằng bác, cũng nói rằng: “Bác T. đi chữa bệnh...” nhưng lời khai của cô có hai điểm cần xoáy: cô không thấy bác T. có quá trình chuẩn bị trước khi đi như dò lại công việc nhà, sắp xếp đồ dùng cá nhân. Điều lạ là bác trai đi hôm trước, hôm sau đã thấy bác gái (Phi) khóc lóc và thắp nhang khấn vái mỗi đêm (?!). Điều đó cho thấy ngay từ đầu bác gái đã biết bác trai gặp chuyện chẳng lành (?)... Trong lúc các trinh sát, điều tra viên đang ráo riết sàng lọc các thông tin thì một thực tế mới diễn ra: chồng “mất tích” chưa đầy nửa năm nhưng Phi liên tục có bạn trai mới. Chị ta đưa 6, 7 người đàn ông lạ về nhà đùa giỡn, âu yếm giữa ban ngày hoặc qua đêm với nhau trước mắt các con và cô cháu gái đã 18 tuổi. Ông đẹp trai nhất trong số đó còn được Phi cưng như trứng mỏng, cho cả bao phân urê, một cuộn giấy dầu và gần 4 triệu đồng. Ông khác được Phi gọi là “á khôi” thì suốt ngày nhõng nhẽo, lúc đòi được may quần áo mới, lúc ỉ ôi: “Phi sắm cho anh cái xe máy...”. Điều đó càng làm tăng nghi vấn Phi đã ám hại người chồng ốm yếu để được tự do yêu đương với những người tình. Nhưng trước hết phải tìm cho được dấu tích anh T. (đã hơn 6 tháng, nếu anh bị hại chết vùi lấp đâu đó thì xác chắc chắn đã phân hủy).

KẺ ÁC LỘ DIỆN


Nhà anh T. được cất trên vườn cà phê rộng 10.000m2 thuộc Đội 10 - Công ty cà phê Việt Đức, huyện Krông Ana, Đắk Lắk. Vườn chạy dài theo hướng bắc - nam. Phía bắc thoải dần giáp hồ Ea Chu Cáp, phía nam giáp con đường về trụ sở Đội 10. Trong vườn có nhiều giếng nước để tưới cà phê, mỗi giếng sâu từ 20 - 30m. Sau khi vùng này có điện lưới quốc gia, hệ thống tưới tiêu bằng hồ thủy lợi đã thay dần nước giếng. Các giếng trong vườn vì thế đã bị lấp dần. Theo đánh giá của Ban chuyên án, nếu thật sự có ra tay giết chồng, Phi không thể đưa xác anh T. đi xa được, thị sẽ chọn một trong các giếng hoang quanh vườn để phi tang. Nhiệm vụ của cơ quan điều tra là phải khai quật các giếng để tìm dấu vết tội ác. Công việc được người dân địa phương rất ủng hộ, tuy vậy cũng không kém phần gian nan. Phải mất đến mấy ngày vừa đào vừa chạy máy hút nước mới giải quyết được một cái giếng, hai tuần lễ trôi qua chỉ đào được ba giếng. Ai nấy đều lấm lem, mỏi mệt. Trong lúc đó, Phi vẫn diện quần áo đẹp đi ra đi vào, hát líu lo như chim. Thỉnh thoảng chị ta còn ra vườn xem công an đào bới rồi vui vẻ khuyên: “Các bác có vất vả cũng vô ích thôi”. Đào đến cái giếng thứ tư, nằm giáp hồ nước, tới chiều thì chợt có tiếng la toáng lên: “A... đây rồi!”. Phi từ trong nhà nhìn ra bãi đào qua các khe hở, mặt thị tái dần. Sau đó thị ra lấy xe máy phóng lên CA tỉnh Đắk Lắk xin gặp lãnh đạo Phòng CSĐT. Đến chiều, thị trở về trên xe U-oát có nhiều xe khác hộ tống. Lúc đó, cái giếng thứ tư đã được đào hơn 4m. Nước hút lên đã có mùi hôi và váng mỡ. Đầu tiên là bộ xương của con chó khoảng 10kg, xuống thêm 4m nữa thì gặp bộ xương anh T. đầu chúc xuống dưới, cạnh đó là mền, gối, quần áo được chôn theo cùng một con dao lưỡi rộng 6,5cm, dài 41cm còn khá nguyên vẹn. Đứng trên bờ giếng, Phi khuỵu xuống...

VÌ SAO PHI GIẾT CHỒNG?

Phi đã tốt nghiệp THPT từ năm 1976 và theo học ngành Sư phạm. Sau khi lập gia đình với anh T. đầu năm 1985 Phi theo chồng từ Thái Bình vào làm việc cho Nông trường cà phê Ea Tiêu (nay là Công ty cà phê Việt Đức, Đắk Lắk), kinh tế gia đình thuộc loại khá giả nhưng Phi vốn tính lẳng lơ, không thể nào chịu được anh chồng ốm đau rề rề và quản lý vợ khá chặt. Sau những lần vợ chồng cãi nhau, Phi manh nha ý định “tiễn chồng về nơi chín suối”...

9 giờ đêm 6-3-1997, Phi lấy 6 viên thuốc ngủ pha vào ly sữa đưa cho anh T. uống với mục đích dùng thuốc ngủ để giết chồng. Phi cho anh T. uống hết ly sữa rồi lên giường nằm ngủ trước. Một lúc sau anh T. cũng đi ngủ. Khoảng 2 giờ sáng hôm sau, Phi tỉnh giấc. Thấy anh T. vẫn bình thường, Phi nằm im chờ đến khoảng 4 giờ sáng, dùng tay kiểm tra thấy người anh T. vẫn còn nóng nhưng chân tay đã bị lạnh, Phi liền lấy con dao ra tay... Thấy anh T. đã chết, Phi cắp nách tử thi ra chiếc giếng bỏ hoang trong vườn cà phê hất xuống (sâu khoảng 8m), dùng cỏ và lá cà phê lấp lại. 15 ngày sau, thị báo cho chỉ huy Đội sản xuất số 10 rằng chồng thị vào TPSG chữa bệnh không thấy về. Do làm chuyện ác nên cái tâm của thị luôn lo lắng, dằn vặt. Phi phải đến am bà M. đặt bát nhang thờ cúng. Khi các trinh sát thử thái độ của Phi bằng cách lấy bát nhang đi, Phi thật sự hoảng loạn vì tin rằng anh T. trách thị ở ác nên không cho thờ cúng, vì vậy thị về bỏ tiền xây lại nhà, đặt bùa ở các cửa và thịt con chó mực cúng sau đó chôn trên miệng giếng đã chôn anh T. Theo thị thì làm như thế linh hồn của anh T. sẽ không đi ra khỏi giếng để quấy phá thị. Đến lúc cơ quan điều tra đến dò tìm xác anh T. trong vườn nhà, thị tin rằng họ sẽ không đủ kiên nhẫn để đào hàng loạt giếng, mỗi giếng sâu hàng chục thước. Đến lúc thấy họ đầy quyết tâm và đã đào trúng nơi cần đào, thị hoảng sợ chạy thẳng đến tỉnh tự thú để mong được hưởng khoan hồng, đó là ngày 18-9-1997 (hơn 6 tháng kể từ ngày anh T. bị giết). Với hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như vậy.


T
ổng hợp

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, November 25, 201312:00 AM(View: 13107)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
Monday, November 4, 201312:00 AM(View: 9466)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh
Saturday, September 7, 201312:00 AM(View: 6964)
Đánh vợ ngất xỉu rồi lấy giỏ nhốt gà ụp lên gây bức xúc trong dư luận địa phương.
Friday, September 6, 201312:00 AM(View: 7491)
Trong khi gái mại dâm công khai mặc cả với khách trong các quán mát xa thư giãn bất kể đêm ngày
Wednesday, September 4, 201312:00 AM(View: 6244)
trung bình mỗi ngày, có hàng trăm ký nội tạng bẩn được bán ra cho các nhà hàng, quán ăn cũng như các điểm bán phá lấu…