DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,952,202

Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Friday, May 11, 20186:15 PM(View: 1414)
Mặc Lâm - Nhà thơ Trần Vàng Sao và “Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”

Nhà thơ Trần Vàng Sao và
“Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình”



Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế.


Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit.
Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit. Photo: RFA
(1941-2018)


Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông.

Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương, nhà thơ Thái Ngọc San lúc ấy là thư kí tòa soạn, người chịu trách nhiệm chọn đăng bài thơ phải rời khỏi tờ báo, và nhà thơ Trần Vàng Sao tiếp tục sống với những khó khăn của riêng mình.

Bài Thơ của Một Người Yêu Nước Mình

Cũng theo Nguyễn Miên Thảo thì giới chức văn nghệ trong Đảng có thể nghĩ khác về Trần Vàng Sao, cho thơ ông là có vấn đề, nhưng nhà thơ vẫn tự tại. Tự tại sống, tự tại làm thơ, và bạn bè muôn nơi vẫn đến với ông. Bởi vì ông là nhà thơ biết yêu nước mình, thật sự yêu nước mình.



buổi sáng tôi mặc áo đi giầy ra đứng ngoài đường
gió thổi những bông mía trắng bên sông
mùi tóc khô còn thơm lúa mùa qua
bầy chim sẻ đậu trước sân nhà
những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé
tôi yêu đất nước này như thế
mỗi buổi mai
bầy chim sẻ ngoài sân
gió mát và trong
đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng
tôi vẫn sống
                 vẫn ăn
                                vẫn thở
                                             như mọi người
đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Những câu thơ đầu tiên trong bài thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình” mà chúng ta vừa nghe đã vẽ lại một hình ảnh quê nhà mà bất cứ ai cũng có. Trần Vàng Sao yêu hình ảnh quê hương của ông bằng gợi nhớ những “bông mía trắng” bên sông khiến người nghe ông kể dễ dàng liên tưởng đến hương vị ngọt ngào của mật, cộng với hơi nước phả lên mát mặt trong những ngày oi bức. Dòng sông trong bài thơ không phải là Thu Bồn, hay Cửu Long hoặc sông Hồng sông Đáy…. không một địa danh cụ thể nào được tác giả nhắc tới nhưng sao ta vẫn thấy chính mình trong đó. Trong chúng ta mấy ai không có một dòng sông ký ức để mà nhớ mà thương? Cho dù hiện sống ở quê nhà hay đang bôn ba mọi nẻo thì dòng sông của riêng ta vẫn chảy thao thiết trong trí nhớ hàng ngày.

Từ những hình ảnh nhẹ nhàng thơ ấu, Trần Vàng Sao xuống hàng với những chi tiết khác, một chút gập ghềnh, một chút dằn sốc nhưng nghe chừng như tiếc nuối và đậm dần lên chất thơ…thơ của buồn bã và đầy hình tượng.



một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu



Trần Vàng Sao sử dụng kỹ thuật của hội họa khi viết “một vết bùn khô trên mặt đá”. Trong câu này ẩn ngữ khó nhận ra. Phía sau của bùn khô là gì và mặt đá khi nhận vết bùn có gì thay đổi trong cấu trúc của nó hay không. Ngưng một chút ở đây. Hãy liên tưởng tới nét sù sì của đá. Vết rạn nứt của bùn khô và vì bùn khô chỉ là một vết nên rất mơ hồ rất mảnh mai. Nhưng lạ chưa, sao mà ám ảnh như một vết cắt, một nhát chém, một đứt lìa?

Cảnh báo đứt lìa này bắt đầu cho những câu sau:


tôi yêu đất nước này xót xa
mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng
thương tôi nên ở góa nuôi tôi
những đứa bà con hằng ngày chửi bới
chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc như cho một đứa hủi
ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới

 

thắp ba cây hương
với mấy cái bông hải đường
mẹ tôi khóc thút thít
cầu cha tôi phù hộ tôi nên người
con nó còn nhỏ dại
trí chưa khôn chân chưa vững bước đi
tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng



Bắt đầu từ đây, Trần Vàng Sao vén bức màn của mình để dẫn người đọc len lỏi vào đời riêng của ông. Mà lạ, tiếng là riêng nhưng sao chúng ta thấy ẩn hiện hình bóng chính mình trong đó?

tôi yêu đất nước này cay đắng
những năm dài thắp đuốc đi đêm
quen thân rồi không ai còn nhớ tên
dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng
áo mồ hôi những buổi chợ về
đời cúi thấp giành từng lon gạo mốc
từng cọng rau hột muối

 

vui sao khi còn bữa đói bữa no
mẹ thương con nên cách trở sông đò
hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc
đêm nào mẹ cũng khóc



Thì ra chúng ta quen thuộc với câu chuyện mà Trần Vàng Sao đang kể chẳng qua là do hình ảnh một bà mẹ Việt Nam. Mà có bà mẹ nào lại không có hình ảnh tảo tần thương khó. Chỉ khác chi tiết trong đời bà mẹ của Trần Vàng Sao đó là “đêm nào bà cũng khóc”.




tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò
áo trắng và chùm hoa phượng đỏ
trong bước chân chim sẻ
ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi
hay nói chuyện huyên thuyên
chuyện trên trời dưới đất rất lạ
chuyện bông hoa mọc một mình trên đá
cứ hay cười mà không biết có người buồn



Trần Vàng Sao rất tiện tặn trong khi nói về bóng dáng người yêu của mình. Ông nhắc tới em như người chồng nhắc tới vợ. Đằm thắm, nhẹ nhàng và quen thuộc. Thế nhưng có quen thuộc lắm thì cũng ẩn hiện đâu đó khó khăn, cách trở. Ông ngập ngừng đưa ra hình ảnh: “chuyện bông hoa mọc một mình trên đá” như một dự báo. Một lần nữa ông đem cái lạnh lẽo sù sì của đá vào chuyện vợ chồng. Và nỗi ám ảnh này có trước khi bài thơ thành hình. Ám ảnh chia ly đó ló dạng vào một sớm mai:


sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn
khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại
ngó cây cam cây cải
thương mẹ già như chuối ba hương
em chưa buồn vì chưa rách áo



Đâu phải cứ rách áo rồi em mới buồn. Em đã biết buồn từ khi bắt đầu yêu anh. Định mệnh của nhà thơ được tiên tri chỉ qua hai từ “rách áo”. Rách áo chứ không phải áo rách. Rách áo diễn đạt sự thống khổ. Áo rách minh họa sự nghèo nàn. Nghèo và thống khổ khác nhau rất xa. Có nhiều người nghèo nhưng nỗi thống khổ không màng ghé tới. Có người đủ ăn nhưng phiền muộn nhiều nỗi đã làm họ rách áo. Rách áo ở đây rất gần với “rách lòng”.

Bài Thơ Không Đề

“Bài thơ của một người yêu nước mình” bắt đầu từ những thân thiết, vui buồn gói ghém trong một cõi riêng đã mở đầu cho những bài thơ khác nói đến những cái chung của thế hệ nhà thơ mà ông nhặt ra từ những thao thức rất đời thường. Nhưng trong đời thường của Trần Vàng Sao lại bắt đầu bằng những nhận thức và phán xét. Phán xét cái ác xuất hiện trong hoàn cảnh rất bình thường. Ông viết trong “Bài thơ không đề” sau đây:



câu chuyện bắt đầu bằng một chuyện rất tàn ác

kẻ giết con gà con bằng cách thắt một sợi dây chuối treo lên cành cây

và sau đó chẳng có ai nhắc lại

đứa bé lớn lên làm nghề đào huyệt chôn người chết

 

con ngựa hoang không ăn cỏ ngoài đồng xa nữa

con ngựa hoang đứng ngủ trên đống cát đầu biển

tôi đi dắt con ngựa hoang về

rồi lang thang qua hết những cánh đồng những cánh rừng

đi lạc không biết lối ra.


 

Tính chất trừu tượng của bài thơ dẫn người đọc gần như vào rừng thẳm. Bắt đầu từ cái chết của chú gà con, kéo theo sự xuất hiện của con ngựa trắng. Con ngựa hoang một màu lông trắng ẩn dụ hình ảnh của chú ngựa một sừng Unicorn trong thần thoại và Unicorn là một trong những bí ẩn nhất của tất cả các loài động vật. Nó đã được tôn vinh trong cổ tích dân gian, bài hát, bài thơ, và câu chuyện trong nhiều thế kỷ, tuy nhiên cho đến nay nó vẫn là một trong những "bí ẩn lớn chưa giải được" của thế giới.

Bí ẩn đó liên thông với hình ảnh Trần Vàng Sao đi dắt con ngựa trắng về nhấn mạnh đến tính chất trừu tượng của câu chuyện. Con ngựa trắng khi chịu sự dẫn dắt của Trần Vàng Sao bỗng trở thành chú ngựa hoang tội nghiệp. Và tội nghiệp hơn nữa số mệnh của nó và của nhà thơ trở nên làm một. Mệnh đề con ngựa-nhà thơ bắt đầu gắn bó từ đây.

Bài Kính Tặng Mình

Trong bài thơ mang tên “bài kính tặng mình” Trần Vàng Sao bỗng thoát thai thành một người khác. Tự gọi mất trí nhớ trong trạng thái tỉnh bừng nhận thức. Mất trí nhớ nên khi nghe tiếng con người hàng xóm khóc nhà thơ lồm cồm ngồi dậy thắp nhang đọc bài kính tặng mình. Đây có phải một loại mất trí nhớ có điều kiện mà nhà thơ ao ước? Chỉ có ao ước một cách sâu nặng mới có khả năng làm cho giác quan nhận thức của ông bừng nở, đón nhận những dữ liệu phía sau sự việc và từ đó mở ra cánh cửa phạm trù khác của lý trí. Sâu và tối hơn nên chỉ khi nào mất hẳn khả năng suy tưởng mới có thể tiếp cận được.




nửa đêm

người làm thơ mất trí nhớ nghe tiếng ru con bên hàng xóm thức dậy thắp ba cây hương đọc bài kính tặng mình

 

tôi xin mở hết các cửa

kính chào toàn thể mọi người

tôi không còn biết ngày biết tháng nữa

ba ngày trời mưa luôn nước đen không tạnh

sau đó trời nắng châu chấu nhảy trong cỏ

chim bay hết ra đồng ăn lúa rụng

ban đêm ếch nhái kêu đầy ao

cuộc đời có gì vui

người làm xiếc đâm con dao vào bụng

sau đó không nhớ mình phải làm gì nữa

tôi nhìn lên bàn thờ

mệt đắng cuống họng

có người gọi to tên tôi ngoài đường

gió thổi rất nhiều trong lá cây

không thấy mặt trời ở đâu

tôi hút thêm một điếu thuốc

rồi bỏ miếng giấy đang cầm trong tay vào miệng nhai

tôi thấy mình không còn muốn một cái gì hết

thôi tôi đi ngủ cho khỏe



Nhưng nào ông có ngủ được đâu. Tự nhận một lần nữa mình là người điên, nhà thơ chúc mừng chính mình một cách buồn bã, nhà thơ loay hoay với cảm giác chóng mặt tự tìm kiếm lấy mình, hay nói đúng hơn tìm kiếm cái bản ngã mà ông tưởng rằng đã đánh mất.




tôi chúc mừng tôi buồn bã khô héo

như thằng điên soi gương thấy mình người lạ

tôi nhìn lại sau lưng

 

không còn có ai khác tôi

một thời chiến tranh đã đi qua

người lính nhớ tiếng súng nổ và tiếng máy bay ngang đầu

mọi người bây giờ có khi ôm nhau nhảy múa ngoài ngã ba đường

lũ trẻ hoảng hốt la hét bỏ chạy

tôi cười không được

muôn năm những người anh hùng được đúc tượng

muôn năm tôi đã chết

tôi chúc mừng tôi anh hùng không được thờ phụng trong am miếu

tôi lang thang trên các cồn mã

tiếng người tình gọi tôi bốn bề trong cây cỏ

lúc đó tình cờ tôi đã hôn em rất lâu ngoài đồng trống

rồi em xỏa tóc chạy như bay về phía mặt trời đỏ rực

 

bây giờ em hãy ngồi lại đây

tôi xin em thôi đừng nói nữa

bởi vì tôi không còn nhớ gì hết




Chúng tôi vừa giới thiệu một vài nét trong tập thơ mới nhất của Trần Vàng Sao được nhà xuất bản Giấy Vụn xuất bản vào tháng 11 năm 2009. Tập thơ mang tên “Bài thơ của một người yêu nước mình”được ra mắt lần đầu tiên tại Sài Gòn sau nhiều chục năm nằm im ắng trong ngăn kéo của tác giả. Tuy nói là ra mắt nhưng chính bản thân nhà xuất bản Giấy Vụn cũng chỉ là một nhà xuất bản chui không được thừa nhận chính thức của nhà nước cho nên số phận của tập thơ không thua gì số phận của người sinh ra nó. Theo lời giới thiệu của Nguyễn Miên Thảo thì Trần Vàng Sao đã trải qua hơn nửa đời người trong khốn khó đơn độc và bị hắt hủi bởi chính những người đồng chí của mình. Số phận của ông không lạ nhưng tài năng thơ của ông thì không nghi ngờ gì nữa: Vừa đẹp, buồn lại vừa bi tráng, phẩn uất…tất cả tạo nên một Trần Vàng Sao cô đơn và lạnh lẽo, run rẩy trong tài thơ lấp lánh của mình.

Nghe:

https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/LiteratureAndArts/Poet-tran-vang-sao-and-his-selected-work-the-poem-of-a-person-who-love-his-country-mlam-12122009100804.html/vmlam12122009.mp3



                                                                       Mặc Lâm

                                                                                                                                       (RFA, 12.12.09)
                                                                                                từ: sangtao.org


                                       *
                                                                     Mời tìm đọc:

                                     Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                           Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                        Amazon Mẫu Hệ





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 24)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 43)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 57)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 144)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 157)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)