DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,491,784

Trương Văn Dân - Lần theo những sợi tơ lòng. (viết về nhà văn Trạch An -Trần Hữu Hội vừa ra đi)

Wednesday, May 16, 20185:46 PM(View: 4580)
Trương Văn Dân - Lần theo những sợi tơ lòng. (viết về nhà văn Trạch An -Trần Hữu Hội vừa ra đi)
Lần theo những sợi tơ lòng.

THH                     Trạch An - Trần Hữu Hội (trái) và Trương Văn Dân (phải)                          THH 1                                                                            
 Gặp gỡ tại buổi ra mắt tập truyện “Vàng Trên biển đá đen” của Elena Pucillo Truong
              Do Quán Văn tổ chức ngày 8-4-2018 tại cà phê Lọ Lem - Sài Gòn
             

Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

            Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.

            Trò chuyện một lát, biết anh cũng làm thơ và viết văn, câu chuyện của chúng tôi trở nên thân mật và cởi mở. Đúng là văn chương xóa mờ ranh giới và giúp con người vượt qua các rào cản.

 Đang nói chuyện với Hội thì thấy ở góc phía bên trái cửa ra vào xao động. Có mấy người đứng lên và di chuyển. Tôi nhìn ra thì thấy Lê Hữu Khóa, mồ hôi nhễ nhại và khuôn mặt mệt mỏi đang từ taxi bước đến. Khóa là giảng viên trường Đại học Charles-de-Gaules – Lille 3 ở Paris, là người mà một năm trước đó cùng người bạn thân của tôi là bs Thiện đã đứng ra mời và xin visa cho đoàn Quán Văn “cõng văn chương qua đất Pháp”. Khóa vừa tham dự các buổi tọa đàm khoa học ở các trường đại học trong thành phố và tranh thủ đến thắp nhang cho bạn vì sáng hôm sau còn có một cuộc họp rồi trưa là bay về Paris. Tôi đến chào Khóa và cùng các bạn QV trong đoàn trao đổi một lát, vì sau đó là anh phải vội đi.

Nghi lễ và tưởng niệm cho anh CTNM  xong thì tôi quay lại chỗ Hội. Nói chuyện một lát  thì tôi mời anh đến tham dự các buổi ra mắt Quán Văn tổ chức hàng tháng. Anh vui vẻ nhận lời và khi từ giã anh có tặng tôi 2 bài thơ “anh về đọc cho vui!”.

&

            Sau đó tôi và Hội thường gặp nhau ở các buổi ra mắt Quán Văn. Tuy không phải lần nào Hội cũng tham dự được vì anh đi lại khó khăn, có những lần sức khỏe không cho phép nên anh đành ngồi nhà tham dự hàm thụ qua các trang phóng sự ảnh của bạn văn Đặng Châu Long trên Facebook. Gặp nhau không nhiều nhưng anh rất được anh em quý mến. Rồi sau khi anh ra mắt tập truyện đầu tay “Hạt Mầm trót vay” ở café Thủy Trúc thì anh đã trở thành một thành viên thân thiết trong gia đình Quán Văn. Nhiều lần tôi quan sát anh bắc ghế ngồi gần khán đài để phụ trách âm thanh cho buổi họp và nụ cười hiền lành luôn nở trên môi.

            Biết Hội sống trong tình yêu thương đùm bọc của gia đình và sự quý mến của bằng hữu văn nghệ nhưng những lần gặp, trong ánh mắt và nụ cười vui hiền hậu của anh tôi vẫn cảm nhận có một cái gì đó, ẩn khuất mà như có hằn lên những nếp gấp, có lẽ là của nỗi niềm tâm trạng hơn là dấu tích của thời gian.

&
 
Nỗi niềm đó tôi chỉ hiểu khi đọc những trang viết về tuổi trẻ của Hội. Nó chẳng khác của mọi người là bao, vì đó là thân phận, chung, của những người Việt Nam sinh ra trong thế hệ chúng tôi. Chiến tranh. Hợp tan. Chia lìa. Mất mát. Chỉ có điều là Hội nhạy cảm hơn, nên “vết hằn” cũng vì thế mà in sâu. Nhuộm vào trong mắt, như lúc anh đành đoạn chia tay những quyển sách mà mình yêu quý:

 “… Mẹ bán luôn đi, con cũng đã đọc những cuốn này rồi.
Bữa cơm trưa có thịt bò nhờ mấy cuốn sách nặng ký, ông thầm nghĩ: bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt bò bỏ vào chén mẹ:
 – Thịt bò ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!...”

            Miếng thịt đó chắc đã làm anh nghẹn. Văn chương đổi thịt: “Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đã viết, đã dịch, đã bỏ công sức làm nên những cuốn sách!”
            Nỗi buồn đó chắc còn có vị cay!

Vị cay và chua chát ấy âm thầm, nhưng dai dẳng kéo dài theo chiếc thập giá đời anh. Hơn 10 năm trước anh bị cắt chân phải vì bệnh “tắc động mạch chi”. Tưởng sẽ yên thân với cái chân trái và cặp nạng nhưng dường như định mệnh chưa cho anh ngơi nghỉ và những ngày gần đây anh thường phải đến bệnh viện cấp cứu. Tình trạng ngộp thở, đau tức vùng ngực xảy ra  thường xuyên và mới đây các bác sĩ còn xác định anh bị suy tim độ III, có “kèm” thêm món quà viêm phế quản!

            Khi biết về đoạn đường đời của bạn, tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc trong đoản văn Thập giá phận người của anh:“Những năm sống chưa có tai ương nào đến với mình, tôi nhìn cuộc đời của những người xung quanh… mà băn khoăn có hay không định mệnh của một con người. Từ khi cầm bút, băn khoăn ấy vẫn không thôi hiện hữu trong tôi. Những truyện ngắn tôi viết phần nhiều là thể hiện băn khoăn ấy.” 

            Và có lẽ vì tai ương đến với anh dồn dập nên anh biết là mình không thể làm gì khác hơn là đón nhận. “…Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân.” Và dù có thế nào, mệt mỏi, đớn đau nhưng ngày nào còn sống anh sẽ còn cầm lấy bút, vui với mọi người, gia đình và bè bạn: “Tôi vẫn tạ ơn đời, tạ ơn Tha nhân…”  Đọc lướt qua, dễ tưởng đó là câu nói bi quan, nhưng ngẫm lại thì đó mới là sức mạnh tinh thần hiện hữu trong anh: đón nhận, nhưng không đầu hàng.  Niềm vui từ gia đình và bằng hữu chính là điểm tựa để anh sống và viết.

Tuy không phải là người theo đạo Phật nhưng những trang viết đầy tính nhân văn của Hội và các câu chuyện anh viết đều ảnh hưởng sâu sắc từ thuyết nhân quả, duyên nghiệp trong Phật giáo.
            Thử đọc trong tập truyện “Hạt Mầm Trót Vay” phần lớn các truyện viết đều các này hay cách khác, luôn có hàm ý để gieo vào lòng người cái chân lý có vay có trả, vừa như nhận định, vừa như nhắc nhở nhẹ nhàng là hãy sống tốt cùng nhau vì không ai thoát khỏi quy luật này. Người đọc dù có lơ đãng cũng dễ nhận ra, là trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không lối thoát vẫn tìm thấy một hạt mầm đang cố vươn lên mà sống.

“Mỗi con người tồn tại trong thế giới này, phải chăng là những hạt mầm, được định mệnh vay mượn từ hư vô, gieo ngẫu nhiên vào trần gian làm nên những số phận buồn đau, hạnh phúc...Rồi một sớm mai kia, bỏ lại sau lưng những hoan lạc, ưu phiền của cõi nhân sinh, trở về đâu đó trong vô cùng.''  (Truyện ngắn: “Số Phận”)

“Văn là người” và đọc những chuyện của anh cứ tưởng như đang ngồi nghe anh nhẩn nha kể chuyện, thỉnh thoảng điểm thêm những nụ cười rất hiền. Ai gặp anh một lần là không thể quên nụ cười ấy. Nó như một nụ hoa tình người nhú lên từ hoang tàn đổ nát, lòng nhân hậu làm lòng ta dịu đi  một lát trong thế giới bất toàn. Ai biết đón nhận, người ấy sẽ bình an. Vì trở lực lớn hơn ta gấp triệu lần.

Ta không thể thay đổi được thế giới, mà chỉ có thể thay đổi cách nhìn:
Anh nghĩ ngợi: Khi đã trót mang thân phận con người, ai cũng có một thập giá, thập giá nào cũng nặng như nhau, nhưng tùy vào thái độ tiếp nhận của người phải mang thập tự ấy, sẽ làm cho nó nhẹ bớt đi hay là nặng nề thêm…”(truyện ngắn “ Giáng sinh” )
  “…Mọi sự theo duyên mà đến, mọi sự theo duyên mà đi…”
“... Con ạ, Duyên- Nghiệp trùng trùng, chớ băn khoăn. Quá khứ thì đã qua…đừng vọng tưởng sinh phiền lụy. Con và vợ, con của con, chưa đủ duyên nên ly tán, khi đủ duyên ắt sẽ hợp.
(Truyện ngắn: “Duyên-Nghiệp”).
             
Với một nhân sinh quan như thế, Hội đã truyền được năng lượng bình an đến những người thân, giúp họ an lành, trong một tuyện ngắn viết như tự truyện:
 “…Thùy vuốt ve phần chân cụt của Thủ qua lớp băng, nói trong nước mắt:
- Ngày mai là Giáng sinh, anh đã không chết, mất một cái chân mà được sống cùng nhau, cùng các con… may mắn lắm rồi anh ạ!
Thủ ôm ngang lưng Thùy:
- Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!
Ngoài kia, tiếng còi xe cấp cứu vọng vào phòng, Thủ lại nghĩ và nhận ra rằng:
“Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân. Vâng, lâu nay anh đã sống chan hòa với tha nhân, từng đón nhận khổ đau và hạnh phúc từ cuộc nhân sinh… bằng tâm hồn của mình chứ không phải bằng đôi chân…” (truyện ngắn “ Giáng Sinh” )
 
Phần lớn những trang văn của Hội đều được viết nhẹ nhàng như kể lại những hoàn cảnh mà anh từng nghe, từng chứng kiến trong thời anh sống. Nguyên mẫu có thể là hình bóng của chính anh hay những người thân, có khi là hình ảnh tổng hợp của những người anh biết, dĩ nhiên những tên tuổi, cá tính và tính cách nhân vật bị hoán đổi, trộn lẫn, để khi đọc chính họ cũng không thể nhận ra mình, mà chỉ thấy… quen quen.

Với cách nhìn của một tâm hồn nhạy cảm, biết yêu vẻ đẹp của ngôn từ, anh cầm lấy bút và viết nên những câu chuyện mà nét chung là hiền lành, nhẹ nhàng, tinh tế. Không đao to búa lớn và bằng câu chữ mộc mạc, anh nhởn nha viết, chia sẻ kỷ niệm buồn vui về mảnh đất quê hương mà anh yêu mến. Giọng kể có lúc thiết tha nhưng cũng có khi chua chát, bất bình về thế sự nhưng không hằn học, dù bản thân đã từng là nạn nhân trực tiếp. Thâm trầm có lẽ là một thứ bản lĩnh mà Hội đã được rèn luyện qua sự từng trải và chiêm nghiệm bản thân.

Hội là người rất yêu văn chương và tôi tin là anh sẽ viết và viết mãi. Mỗi lần thấy bài của anh trên QV tôi thường nhớ đến câu nói của nhà thơ Pablo Neruda: “Với tôi, viết là hít thở. Tôi không thể sống mà không hít thở và tôi không thể sống mà không viết”. Đời đã gian truân, thế mà chừng 10 năm nay anh còn tự nguyện vác thêm cái thánh giá bằng bút để trải lòng và nói lên tâm trạng cùng những suy nghĩ của mình. Viết văn là một nghiệp dĩ, một chọn lựa chứ không bao giờ là một nghề để kiếm ăn, để mua danh, vì dù thế nào thì  vẫn tiếp tục sống chết với ngòi bút và đem tâm hồn mình để làm đẹp cho đời.
Từ khi gia nhập làng văn… tôi có biết và quen một số người mà thời trẻ họ có viết, rồi dừng. Bỏ mấy chục năm không viết. Thời đó dù họ cũng có chút tiếng tăm nhưng theo tôi thì có lẽ họ chưa phải là nhà văn đúng nghĩa. Đơn giản chỉ vì họ đã ném bút rồi chuyển hướng theo một mục đích khác và hoàn toàn quay lưng với văn chương.

Còn Trần Hữu Hội thì không! Anh yêu văn. Yêu cuộc sống. Và anh đã và đang trút hết vào những trang sách toàn bộ tinh lực của mình. Trong các câu chữ của anh, có lúc tôi như nghe thấy hơi thở phập phù của buồng phổi đang yếu dần, nghe thấy cả tiếng đập bồi hồi của con tim bệnh tật… chắc chắn là viết xong mỗi câu chuyện anh phải mệt mỏi như một vận động viên vừa chạy lên một ngọn núi cao.

            Nhưng tôi biết và mong anh không dừng lại. Sự sảng khoái và hạnh phúc có lẽ chỉ có của người cầm bút sau khi nhìn những câu chữ của mình hoàn thiện trên trang giấy chính là sức mạnh giúp anh đi tiếp. Châm một điếu thuốc, rít một hơi sảng khoái, nhìn khói bay và lòng lơ lửng lên mây. Thuốc lá có lẽ là điều anh nên tránh, nhưng oái ăm thay nó là chất xúc tác để cảm xúc thăng hoa.

Những tháng gần đây chúng tôi đều thấy sức khỏe Hội yếu dần… Thế nhưng anh vẫn giữ được sức viết, miệt mài và mê mải. Là con tằm tiếp tục nhả tơ. 
Tuy không có sức khỏe bạt sơn cử đỉnh, nhưng cây bút trong tay Trần Hữu Hội là phương tiện  để chiến đấu cho khát vọng Chân - Thiện - Mỹ . Trên mỗi câu chữ, mỗi trang văn của Hội đều ít nhiều đều gửi gắm một ước mơ là “Từ đây người biết yêu người” như trong một khúc hát của Văn Cao.
 

Trương Văn Dân
Sài gòn 9-4-2018




*
Mời tìm đọc:

                    Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện

Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

Amazon Mẫu Hệ

 

 

 

 

    

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 50)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 150)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con
Sunday, April 25, 20218:02 AM(View: 258)
Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được vỏn vẹn gần 21 năm. Từ 1954 tới 4/1975. Nhưng sách xuất bản là một con số không nhỏ. Trước năm 1954, văn học miền Nam vẫn hiện diện với nhiều cây bút nổi tiếng nhưng kể từ khi có cuộc di cư của đồng bào miền Bắc, cây trái mới nở rộ. Theo số liệu của Bộ Thông Tin công bố, dựa theo thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam vào tháng 9/1972 thì trung bình Việt Nam Cộng Hòa đã cấp giấy phép xuất bản cho khoảng ba ngàn đầu sách mỗi năm. Cộng chung trong gần 21 năm đã có khoảng từ 50 ngàn tới 60 ngàn đầu sách được xuất bản. Thêm vào đó có khoảng 200 ngàn đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in 3 ngàn cuốn thì tổng số sách in là 180 triệu. Đó là ước tính của tác giả Nguyễn văn Lục. Nhưng trong bài viết “Mấy Ý Nghĩ về Văn Nghệ Thực Dân Mới” đăng trên tuần báo Đại Đoàn Kết của Vũ Hạnh, nhà văn nằm vùng, thì từ năm 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam với số bản là 800 triệu bản. Sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn lại ước
Tuesday, April 20, 202112:01 PM(View: 281)
Không một quan hệ thân xác nào chỉ hoàn toàn là thân xác. Trong khi bạn giao tiếp tình dục với người khác, sờ mó, hôn, làm tình, không chỉ hai cơ thể có dịp cọ xát với nhau mà còn có những tiếp xúc đụng chạm khác nữa: xúc cảm, sự đau đớn, sự hòa tan, hạnh phúc, sự tưởng tượng, những mối quan hệ trở nên bền chặt hơn hoặc trở nên rạn vỡ hơn. Truyền thống của người Việt Nam, cũng như của nhiều tôn giáo, đối lập đời sống nhục cảm và đời sống tinh thần, một bên thấp hèn, một bên cao quý. Trẻ em từ khi sinh ra đến trước tuổi trưởng thành rất dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với tình dục, chẳng thế mà Nguyễn Viện đã ghi rõ dưới nhan đề bài thơ của anh “không dành cho trẻ em dưới 18 tuổi”. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học không ngớt ngạc nhiên phát hiện rằng đời sống của nhân loại đầy rẫy các yếu tố dục tính, tổ tiên chúng ta không hề ngượng ngùng khi đề cập đến sex trong văn hóa và nghệ thuật. Rõ ràng có một mối liên hệ mật thiết giữa tình dục và các huyền thoại và tôn giáo và những phẩm chất
Friday, April 16, 20217:34 AM(View: 407)
“Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.” Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại ti nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh Đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc. Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt: “Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên — vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở