DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,748,810

Phan Lạc Giang Đông (1940-2001)

13 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 31872)
Phan Lạc Giang Đông (1940-2001)
Phan Lạc Giang Đông


giangdong-content

Phan Lạc Giang Đông (1940-2001)


Đôi dòng tiểu sử Phan Lạc Giang Đông:

Phan Lạc Giang Đông sinh ngày 16 tháng 12 năm 1940. Di cư vào Nam năm 1954. Học trung học Trần Lục, Chu Văn An. Tốt nghiệp cử nhân Sử Địa tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Trong quân đội ông là Trung Úy, phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Không Quân. Ông còn đi dạy bên ngoài ở các trường Trung học như: Trí Tri, Cứu Thế, Thượng Hiền, Tinh Thần, Hiếu Nghĩa. Sau 30-4-75, bị tù dưới chế độ cộng sản từ 1975-1981 qua các trại tù Kà Tum, Hóc Môn, Suối Máu (Tân Hiệp), Chí Hòa và trại tù Xuân Phước E.20.

Định cư tại Mỹ tháng 5/1994 (HO 23).

Mất ngày 8 -11 -2001 tại Seattle, WA, USA.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

Trở mình (1965)

Đắc Khanh và Màu Sắc Quê Hương (1967)

Thông Điệp (1969)

Mười Lăm Năm Thi Ca Quân Đội (Khảo luận Văn Học)

 

Tác Phẩm đang viết dở dang:

Lụi tàn theo cuộc chiến (truyện dài ký sự)


Đặc biệt một số bài thơ của Phan Lạc Giang Đông đã chuyển sang Anh Ngữ và được đăng trong các tuyển tập thi ca Hoa Kỳ, như: Thi tuyển ‘A blossom of Dreams’, Reaching Other Worlds. Riêng bài ‘Holly Park and the colors of my homeland’ của ông đã là bài thơ được đặt lên hàng đầu của thi tuyển quan trọng ‘A Celebration of poets’. Trước khi qua đời vào cuối năm 2001, thi sĩ họ Phan đã trở thành Hội Viên Ưu Tú của Hiệp Hội Thi Ca "International Society of Poets".


PHAN LẠC GIANG ĐÔNG



Trần Yên Hòa



Tôi gặp (lại) Phan Lạc Giang Đông ở trại tù Suối Máu (Tân Hiệp), Biên Hòa khoảng đầu năm 1979. Sau khi những người tù chúng tôi đã sống qua (trải qua) trên ba năm. Đã được chuyển đi cùng khắp các trại tù như Trảng Lớn, Long Khánh, Long Giao, Thành Ông Năm, rồi về Suối Máu.

Ở Suối Máu, những buổi trưa trời nắng như đổ lửa, tôi thường hay xuống khu nhà bếp, đó là một căn nhà rộng, ngồi nghỉ mát và tán láo với bạn bè cho qua thời gian, thì tôi gặp Phan Lạc Giang Đông ở đây, anh làm đội phó hậu cần, nên thường xuống nhà bếp lo chuyện cơm nước cho anh em tù. Chúng tôi thường ngồi trên cái nền nhà bằng đất đen xỉn vì muội than, để nói chuyện với nhau.

Nói là gặp lại, vì tôi biết Phan Lạc Giang Đông khi tôi còn là Sinh Viên Sĩ Quan năm thứ 2 của Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt. Lúc đó, Phan Lạc Giang Đông về đây để thụ huấn khóa căn bản Chiến Tranh Chính Trị. Anh đã cùng Phạm Nhã Uyên, bạn cùng khóa với tôi, tổ chức một buổi chiều đọc thơ với chủ đề là “Này Mẹ, Này Em” ở trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân. Hôm đó, tôi là khán giả.

Bây giờ gặp lại nhau ở trong hoàn cảnh tù tội, đói khát, nên chúng tôi có thân nhau hơn, nhưng tình thân thiết cũng chỉ ở trong giới hạn, vì chúng tôi ở khác Nhà (nhà là một căn nhà dài, chứa khoảng 50 tù nhân). Phan Lạc Giang Đông lại làm “chức sắc” nên tôi cũng muốn “né”. Tuy nhiên, những lúc ngồi nói chuyện thân tình, tôi thấy anh có nhiều điều bức xúc trong cuộc sống, anh thích nói về chính trị, nên khi đề cập đến vấn đề chính trị, anh nói rất hăng say. Anh có tài ăn nói và trí nhớ khá tốt, nên chuyện anh nói ra, nghe rất thích thú.

Theo chỗ tôi biết thì trước ngày 30-4-1975, Phan Lạc Giang Đông ở binh chủng Không quân, anh làm tờ đặc san Lý Tưởng, tờ báo của binh chủng này. Anh có xuất bản tập thơ :”Đắc Khanh và Màu Sắc Quê hương.” Tập thơ này tôi thấy in quảng cáo ở một số báo Sài Gòn hồi đó, nhưng tôi chưa được đọc.

 

Noel năm 79 ở Suối Máu là một Noel đáng nhớ nhất của các tù cải tạo tại đây. Nhân dịp Noel, giám thị trại ra thông báo không được tụ tập đông người hay làm lễ cầu nguyện gì cả. Tuy có lệnh, nhưng anh em bên công giáo đêm đó cũng cùng nhau làm lễ ngày Chúa giáng trần. Buổi lễ cử hành trong im lặng nhưng các quản giáo và giám thị trại đi tuần tra biết được, liền cho vệ binh ập vô giải tán anh em giáo dân và bắt đi 6 người. Bức xúc trước sự đàn áp trên, nên anh em tù tự động tụ tập trước sân của Trại K1, vừa hát thánh ca, vừa bắt loa kêu gọi ban giám thị trại thả 6 anh em kia ra. Cuộc tập họp tranh đấu được loan truyền qua các trại kế bên, nên đồng loạt các trại tù Suối Máu, từ K1 đến K5, đêm Noel 79, coi như Đêm Không Ngu. Với áp lực quá mạnh của anh em tù, nên bọn giám thị trại phải nhượng bộ, chúng hứa sẽ thả những người bị bắt và yêu cầu toàn thể anh em tù giải tán.

Sau đó là những ngày hoàn toàn tự do với anh em tù Suối Máu. Tất cả đứng dưới một tổ chức lấy tên là Ban Hành Động, và đại diện các quân binh chủng được thành lập, khí thế đấu tranh lên rất cao. Nhưng bọn giám thi trại chỉ “lùi một bước để tiến ba bước”, nên sau đó, số anh em trong Ban Hành Động được kêu lên làm việc, rồi bị phân chia đi đến những trại hắc ám nhất ở miền trung, như trại Gia Trung trên Pleiku hay E.20, Xuân Phước, Tuy Hòa.

Trong những ngày trại được tự do, không có sự kiểm soát của công an, giám thị, các đêm hát nhạc tù, nhạc chiến đấu được tổ chức rầm rộ. Những tấm áp phích được viết bằng than, vẻ cảnh xiềng xích tù đày khổ ải dưới chế độ cộng sản, những bản nhạc chiến đấu cũ được hát lên nghe rất cảm động và khí thế. Cùng thời điểm đó, cac anh Nguyễn Nguyên Phương, Phạm Tuế, Phan Lạc Giang Đông rũ tôi tổ chức một đêm đọc thơ. Đêm đó, số người tham dự cũng đâu ba bốn chục, anh em đọc những bài thơ tù, thơ chiến đấu nghe rất khí phách, một đêm đọc thơ nhớ đời.

Sau một thời gian ngắn, một số anh em trong Ban Hành Động được đưa về nhà tù Chí Hòa, trong đó có Phan Lạc Giang Đông. Không khí trại Suối Máu như lặng câm, ai cũng ở trong tâm trạng lo nghĩ mình sẽ bị chuyển đi đâu, bị hành xử thế nào, thì đến khoảng tháng 4/80, tôi bị kêu tên và sau hai ngày hai đêm trên chuyến xe bít bùng, tôi bị còng tay, đưa ra trại Xuân Phước.

Tại đây, tôi lại gặp Phan Lạc Giang Đông.

Tại đây, chúng tôi sống với nhau gần hai năm, anh thường hay tâm sự với tôi về gia đình, một nỗi đau thương của anh, chuyện này tôi biết anh đã nói với nhiều người nên tôi cũng xin kể ra đây:

Anh ruột của Phan Lạc Giang Đông là Phan Lạc Tuyên, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Ông Phan Lạc Tuyên tham gia cuộc đảo chính 1960 với tướng Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông. Sau khi cuộc đảo chính thất bại, Phan Lạc Tuyên chạy sang Cambốt. Một thời gian sau, Phan Lạc Tuyên được Việt cộng móc nối nên theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông ra bắc, rồi được du học ở BL. Sau 30-4-75, ông trở về miền Nam tìm đến nhà Phan Lạc Giang Đông. Ông đã lên án toàn bộ tác phẩm của Phan Lạc Giang Đông là phản động.

 

Đến năm 82, tôi được về. Trước tôi, Phan Lạc Giang Đông cũng được thả. Tôi biết Phan Lạc Giang Đông đã qua rất nhiều nghề cực khổ để kiếm miếng ăn, như đi thồ gạo, đi theo các chuyến tàu bắc nam buôn hàng chuyến, buôn gạo, thuốc lá, rượu…nhưng cuối cùng cũng chẳng đâu vào đâu. Sau đó, chúng tôi gặp nhau ở quán Bún Bò của Phan Nhự Thức.

Phan Lạc Giang Đông là người tích cực ủng hộ quán của anh chàng nhà thơ Phan Nhự Thức, bằng cách kêu gọi anh em văn nghệ tới đây “ăn ủng hộ”.

Đông tuyên bố dõng dạc:

“Anh em ăn nhậu hay uống cà phê ở đâu cũng vậy, hãy đến đây, vừa ăn ủng hộ Phan Nhự Thức, vừa gặp bạn bè nói chuyện cho vui.”

Ý kiến của Phan Lạc Giang Đông được nhiều người hưởng ứng, nên mỗi thứ năm hàng tuần, chúng tôi thường tụ tập tại quán này. Các anh như Phổ Đức, Hà Nguyên Thạch, Trần Thế Phong, Phan Lạc Giang Đông, Huy Tưởng, Sương Biên Thùy… luôn luôn là những khách hàng sốt sắng… Và tuần nào, chúng tôi cũng đọc thơ cho nhau nghe những bài thơ mới viết.

Tôi biết Phan Lạc Giang Đông hay làm thơ về quê hương, thơ chiến đấu hay thơ thời sự. Những biến chuyển chính trị trên thế giới xảy ra, nhất là sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Liên Xô, kéo theo sự sụp đỗ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, khiến Phan Lạc Giang Đông rất hứng khởi, nên anh làm những bài thơ thời sự rất hay. Trong bữa nhậu, Phan Lạc Giang Đông đã đọc thơ anh với giọng sang sảng, dù biết rằng, gần bên quán Bún Bò của Phan Nhự Thức là Nhà Tù Đại Lợi, một nhà tù lớn của cộng sản, nhưng chúng tôi lúc đó ai cũng như mê man đi, không biết sợ là gì.

Tấm lòng của Phan Lạc Giang Đông với bạn bè rất tốt, rất hào phóng. Tuy nhiên, ở thời điểm này, anh em ai cũng cùng khổ, nên dần dần, ăn không có tiền trả thì phải ghi sổ, nên đến một lúc vợ chồng Phan Nhự Thức không còn vốn nữa nên đành phải dẹp tiệm.

Từ đó, chúng tôi ít gặp nhau, đến ngày Phan Lạc Giang Đông đi Mỹ, tôi cũng chỉ biết tin. Biết anh về tiểu bang WA state, tôi có điện thoại thăm anh và đã nói chuyện với anh mấy lần, mỗi lần nói chuyện cũng khoảng hai tiếng đồng hồ, anh say mê nói về những dự phóng hoạt động của anh, cả về chính trị lẫn văn hóa.

Định cư ở Seattle, Phan Lạc Giang Đông đã cộng tác với các báo như Đông Phương, Hải Ngoại Nhân Văn (MA) và đặc san Lý Tưởng của Tổng Hội Không Lực VNCH (Dallas, TX).

Nào ngờ, đến khoảng gần giữa tháng 11 năm 2001, tôi đọc trên báo Người Việt một bản tin:

“Cơ sở Văn Hóa Đông Phương vô cùng đau buồn thông báo cùng toàn thể quí văn nghệ sĩ và quí đồng hương yêu mến thi ca VN:

Thi Sĩ Phan Lạc Giang Đông đã vĩnh viễn bỏ chúng ta ra đi, vào lúc 11:30 giờ ngày 9-11-2001 (nhằm ngày 24 tháng 9 năm Tân Tỵ). Hưởng thọ 62 tuổi. Tại đô thị Seattle, Cao Nguyên Tình Xanh Washington, Hoa Kỳ.

Ông Phan Lạc Giang Đông đã sống chết cho Thi Ca Dân Tộc Việt Nam hơn bốn thập niên qua.”

Tôi đọc mẫu thông báo với nỗi ngậm ngùi. Thế là tôi chẳng bao giờ gặp được Phan Lạc Giang Đông nữa, anh đã đi về với cát bụi quá sớm, 62 tuổi, với bệnh nan y, ung thư phổi.

 

Chuyện về kỷ niệm với Phan Lạc Giang Đông còn dài, làm sao viết mấy trang cho đủ. Tôi biết có nhiều bạn cùng tù, có cái nhìn khác về Phan Lạc Giang Đông, nhưng với tôi, sau qua những năm là bạn bè, là bạn tù, tôi biết Phan Lạc Giang Đông là người rất chống cộng, nhưng với cách chống của anh, với đường lối của anh. Điều này có thể làm phật ý một số người.

 

Vĩnh biệt Phan Lạc Giang Đông! Thế mà đã gần 5 năm rồi từ ngày Phan Lạc Giang Đông mất, tôi mới viết những dòng này về anh. Đây như một nén hương thắp muộn lên phần mộ anh, của một người bạn văn, một người bạn tù cũ. Tôi mãi cầu nguyện cho anh được yên nghỉ nơi Cõi Vĩnh Hằng.

 

TRẦN YÊN HÒA

(2006)




T PHAN LẠC GIANG ĐÔNG

 

MÙA THU GIẢN DỊ

Này em người xa vắng
Này em người em nhỏ
Này em người yêu xa
Này em người trong ta.
Bờ xanh màu tóc cũ
Nghiêng dáng chiều ưu tư
Cánh áo còn hương muộn
Seattle vào thu.
Ai một mình vào thu
Em về phương vẫn nắng
Con phố dài chờ mong
Con phố dài xanh thắm.
Đôi mắt nào mênh mông
Hôm nay là vào thu
Đường lóng lánh sương mù
Tôi đi hoài mãi nhớ .
Nhớ vô cùng lời ru
Tôi một mình vào thu
Lời em như tiếng hát
Lời em lời em gọi
Tình em đêm trăng soi
Tình em còn trong tôi
Còn em như mây trôi
Giấc thu đời tinh khôi
Em ơi mùa thu đợi
Riêng còn em và tôi
Và em còn riêng tôi.

(Đã phổ nhạc bởi nhạc sĩ tiền chiến Anh-Việt)


CHIỀU QEEN ANNE

[Phổ nhạc: Anh Việt]


Chiều đã xuống rồi em
Phố mịt mờ bóng đêm
Phố xa mùa Tạ Lễ
Phố đâu rồi thân quen...

 Đèn nhà ai thắp sáng
Nhớ nhung đến vô bờ
Chuyến xe chờ xuống phố
Khuya ôm tôi tình cờ .

Đường này đây cánh áo
Hương tóc còn trên vai
Lòng ai còn tê tái
Còn ai tìm tương lai .

Tôi vẫn người khách lạ
Đếm từng bước lưu đày
Quê tôi giờ xa quá
Trên trái đời ăn năn.

Vòng tay ôm dĩ vãng
Gió cuốn nhỏ lời ru
Trên đồi Qeen Anne lạ
Trong sương chiều mùa thu.

Cho tôi về phố nhỏ
Về căn phòng thi ca
Tôi ghi dòng nhỏ bé
Với người mùa phương xa.

Áo đời tôi hừng nắng
Mãi sưởi ấm tình em
Môi em giờ còn thắm?
Ru hồn nhau từng đêm.

Em nghiêng chiều sóng bước
Tìm tận đáy tình thương
Tôi nghiêng nhìn núi biếc
Núi đâu rồi cố hương


EM, MÙA XUÂN QUÊ HƯƠNG


em vẫn là mùa xuân

em là phương vần điệu
em là bao lưu luyến
em là mùa yêu thương .

em ơi hoa mười phương

chiều nay về như nắng
tôi nghe lòng sầu lắng
cho ngày mai lên đường

ơi mùa xuân yêu đương

em là nguồn sữa mẹ
em là lời nói khẽ
cho ấm tình thi ca.

chiều mùa xuân ngàn năm

tôi gom trời nắng ấm
em ơi mùa xuân thắm
trên mắt nhung cuộc đời.


em là mùa xuân ta

em là vườn nắng lụa
em vẫn là muôn thuở
câu tình ca quê hương.

em là giọt sương rơi

trên cành hoa một sớm
em là nguồn lửa chớm
nuôi mãi tình hai ta.

em về làm xuân ca

tôi còn hoài nuối tiếc
đôi mắt sầu khép kín
cho tôi về ăn năn.


MÁI TÓC MÙA THU MUỘN

Những buổi sáng sao đầy nhớ nhung
Rừng phong đã rực vàng trên đồi cao mở rộng
Em yêu dấu ơi, đất trời lồng lộng
Mái tóc nào no được ý anh đây
Trời mùa thu rất căng đầy
Những mắt ngọc và vai tròn hơi thở
Ai thèm khát và ai mang nỗi nhớ
Cho bước về chân lạc lõng biên cương
Anh hôn lá , hôn - nụ hôn rất khẽ
Sọ mùa thu lại sớm tàn đi
Thành phố này thở như em như mẹ
Mà gió thu sao vội cuốn lá phong đi
Em vẫn nghiêng mái tóc
Che khuất sầu trăm năm
Mắt vẫn trời xa tắp
Trán u hoài vết nhăn
Tôi vẫn loài chim biển
Báo giông tố đang về
Trái tim bừng lửa hận
Cả đời trai não nề
Một lần nhìn mái tóc
Một lần mùa thu đi
Ôi , tóc mùa thu muộn
Sưởi ấm tình muôn đời .

MỚI
 

Con đường mới hôm nay rất đẹp
Nắng gọi mời những bước chân xa
Và hơi thở ai về trên bến lạ
Cho vui mừng rộn rã ngát hương hoa


Mái nhà nhỏ vươn mình hôn sương sớm
Cửa nhà ai đèn thắp lửa ân tình
cánh thiệp nhỏ vô cùng ấm áp
Tôi lữ hành khát vọng cánh môi xinh


Bến cảng hẹn trường ca viễn xứ
Mây phiêu du vẫn nghẹn nấc thời gian
Áo du tử vẫn thấm nồng khói nắng
Mắt em hoài ẩn dấu quan san


Ly trà sánh hồn phương đông bỏ ngỏ
Khung trời vuông hay trọn vẹn hồi âm
Thời khắc bỗng ngừng điệp khúc
Phong trần trên trang giấy thâm tâm


Quả thực chín - trái tròn thời điểm
Hội nhân gian hát dân chủ bừng lên
Em bé nói lời trong như ngọc
Mẹ già mừng nay hết buổi cung tên.



TÌNH EM XANH MÃI TRỜI GREENLAKE

Như một nhành mai- một nhánh mai
Mong manh áo mỏng mắt hồ phai
Sao em gọi gió vàng xa tắp
Đón cánh thời gian giấc mộng dài.


Như hương tóc muộn ngày xưa cũ
Đã nói bao nhiêu chuyện tháng ngày
Nghiêng mặt nước soi màu Greenlake
Chạnh lòng vương một thoáng men say.


Sóng vẫn xanh - vẫn xanh - vẫn xanh
Sầu nghiêng đẹp mãi mãi tình anh
Mà ai nhớ gió trời thu sớm
Điếu thuốc mờ hơi gió viễn hành

Bây giờ em vẫn là xa lắm
Em mãi là mây là núi kia
Sao nhỉ rainier hoài thổn thức
Vọng vang đến tận ánh sao khuya.

Rồi bao tuyết trắng là em vậy
Mê mải cùng anh một cõi đời
Buốt giá băng này vương nắng nhạt
Bao quanh xanh lá - xanh bao người.


Em ạ, khi hong tóc bạch kim
Buông lơi một sớm dáng nhung huyền
Cho anh gợn sóng trời tây bắc
Bằng hữu rồi ai ấm lửa thiêng.


Sương phủ quanh đời theo gió hoang
Chiều xanh thắm ngát nhạc Cao Hoàng
Ngọt ngào như tiếng Hà Thanh đó
Kều nữ xanh cười quên điểm trang.


Này em - như núi - như sầu tuyết
Bích tuyết vẫn là xanh ngàn năm
Này em - như sóng - như ngàn sóng
Sóng vẫn ngàn năm vẫn giá trong.


Chiều về ghé quán bên đường phố
Greenlake âm vang tiếng sóng đời
Ta ngỡ lòng mình ly rượu nhỏ
Rất gần điếu thuốc có đâu xa ...



KỶ VẬT NHƯ TIẾNG GỌI XA


Những dòng sông vẫn chảy
Về biển sóng đời xanh
Những bạt ngàn âm thanh
Vẫn âm vang tình lớn.


Tôi nhìn anh một sớm
Thấy kỷ vật vọng về
Nhân loại vẫn say mê
Trong cuộc đời thay đổi.


Chúng ta lên tiếng gọi
Chúng ta cần cái mới
Chúng ta- âm nhạc trổi
Tình ôm trọn khói mây.


Kỷ vật - như tháng ngày
Trong lòng Người Nghệ Thuật
Kỷ vật chỉ trao tặng
Luân lưu dòng văn chương.


Chúng ta phải mở đường
Làm thi ca sống lại
Làm tương lai đi tới
Âm nhạc chuyển ta đi
Xin xếp thành quá khứ
Cuộc sống rất quyến rũ
Kỷ vật như âm vang.


Còn mãi những mùa sang
Anh phải làm sóng lớn
Chúng ta đã lựa chọn
Chúng ta đã hát ca .


CHÂN DUNG

- Gởi cuộc đời

(Phổ nhạc: Nguyễn Văn Thành)


Nếu em hỏi - tôi là gì
Làm sao tôi nói được
Nếu em hỏi tên là gì
Ai không có danh xưng !


Nếu em hỏi mùa xuân
Thật tức cười vì em lẩn thẩn
Ai có mùa xuân bao giờ
Cả hoa cỏ - đá cũng sầu vạn thuở
và muôn loài toàn những hư vô


Nếu em hỏi - cuộc đời sao tạm bợ - bơ vơ
Những bon chen - hư ảo - lọc lừa
Những cái còn - cái mất - cái được , thua
Cái danh lợi- cái ta và cái nó
Anh biết nói sao cho em hiểu rõ
Đành nhìn trời thương nhớ áng mây bay.


Ô thiển: cũng như bùn
Càng nặng càng tanh
Em - giỏi giang chi mà đã vội chê anh
Anh vẫn điểm trang theo thời gian cát sỏi
Bao cuốn sách hôm nay - và ngàn năm tới
Cũng vừa theo cơn huyền thoại đi - về


Bình tĩnh đi em, chớ vội não nề
Ta đâu chắc cái gì ta tồn tại
Cái chớp mắt - một chuỗi dài tê tái
Up-side-down hầu như đã vô thường .


Chỉ có còn duy nhất - một con đường
Là cay đắng - chẳng có gì đậm ngọt
Đã làm người - ta thương nhau cho trót
Chân dung ai - ai vẽ - tặng cho ai ...


Tuyết trên quê người

 
Mưa tuyết đầu trên quê tự do
mình ta và đêm lạnh hư vô
quanh quanh trắng cả trời bông tuyết
trắng cả tâm hồn dĩ vãng xưa.


đâu những lời trăng đâu tiếng em
đâu rồi lời nhạc gọi bao đêm
đêm nay cùng với trời mưa tuyết
tuyết phủ thêm dần nỗi nhớ thêm.


có nẻo quê nào nắng nhớ không ?
quê xưa ngọn lửa ấm tơ trùng
khát khao lời nói như bình dị
mà mắt sông hồ mong nhớ mong.


mưa tuyết mịt mờ dăng lối đi
khuya đêm qụanh vắng dáng em về
bao năm tóc đã vùi sương gió
quê mẹ bây giờ vẫn cách chia


trên nẻo đường về nghe tuyết rơi
bờ xa còn lạnh những đầy vơi
ở đây khát mãi lời xa gọi
nhưng vẫn chỉ là xa vắng thôi .


trắng tay đi giữa trời mưa tuyết
quê cũ xa rồi quê mới đây
ngở tưởng quê xa ngàn dặm thẳm
và rồi mất một thoáng thơ ngây .


đi giữa đêm mưa nghe tuyết đổ
xe lăn trầm lắng dẫn tôi về
có nghe bốn hướng trời thinh lặng
xe vẫn đi trong những não nề.


đêm nay tuyết đổ trên quê mới
tuyết trắng như lòng trắng đớn đau
khép áo thầm thương tôi nói nhỏ :
" Em và đất nước vẫn như nhau ! "



TỪ THẾ KỶ ĐỚN ĐAU TÔI LỚN LÊN
CÙNG ĐẤT NƯỚC HOA SOAN


Thế kỷ hai mươi
những đớn đau cho tôi khôn lớn
hiểu thế nào là đất nước của tôi
hiểu thế nào là những cuộc chơi
những ngôn ngữ tinh ma
những trò bịp bợm
những diễn viên
trên sân khấu đời ghê tởm


Tôi sinh ra - buổi bình minh nở s
m
núi và đồi trùng điệp bủa vây quanh
những dòng sông mãi mãi tươi xanh
đất thơm nức lòng tổ tiên mở rộng
lời ca hát nổ ròn trên mặt trống
những đoàn quân dân tộc vội lên đường
những nàng thơ trao vồn vã tình thương
những cánh áo bay - gió về đằm thắm
nét môi ấm nồng tình im lặng
ngực no đầy dòng sữa ái ân
ánh mắt đi về ấm lại những bàn chân
tiếng gươm súng sắc cờ chủ nghiã
tôi lớn lên bạn thù từ ngàn phía
lẽ phải rồi phải đứng hẳn về ai
đất nước và tôi - và bước đi dài
trái cay đắng vẫn ngọt từ tim mẹ
mặt trời sáng trí tu
cha đã hé
và chân trời Tổ Quốc đứng lên


Những bạn tôi cùng đất nước thiêng liêng
thế hệ ôm tròn mùa hoa mới
kẻ giả hiệu lũ con buôn sám hối
bọn hoạt đầu bày ma qủy tàn theo
cả cộng đồng cùng đất nước đang reo
ngàn triệu nỗi vui trên vai đời chiến đấu
những áng văn chương - nhữngtâm hồn yêu dấu
nàng thơ vẫn đẹp thủy chung
tôi trở về uống cạn nỗi hưng vong
làm lịch sử như cha ông dũng cảm
và đi suốt thu muôn ngàn ánh sáng
bừng nụ cười lúa gạo để nuôi quân
đẹp hoa đời thơm triệu mùa xuân
những thi sĩ văn nhân và danh tướng
những em bé trước ánh đèn vui sướng
học thêm giờ cho kịp chín tương lai
khắp non sông trên vạn ngả đi dài
thơ bằng hữu là Nguyễn Du thời đại
tôi về ngủ bên người tình thân ái
trước thềm nhà nắng nhẹ thoáng hoa soan .



TỪ KHỔ ĐAU THƠ TÔI LÊN TIẾNG

[Phổ nhạc bởi Nguyễn Văn Thành - trong Dân Chủ Ca]

Khi tiếng ru bị cắt ngang âm điệu
khi tiếng võng đưa bị ngưng lại bỗng dưng
khi tiếng kêu than khốn khó trùng trùng
khi khói lửa ngút ngàn
khi bạo tàn ngự trị

khi trọc phú tỏ bản năng ích kỷ

khi lũ thấp hèn cơ hội giàu nhanh
khi trưởng gỉa - học làm sang
thở nọc độc gian manh
khi cái bụng to hơn óc não
khi khoa bảng ưa ngồi nói láo
khi chính tri sa lông yêu nước đầu môi
khi diễn văn đọc mãi không thôi
nói điều gỉa - che manh tâm lừa đảo
khi trắng - đen mập mờ trâng tráo
thời suy vong ngôn ngữ văn chương
khi những tên nhảy múa trên đau thương
suốt thế kỷ Tổ Quốc đau từng chặng
suốt thế kỷ phủ đầy huyền hoặc
Người - dối - người
ma qủy tự tim đen
khi vòng vây là những bóng đêm
khi mọi việc khởi đi từ bao điều tính toán
khi đạo lý thở dài ngao ngán
khi chữ yêu thương thành sáo ngữ vô tình
khi sự thực sợ ánh sáng bình minh
khi im lặng trở thành cần thiết

là khi đó Thi Ca Hiểu Biết

phải rất cần lên tiếng báo nguy

ở xa xăm vời vợi nghĩ suy

Em hỏi tôi khi nào hạnh phúc
tôi biết trả lời sao
khi chung quanh ô nhục
tôi biết nói sao
khi những gì chân thực
đều nín thinh như tĩnh vật ngoan hiền
những tấm họa nào mầu sắc đảo điên
những đọan nhạc âm thanh nhạt thếch
Người lương thiện trở nên ngờ nghệch
đứng bâng khuâng giữa cõi oán hờn

Người Cầm Bút Không Cần Biết Thiệt Hơn

Vũ Khí Chính Là Thơ Lên Tiếng
là báo động
là việc làm biểu hiện
của vô vàn sắc mực đấu tranh.

Em có thể yêu tôi

bởi vần điệu trong lành
bởi bề ngoài đỏm dáng
bởi kịch diễn
bởi những điều thế nhân nhàm chán
bởi ngôn từ ngọt lịm đường hương
Nhưng em ơi - điều duy nhất phải hiểu nhau hơn
LÀ BẢN CHẤT
LÀ TẬN CÙNG DƯỚI ĐÁY TIM DŨNG CẢM
Người Văn Nghệ Đứng giữa vùng ánh sáng
viết nên hoa - nắng - trăng - sao
viết nên đời mới
gửi trao
cho Dân Tộc - Con Người - Nhân Lọai
ngọn BúT THIÊNG
VƯỢT QUA TRỞ NGẠI
Đồng hành cùng Lịch Sử Yêu Thương

Em yêu dấu ơi

Từ khổ đau
THƠ TÔI LÊN TIẾNG

BÀ MẸ VIỆT NAM TRÊN CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT


Trên những chặng xuôi Nam ngược Bắc
Những ga buồn của cam nặng thời gian
Những điêu tàn một thuở lầm than
Những khác biệt ngôn từ ranh giới
Những nghịch lý trên quê hương diệu vợi
Những giả nhân giả nghỉa thiệt hơn
Tôi đã đi suốt những chặng căm hờn
Của chuyến tàu Thống nhất

Những điều trái trở thành sự thực
Những dối gian thành lẽ sống con người
Những diễn viên diễn xuất không thôi
Từ cha con anh em bè bạn
..................................... *

Ở góc tàu theo những tháng năm
Một mẹ còng lưng đi xin ăn Nam Bắc
Nước mắt mẹ nóng hờn tủi cực
Chống gậy theo tàu qua những bến bờ xa
Mẹ xuôi Nam nắng ấm nở hoa
Lòng mẹ no từng đồng tiền gói bánh
Mẹ chán nản huy chương thần thánh
Bốn đứa con đã ngả xuống chiến trường
..................................... *

Mẹ cô đơn không còn một đứa con
Không một ngày mai hy vọng
Mẹ xuôi Nam mẹ đi tìm sự sống
Mẹ đi xin từng tình cảm con người
Mẹ xin những nụ cười
Mẹ xin lòng chân thật

Đã mấy chục năm mẹ thèm sự thật
Đã mấy chục năm đè nặng khổ đau
Những ngôn từ lừa bịp theo nhau
Phủ xuống cuộc đời bị trị
Nước mắt mẹ khô gần thế kỷ
Mẹ chỉ còn một khát vọng thương yêu
Mẹ chỉ còn lo đủ bửa cơm chiều

.......................................

Mẹ đi qua những buôn ga tàu Thống Nhất
Chở nổi buồn cô quạnh

(*Ga Đồng Hới 1984 - Ghi vội trên tàu lửa Thống Nhất)



NHỮNG TIA M
T NHÌN NHAU

Chuy
ện Phan Lạc Tuyên, anh ruột PLGĐ theo CS, trở về sau 1975

H
ồi Ký của THƯ KHANH (vợ Phan Lạc Giang Đông)


Tôi còn nhớ trong một bài hát nào đó có câu: "Những
đốm mắt hoả châu ..." - Lời của bài hát rất buồn và hay.
Nay tôi cũng xin có một Đoạn Hồi Ký, tôi tự đặt tên là: "NHỮNG TIA MẮT NHÌN NHAU"
Đoạn hồi ký này sẽ kể lại toàn là chuyện thực đã xảy ra thôi.
Vào tháng 8 năm 1975 - nghĩa là sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 ít tháng thì người anh chồng tôi là Phan Lạc Tuyên đã về Sài Gòn.
P.L.Tuyên mặc quần áo bộ đội - đi dép râu, đội mũ cối, vai đeo ba lô ... - tay dắt đứa con trai nhỏ sáu tuổi, tên là Phan Đỗ Trí. (Vợ lấy ở ngoài bắc - mẹ của Trí sẽ vào sau)
Hôm đó thì ông bố chồng tôi đã được báo trước nên cụ ngồi ở nhà cả ngày để chờ : "Đứa con trai trở về!" Chứ không phải như câu hát :"Mẹ gìa như chiều nắng. Nhớ con trai chưa về - trong bài hát ...của P.L.Tuyên khi xưa - khi còn trong miền Nam mà Đan Thọ đã phổ nhạc."
Quả thật làm cha mẹ ai mà không mừng khi có con xa cách bao nhiêu năm nay trở về. Nên tâm sự cha chồng tôi cũng thế.
Cụ Xếp Húc đã rưng rưng đôi dòng lệ ôm lấy P.L.Tuyên và ôm lấy đứa cháu nội - tên là Phan Đỗ Trí.
Kế đó là chú Tùng, người chú rể, nhà đối cổng, chú nghe thấy tiếng reo mừng nên cũng đã chạy qua, ÔM P.L.Tuyên HÔN THẮM THIẾT vào hai bên má.
Tôi ngắm chú hôn mà hết sức ngạc nhiên vì chú hôn Đúng Mốt Xã Hội Chủ Nghĩa chiếu trên Ti Vi từ ngày 30 tháng Tư ...Chú đang hiện được làm Tổ Trưởng Tổ Dân Phố.
Sau khi hàn huyên mấy tiếng đồng hồ thôi thì Phan Lạc Tuyên quyết định đi theo cha đi thăm bà Trẻ (vợ kế của cụ Húc) ở Vườn Xoài buôn bán vàng bạc. Và thăm một người chú ở ông Tạ - nhà cao cửa rộng cũng có cửa tiệm buôn bán vàng bạc.
Đến bảy giờ tối hai cha con Phan Lạc Tuyên mới cùng cụ Húc trở về lại nhà.
Trong không khí nóng bức, mặt trời còn le lói. Sợ tối nên ông cụ hối: "Thôi đi con, ở đây trống trải và là khu Công Giáo! Anh ở không được đâu - người ta chung quanh ghét anh lắm!"
P .L. Tuyên suy nghĩ một phút rồi đứng lên đeo ba lô và dẫn con đi theo cụ. P.L.Tuyên chào với tôi: "Chào thím Giang - mai anh sẽ gặp lại sau!"
Tôi nhìn theo cả ba người líu ríu đi nhanh ra ngõ!
Con ngõ hẹp và ngắn nên tôi nhòm theo thì họ đã quẹo khuất bức tường nhà đầu ngõ rồi.
Tới mười giờ đêm cha chồng tôi mới trở về nhà. Mặt cụ đầy vui tươi. Cụ nói: "Nhà mình trống trải nên gửi bố con nó ra ngoài chú Tư cho an ninh và nhà chú ấy có ti
n của cho ăn uống đầy đủ!"
Tôi lấy làm lạ hỏi cụ:
"Ủa sao anh ấy không có lương à? Sao lại sợ không an ninh? Con tưởng anh ấy có súng chứ?"
Bao nhiêu câu hỏi nhưng cụ chả trả lời tôi một câu nào!
Nội trong một tháng tôi không hề gặp Phan L.Tuyên trở lại nhà ông cụ ở.
Bỗng một hôm ...! Một buổi chủ nhật sáng sớm tinh mơ, tôi được con gái của Phan Lạc Tuyên đưa cho tôi mẩu giấy của Phan Lạc Tuyên. Tôi vội đọc:
"Thím Giang Đông! Tôi mời thím đúng 9 giờ sáng nay thím phải ra nhà ông Tư Tài để có cuộc họp mặt quan trọng. Thím phải đúng giờ và không được vắng mặt."
Đúng như giấy Triệu họp! Tôi ra đúng giờ, khi bước vào cửa thì đựợc chỉ lên lầu.
Cái lầu 3 của nhà ông Tư Tài (em ruột cụ Húc).
Tôi thấy một cái bàn dài, kê ghế dài hai bên. Hiện diện đã có sẵn:
Một bên là cụ Phan vọng Húc, đến Bà Trẻ, đến hai cô con gái bà Trẻ.
Một bên là các con gái Phan Lạc Tuyên gồm: Phan Thị Phương Lan, Phan Thị Bạch Tuyết, Phan thị Hoài Hà, Phan Quốc Hưng. Có một chỗ trống đầu ghế dài này là chỗ giành cho tôi ngồi.
Hai đầu bàn thì chỉ có một cái ghế dựa trống . Còn Phan Lạc Tuyên đứng .
Tôi bước vào chỗ xong. Quả thật tôi nín thở - Không hiểu điều gì sẽ xảy ra!. Chắc chắn không phải là tiệc họp mặt vui vẻ!
Năm bảy phút trôi qua mà sao nghe lâu và nặng nề quá.
Phút chờ đợi đã tới!
Ông Tư Tài đã từ lầu dưới lên, bước vào!
Ông là vai chú của chồng tôi nên tôi chào: "Thưa chú!". Còn không ai chào cả!
Phan Lạc Tuyên lên tiếng ngay: (tay kéo ghế dựa, chỉ ông Tư Tài)
"Mời ông ngồi đây!"
Phan L Tuyên nói liên tu:
"Thưa ông Tư Tài! Tôi xin lỗi ông tôi và ông trong xã hội mới không ngồi chung một chiếu. Ông chiếu khác và tôi chiếu khác. Do đó hôm nay sau một tháng mười ngày tôi và hai con tôi ăn ở tại nhà ông là để xác định rõ ràng chúng ta không thể ngồi cùng một chiếu! Vở kịch của chúng ta đến đây đã kéo màn! Nay trước sự hiện diện của bố tôi: Cụ Phan Vọng Húc. Bà Mẹ tôi dù là mẹ kế nhưng mẹ ruột tôi mất rồi, bà Mẹ Kế rất xứng đáng là Kế Mẫu của tôi. Hai em gái đây xứng đáng là em ruột của tôi.
Còn bên ghế bên này: Thím Giang Đông đại diện cho em trai tôi đi cải tạo chưa về. Ngồi kế bên là các con gái tôi: Phan Thị Phương Lan, Phan Thị Bạch Tuyết, Phan Thị Hoài Hà. Con trai tôi: Phan quốc Hưng. Nay tôi tuyên bố tôi trả lại tiền ăn một tháng mười ngày - đúng theo tiêu chuẩn xã hội chủ nghĩa tôi trả ông 15 kí gạo. Và tôi d
n ra khỏi nhà ông. Con Phan Thị Bạch Tuyết đem gạo lên đây trả cho ông Tư Tài!".
Ông Tư Tài nhìn túi gạo để ngay trước mặt! Ông nói:
"Thưa bác Xếp (Cụ Húc trước 1954 làm xếp Địa Chánh nên gia đình và bà con xưng hô là Cụ Xếp) và anh Tuyên! Chú cứ nghĩ là anh về là chú mừng và nhất là anh lại đậu Tiến Sĩ về khoa khảo cổ - nên chú khi nghe tin bác Xếp và anh nói muốn ở ngoài này tạm thời nhà nước chưa có chỗ cho anh và các cháu thì chú vui mừng nhận lời ngay. Chú cũng có ý là gần anh để có lúc nào đó sẽ trao đổi với anh đôi điều sách vở thơ phú. Nào ngờ anh vì đâu rất giận chú mà bỏ đi đột ngột mà trả chú 15 kí gạo thế này. Qủa thật chú cũng đã thuê riêng một người hầu để hầu anh và các cháu thôi. Còn chú cũng biết xã hội mới đâu có quyền thuê con ở để hầu hạ minh như trước. Cách mạng về thì chú đã chấp hành ngay mọi điều mà! Nay giá anh không muốn ở thì anh cho chú một cục đá khảo cổ để chú làm kỷ niệm, chứ quả thật gạo thì nhà ai cũng khó khăn nhưng chú còn chạy được chứ TÌNH CHÚ CHÁU khó kiếm lại được! Chú cũng biết nhà chú buôn bán nhưng từ khi Giải Phóng là chú chấp hành ngay - đâu còn buôn bán. Chú hiểu thân phận chú kh
ông cùng một chiếu với cháu thì dù nhà nước muốn xử thế nào chú cũng chấp nhận chứ không dám nhờ anh che chở. Kể cả các em đi cải tạo chú cũng mặc cho số trời ! Chưa bao giờ chú nói nhờ vả xin xỏ anh bảo lãnh cả .
nói nhờ vả xin xỏ anh bảo lãnh cả."
Ông Tư Tài vừa nói xong, P.L.Tuyên tuyên bố:
"Giải tán!"
Tất cả ra về.
Khi tôi bước xuống lầu cùng thì Phan LTuyên - Cụ Húc - bà Kế Mẫu và hai cô con gái đã lên xe hơi cái xe hơi của cô CHÍNH - con gái cả của bà Kế Mẫu đi Mỹ vào hôm 20 tháng Tư/1975 - bỏ lại) đi về hướng Trương Minh Giảng!
Cảnh chợ ông Tạ lèo tèo! Mưa bay, mặt ai cũng như lo lắng như tôi duy chỉ những cán bộ, bộ đội đang vui vẻ, mặt đỏ gay bên dăm chai la de trong các quán Cây Còn và Bún Chả Nướng Ngọc Hà ...


THÀY LÀ THẰNG PHẢN ĐỘNG


(đây là lời Phan Lạc Tuyên sỉ nhục cụ Phan Vọng Húc - bố ruột)

Sau ngày đổi tiền và ngày
đánh Tư Sản thì ... mọi người xơ xác.
Khủng khiếp quá! trong Chợ Lớn một nhà buôn lớn, chủ nhà đã không kịp đổi hết tiền nên đã ôm nguyên một bao tải giấy năm trăm nhảy từ sân thượng lầu 5 xuống đường Trần Hưng Đạo!
Mỗi nhà chỉ được đổi 200 đồng tiền mới thì nhà buôn bán lớn làm sao đổi hết trừ phi đi gửi lén qua những người không có tiền rồi (đổi ăn chia 50 % hoặc 60 %) hoặc mua vàng dấu gửi nhà bà con nghèo xưa nay mà họ hiền lành tử tế giữ cho rồi chia bớt cho họ. Kiểu này là phải thật tin cẩn.
Riêng gia đình Phan Lạc Tuyên đã hể hả nhiều nhưng vẫn ấm ức.
Một hôm Tuyên đang ngồi uống trà thì Bà Tổng vào báo cáo cho Tuyên hay: "Nhà ông Tư Tài bị tịch thu nhà và hiến cho Phường mấy cây vàng! Chắc bị đi kinh tế mới - Nhưng hiến vàng thế này chắc không phải đi! Nay ông ấy mang bát đĩa chén bát nồi niêu qúy ra bán hết, bán ở trước cửa!"
Tuyên trả lời: "Cháu có nghe loa phóng thanh của phường 5 về vụ hiến vàng rồi! Nhưng đã làm sao hết!"
BÀ TỔNG là bà Cô của Tuyên - em cùng cha khác mẹ của cụ Húc.
Bà được Tuyên phân công Bí Mật dò la tin tức từ các nhà đem báo cáo lại. Việc này bà làm để chuộc tội vì bà là thành phần LÃNH TỤ CỦA PHẬT GIÁO khu ông Tạ- đã từng đi biểu tình chống ông Ngô Đình Diệm. Tuyên nắm được "tẩy" này nên dọa bà, cho bà đi cải tạo lúc nào không hay, nên bà phải làm việc này cho Tuyên.
Khi bà Tổng về rồi thì Tuyên đưa t
ôi 50 đồng nhra mua dùm Một Món Đồ của TƯ SẢN, để về vừa dùng vừa làm KỶ NIỆM. Tuyên nhấn mạnh: "Món gì cũng được miễn là LÀM KỶ NIỆM ĐÁNH TƯ SẢN".
Trời đã quá trưa! Phố xá rời rạc buồn thiu! Nhà ông Tư Tài cửa mở he hé. Trước hè rải một cái tấm ny lông để bán các đồ như: chén, bát, thìa muỗng, ly tách. Rồi cái bàn úi.
Cậu con trai nhỏ đứng bán. Nó e dè buồn bã nhìn tôi.
Tôi hỏi: "Em bán được bao nhiêu mà bán!" Nó nói: "Được đồng nào thì hay đồng đó!"
Tôi qủa thực không muốn mua! Vì động lòng thương tâm! Nhưng không mua thì s
Tuyên chửi, nên đành cầm cái bàn ủi mang về.
Khi về đến nhà tôi thấy mấy bố con Tuyên đang cười hể hả. Tuyên nói:
"Tại bà Phấn bà ấy giữ dùm hai cái hộp đựng vàng của Bà Hai (BÀ MẸ TRẺ) chứ nếu không Tao Xiếc Luôn! TOÀN VÀNG LÁ HAI HỘP BÍCH QUY ĐẦY VÀNG LÁ đem gửi. Tao mở cho thằng Chương coi. Nó bảo ba để con ôm về nhà con cất cho. Nhà con không ai khám đâu, nghèo nhất xưa nay mà!"
Tuyên sợ Bà Phấn nên không dám! Kệ bà Phấn với Bà Hai.
Tuyên lại nói:
"Ờ mà con Minh nó đã mang cả mấy chục cái đầu máy may sang gửi mà không hiểu sao sau đó vài giờ đồng hồ nó lại quay lại mang đi đâu!"
Cô Minh giầu lắ. Tuyên biết rõ cô là chủ tiệm vàng lớn nhà hai tầng lầu ở Hoà Hưng - chồng là Phó Tỉnh Trưởng Nội An ở ngoài Trung nay chồng đi cải tạo! Cô Minh là con ông chú ruột của Tuyên! Cô có hai người em trai ruột đi tập kết thì một đã chết ở rừng Trường Sơn. Một còn laị là tổ viên của một hợp tác xã ở ngoài Bắc, chả có chức vụ gì, chả là ĐẢNG viên!
Khi Tuyên còn ở Ba Lan chưa về kịp Hà Nội nên Tuyên đã nhờ bà MONICA - một Nữ Sĩ Ba LAN đã vào S
ÀI GÒN trước ngày 30 tháng Tư để săn tin cho báo Ba Lan -mang dùm cho cái thư của Tuyên đưa đến cho ông chú - chú Tham Liên - ở chung nhà với cô Minh. Thư này nội dung là kêu gọi cụ Húc cũng như giòng họ con cháu hãy bình tĩnh ở lại và Tuyên sẽ về. (Riêng tôi và Giang Đông không biết vụ này! Sau ngày Tuyên về mới kể.)
Sau ngày đánh Tư Sản thì tới ngày cho kê khai nhà cửa. Ai diện nào bị đi kinh tế mới. Ai được hợp thức hoá nhà và cho chuyển hộ khẩu...
Tôi ở chung hộ khẩu của cụ Húc từ khi lấy Giang Đông. Nay tôi muốn tách. Nhất là Tuyên không muốn dính trong hộ khẩu có một thằng em là sĩ quan ngụy đi cải tạo.

*

Cụ Húc đã được Tuyên mời tới LÀM VIỆC.
Trước tiên cụ được hạ lệnh mở cái hòm để dưới gầm bàn thờ.
Tuyên lục trong đó bắt được thư cụ viết cho Cảnh Sát Quận Tân Bình: Nội dung: "Kính nhờ Ban Cảnh Sát đưa con dâu tôi là Bùi Thị Nga đi vào Dưỡng Trí Viện Biên Hoà. Vì tôi thấy nó bị tâm thần và hình như có KẺ XẤU XUI DỤC nên nó cứ gọi tên các vị Lãnh Đạo Quốc Gia ra chửi!".
Phan Lạc Tuyên đã nổi máu - nhưng lục tiếp. Tuyên lôi ra một tấm hình cụ Húc chụp chung với HAI NGƯỜI MỸ (hai người cố vấn Văn Hóa - xin chụp chung vì cụ trong ban tu Thư và Dịch Thu
t và đưc Giải Thưởng Văn Chương Dịch Thuật. Quyển truyện cụ dịch tựa đề: PHAN TRẦN TRÁ HÔN.
Và Tuyên lục tiếp lôi ra: Một cái hộp đựng huy chương với lá cờ Vàng của Việt Nam Cộng Hoà. Hình của ông Trần Văn Hương đang bắt tay và trao gỉai thưởng cho c
ụ Húc.
Rồi hết không còn gì nữa!
Tuyên mặt như lửa đỏ - phùng miệng ra la:
"THÀY LÀ THẰNG PHẢN ĐỘNG. Thày không xứng đáng vơi con chút nào cả. Trong khi con đi kháng chiến thày ở nhà làm đơn cho cảnh sát bỏ tù vợ con - bỏ tù Vợ thằng Cộng sản! Đây đơn chính chữ cụ viết!"
Cụ Húc phân bua:
"Vợ con nó điên thật nhưng bắt vào trại tâm thần thì không ai ở nhà đưa đi được. Vì người điên nó khoẻ lắm nên thày phải làm đơn như vậy để cảnh sát họ mới đưa đi được - Đi chữa bệnh chứ bỏ tù đâu!"
Tuyên chửi rủa qua cái hình:
"Nè thày còn chối cãi nữa được không? -
Đây tấm hình cụ chụp chung với hai người Mỹ! Với CIA!"
Cụ Húc giải thích:
"Thày đâu có làm gì với CIA - Họ là cơ quan văn hoá."
Tuyên: "Hừ! Văn Hoá! Ngành nào cũng có CIA hết."
Tiếp nữa nè:
"Giải thưởng Văn Chương! Này huy chương! Này cờ ..."
Tuyên qu
ăng xuống đất lấy gót giày dộng nát!
Cụ lại phân bua gần như khóc:
"Anh à! dù sao cậu cũng chịu ơn Mưa Móc của trong Nam. Cậu xin anh cho cậu thắp một nén nhang và nhặt lá cờ lên khấn, rồi cậu giao nhà lại cho anh thờ cúng tổ tiên - anh là con cả - Trưởng Tộc kế thày!"
Cụ Húc lom khom nhặt lá cờ lên - Tuyên giật ngược lại di xuống đất thêm.
Để cho cụ thắp nhang thôi. Thắp xong cụ hốt hoảng ra về Cống Bà Xếp ở với Người vợ sau cùng là Bà Tư Cao với đứa con gái nhỏ tên là Hải - cưới sau ngày bà Mẹ Ruột Giang Đông mất - để hầu hạ cụ Húc!
Hai gian nhà cụ Húc được khoá trái lại.
Tuyên đề trước cửa:
"Cấm mở! Để tụ họp phản động cúng giỗ ăn nhậu!"
Một tuần sau ông cụ đau. Tôi lên thăm. Cụ đau không dậy được. Tôi hỏi cụ: "Cậu có làm sổ gia đình không! Con sẽ hợp thức nhà và xin tách hộ khẩu."
Cụ Húc nói:
"Thằng Tuyên nó không còn tính người. Hôm qua nó mời cậu lên và nó sai bà Tổng chỉ mặt chửi cậu rồi nhổ nước miếng vào mặt cậu: Anh là đồ chó! Nó muốn cậu phải xác nhận phần nhà của con là của cậu xây. Và phần nhà cậu ở là của cậu rồi làm giấy cho nó luôn! Cậu nghĩ ngợi và trả lời cậu không thể đẩy con đi kinh tế mới rồi còn Giang Đông nó cải tạo riết cũng sẽ về!"
Tôi trả lời:
"Cách đây ba bữa - anh Tuyên cũng gọi con sang nhà. Con Phan Thị Hoài Hà cầm giấy sang bảo bố cháu cần thím sang ngay. Lúc đó con vừa đi dạy về cũng chưa kịp cửi áo dài. Khi sang đến nơi trước mặt đông đủ con anh ấy, anh ấy xả lả nói: "Thím Giang Đông! Em có muốn Giang ông về không. Thì bây giờ em về thay áo đi rồi sang đây. Ông Cụ sẽ lên đây bây giờ - Em chỉ cần chửi ông cụ một câu như Bà Tổng chửi ông cụ thôi, là: "Ông là cái đồ mặt chó!" Con đã không làm và trả lời: "Anh là con trai ruột mà sao anh làm như vậy! Em không thể chửi như vậy. Thứ nhất ông cụ bà cụ đi cưới em mà - Thứ hai em là con nhà có giáo dục, bố mẹ em nghe được em chửi như vậy sẽ từ em ngay. Thứ ba em là một cô giáo dạy học trò chung quanh đây thì phụ huynh họ sẽ làm đơn cho em nghỉ việc ngay. Thứ tư nhà em đang trong trại cải tạo mà nghe tin vợ ở nhà chửi bố mình như vậy thì anh ấy sẽ buồn lắm chắc sẽ từ em ngay - thứ năm là các con em chúng là cháu ông cụ mà chúng sẽ nghĩ gì về em!"
Ông cụ nghe tôi nói vậy thì an ủi:
"Thôi con cứ về lo nhà cửa và sang tên làm hộ khẩu mới đi. Cậu không sao chỉ nghĩ ngợi nên mệt thôi!"
Tôi thật sự lòng mình thiện nên dù Tuyên bao lần bất chợt cho tôi không kịp chuẩn bị suy nghĩ để làm theo ý đồ của hắn! Bắt tôi chửi ông cụ cha chồng trước mặt lũ con hắn làm chứng!
Dễ sợ thật! TRỜI ĐOẢN tôi mới chết chứ lưu manh như Tuyên hại tôi, tôi không chết đâu!


THƯ KHANH



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Bảy 20184:52 CH(Xem: 51)
Cách đây vài năm một văn hữu đang chủ trương một tờ báo ảo trên mạng Internet ghé thăm tòa soạn tờ báo
17 Tháng Bảy 201810:40 SA(Xem: 145)
hừ! ta kẻ thua trận. chờ ngươi chiều bãi cát. máu rạch đỏ cửa thuận an. thấm ướt lớp chiến bào. ta thua ngươi.
14 Tháng Bảy 20183:08 CH(Xem: 198)
Độc giả đã đọc và biết nhiều về một Đặng Tiến với những bài phê bình
11 Tháng Bảy 20183:03 CH(Xem: 216)
(h. Hoàng Lâm) Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh: Biên Hòa. Năm sinh: 30/5/1952. Năm mất: 3/8/1992 tại Ca, Mỹ.
04 Tháng Bảy 20188:08 SA(Xem: 211)
(h. K.H) Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng