DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,866,958

Phạm Tín An Ninh - Niềm tự hào và nỗi xót xa của những cựu sĩ quan xuất thân từ một quân trường danh tiếng

21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 1290)
Phạm Tín An Ninh - Niềm tự hào và nỗi xót xa của những cựu sĩ quan xuất thân từ một quân trường danh tiếng

Niềm tự hào và nỗi xót xa
của những cựu sĩ quan

xuất thân từ một quân trường danh tiếng

blank



Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Tôi không có vinh dự được xuất thân từ ngôi trường Võ Bị danh tiếng này, nhưng từng là một người lính, tôi vẫn luôn có niềm tự hào khi trong QLVNCH của chúng tôi đã có một quân trường nổi danh như thế. Ngôi trường đã đào tạo hầu hết những sĩ quan ưu tú, có những vị đã từng là cấp chỉ huy hay là bạn đồng đội mà tôi hằng kính mến, ngưỡng phục. Tôi đã từng nhìn vào họ như những tấm gương để học hỏi, noi theo. Bên cạnh sự can trường, thao lược, tôi còn đặc biệt cảm phục họ về cái tình đồng môn huynh đệ, thường được họ gọi là Tình Tự Võ Bị. Chính cái tình tự thiêng liêng này đã gây cho tôi bao điều xúc động khi chứng kiến trên chiến trường, trong những nhà tù Cộng sản, hoặc được nghe chính người trong cuộc kể lại câu chuyện của mình.

Tôi đã nhìn thấy bạn tôi, một anh Tiểu Đoàn Trưởng, tốt nghiệp Khóa 19 đau đớn như thế nào khi niên đệ Khóa 24, một Đại Đội Phó của anh, bị tử thương tại chiến trường Kontum vào mùa hè 1972. Lúc ấy, tôi có cảm giác anh vừa phải mất đi một đứa em ruột thịt trong gia đình hơn là một cấp chỉ huy mất đi một thuộc cấp. Một anh bạn khác cũng Khóa 19, khi biết tin đại đội của niên đệ Khóa 22 bị địch quân phục kích, đã trực tiếp điều quân tiếp ứng, tả xung hữu đột, xông pha dưới đạn bom để cứu “thằng em”, nhưng cuối cùng niên đệ thì vô sự mà niên trưởng thì bị trọng thương, và trong đau đớn anh vẫn cố nở một nụ cười mãn nguyện. Một anh Trung Đoàn Trưởng, Khóa 17, khi biết tin một Tiểu Đoàn Trưởng là niên đệ Khóa 19 tử thương mà không mang xác ra được, đã đích thân điều động một chi đoàn chiến xa có bộ binh tùng thiết, đạp lên đầu địch để rửa hận và đưa xác “thằng em” ra khỏi vùng chiến địa. Tôi đã chứng kiến một anh Trung Tá Khóa 16, Phi Đoàn Trưởng trực thăng, đích thân bay chiếc CNC đáp xuống bốc một niên đệ Khóa 20 bị trọng thương, trong lưới đạn phòng không của địch, sau khi trực thăng tản thương bị bắn hư, không thể nào xuống được. Tôi đã chứng kiến một Thiếu Tá Khóa 17, Phi Đoàn Trưởng Hỏa Long, đã liên tục lên vùng soi sáng, yểm trợ cho một niên đệ Khóa 19, khi tiểu đoàn bộ binh của anh bị một lực lượng địch quân, với quân số cấp trung đoàn, tấn công vây hãm suốt đêm, trên cao nguyên đầy ắp sương mù. Cá nhân tôi, một lần khi được tạm thay thế anh Đại Đội Trưởng Khóa 16 (vừa bị thương đang nằm trong QYV) để chỉ huy đại đội tham dự hành quân phối hợp với một Duyên Đoàn Hải Quân ở Ninh Thuận, đã được vị Trung úy Duyên Đoàn Trưởng gốc Khóa 16VB tận tình giúp đỡ và đối xử chí tình với bọn tôi, những sĩ quan bộ binh em út, chỉ vì anh cùng Khóa 16 với anh Đại Đội Trưởng của chúng tôi, dù khi ấy anh không có mặt. Một vị Trung uý TQLC trẻ tuổi, Khóa 16VB, đang làm Quận trưởng một quận lớn nhất của tỉnh Khánh Hòa, khi đơn vị tôi tạm dừng quân ở đây, đã chí tình với đám sĩ quan chúng tôi, mua tặng nem chua, mấy chai rượu ngon và đích thân lái xe chở bọn tôi rong chơi, chỉ vì anh đại đội trưởng của tôi cùng Khóa 16 với anh. Tôi đã chứng kiến một anh Khóa 17 VB được thượng cấp đề bạt lên chỉ huy một đơn vị cao hơn, nhưng anh dè dặt xin khước từ, chỉ vì biết nếu nhận chức vụ mới này, dưới quyền mình sẽ có một vị niên trưởng Khóa 16, mặc dù anh có cấp bậc cao hơn. Và cũng chính anh, khi thấy một niên đệ Khóa 20, dù không trực tiếp dưới quyền mình, bị vị Tư Lệnh Sư Đoàn phạt khá nặng, vì một cái lỗi vô tình, đã tìm mọi cách xin cho “thằng em” được giảm nhẹ hình phạt hầu không ảnh hưởng nhiều đến việc thăng tiến trong tương lai.

Và tôi còn nghe bạn bè kể lại rất nhiều trường hợp khác cảm động hơn về tình bạn cùng khóa, tình huynh đệ Võ Bị trong cuộc chiến hay trong các trại tù CS.

Chính những ký ức ấy, những hình ảnh vô cùng cao quý và đẹp đẽ ấy, đã làm lòng tôi nhói đau khi biết được có hai Đại Hội cùng tên 21 của những vị cựu sĩ quan cùng xuất thân từ mái trường danh tiếng này, mà tất cả các anh thường hãnh diện và âu yếm gọi là “Trường Mẹ”. Tôi tự hỏi, chẳng lẽ đây là một hiện tượng báo hiệu một tập thể bị chia làm hai, đưa tới hậu quả đau lòng khi trong hầu hết các khóa, có người ở bên này kẻ ở bên kia, ngay cả những huynh đệ từng sống chết một thời, giờ cũng mỗi người một phía. Điều làm tôi cảm thấy đau đớn hơn là trong số ấy có những cấp chỉ huy và bạn bè trong cùng đơn vị của tôi ngày trước, hay cùng một lớp, một trường thời chúng tôi còn đi học. Điều này còn kéo theo sự chia hai của tổ chức Phụ Nữ Lâm Viên và Tập thể Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu, bởi lẽ thường tình, vợ luôn theo chồng và con thì theo cha, về cùng một phía.

Tôi là kẻ ngoại cuộc, người đứng bên lề, nên không thể (và cũng không dám) nhận định đúng, sai, khi tất nhiên bên nào cũng nói lẽ phải ở về phía của mình. Tôi chỉ biết tôn trọng ý kiến và quyết định của mỗi người, như ngày xưa tôi từng luôn tôn trọng họ. Chỉ biết thành tâm chia sẻ nỗi ngậm ngùi khi có một số vị Võ Bị bậc thầy, lớn tuổi, trong tình thân thiết, đã buồn bã nói với tôi trong sự xót xa lẫn chút chán chường.

Tôi luôn an ủi mấy “ông thầy” và bảo rằng sự kiện này không làm chia rẽ được những con người đã từng sẵn sàng hy sinh xương máu cho quê hương, cho đồng bào và cho cả những đồng môn Võ Bị. Họ từng tự hào với phương châm “Tự Thắng Để Chỉ Huy” với phẩm cách “Đa Hiệu”, thì nhất định chuyện hôm nay cũng chỉ là một phản ứng, một biện pháp nhất thời để cùng tìm giải pháp kết thành một khối chặt chẽ yêu thương hơn trong mai sau.

Sáng nay, tôi có anh bạn học cũ ghé thăm. Ngày trước anh không chọn binh nghiệp. Anh thông minh và học giỏi hơn tôi nhiều nên trở thành một bác sĩ. Bên tách cà phê, hai thằng bàn về chuyện lịch sử, chiến tranh và cuối cùng vô tình dẫn đến chuyện của trường Võ Bị. Khi đề cập tới sự kiện Đại Hội 21, anh ưu tư tới việc chắc chắn tập thể này sẽ có hai Tổng Hội. Anh nói với tôi:

- Lịch sử dân tộc mình thật bất hạnh, bởi ngay từ truyền thuyết tổ tiên, Ông cha Lạc Long Quân nhận mình là rồng, nên đã dẫn 50 đứa con xuống biển, còn mẹ Âu Cơ là Tiên nên đã dắt 50 đứa con khác lên non, khởi đầu cho lịch sử chia hai. Tới thời Trịnh, Nguyễn phân tranh đã lấy sông Gianh phân chia Nam, Bắc. Sau này Hiệp định Genève lại dùng sông Bến Hải chia cắt hai bờ. Có lẽ tại vì cái huông này nên bây giờ tập thể Võ Bị, những người con ưu tú của miền Nam nước Việt, lại sang tận nước Mỹ này đào thêm một dòng Bến Hải giữa hai vùng Nam – Bắc Cali!

Tôi không đồng tình và phản bác tức thì:

– Dường như bạn đã giải thích lịch sử sai rồi. Bạn đưa truyền thuyết Tiên Rồng để so sánh với sự kiện này, nghe qua rất lý thú, nhưng xét ra có vẻ nghiêng về cảm tính hơn là ý nghĩa triết lý chính của huyền sử, mà tôi cũng vừa mới học được từ một ông Thầy dạy Triết, đã về hưu và hiện sinh hoạt chính trị ở San Jose. “Cha Rồng dẫn 50 con xuống biển không phải là một chia lìa hay dứt tình chồng vợ, mẹ con, trái lại chính là đi sâu vào lòng mẹ Tiên vốn thuộc hành Thủy của Âm được coi là Tổ Mẫu của vũ trụ. Cũng thế, mẹ Tiên dẫn 50 con lên núi không phải là chia lìa vợ chồng và cha con, mà chính là đi sâu vào lòng cha, vốn ở hành Kim thuộc Dương, được coi là Tổ Phụ của nhân loại. Như thế, lên núi xuống biển không phải là một chia lìa, mà chính là tìm cách hòa nhập vào nhau, trải rộng Âm Dương đến tận năm châu bốn bể.”

Với ý nghĩa ấy, tôi tin là chuyện Đại Hội 21 của Tập thể Võ Bị không phải là mục tiêu chia rẽ, mà chính là tạm chia hai nhánh để cùng tìm đường về lại một đỉnh Lâm Viên, nơi họ đã từng chinh phục và còn vang vọng mãi lời thề sắt son của thời trai trẻ. Chính vì vậy, trên các Trang Nhà của hai bên đều tô đậm cùng một câu khẩu hiệu giống y nhau“ Trường Võ Bị Là Một Tập Thể Bất Khả Phân” như để khẳng định một lời thề, như ngày xưa họ đã từng quỳ xuống, đưa tay lên thề trên Vũ Đình Trường Lê Lợi trong các buổi lễ ra trường.

Tôi tin tương họ nhất định sẽ làm như thế, cho dù hôm nay, mới xem qua câu “khẩu hiệu” ấy của cả hai bên, ta cảm giác có điều gì khập khiễng.

Cầu xin hồn thiêng sông núi, anh linh của những huynh đệ Võ Bị đã vị quốc vong thân hãy phù trợ những đồng môn của mình trên hành trình tìm lại những “Tình Tự Võ Bị” thiêng liêng.


Phạm Tín An Ninh
(một người lính Bộ Binh)
(từ: email)



Ý kiến: Tác giả PTAN lạc quan hơi tếu đó. Những lý tưởng tác giả ghi trong bài viết chỉ là những bóng mây một thời, nay đã hết. Kể cả các trường khác cũng vậy thôi. TH/AH/CSVSQ/TĐH/CTCT/ĐL cũng có những tay Thái Thượng Hoàng âm mưu tổ chức gian lận bầu cử, như bài ghi nhận dưới đây, thì xót xa làm gì.
VH

Đọc thêm:

TÂM THƯ TỔNG HỘI - ĐẠI HỘI BỊ TOÀN CẦU KỲ THỨ XXI

CHUYỆN TẬP THỂ BỊ

NHỮNG TÊN “JUDAS” TRONG TỔNG HỘI BỊ

                             *
                        
Mời tìm đọc:

                    Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                Click vào:

 https://www.amazon.com/Hon- Nam-Muoi-Lam-Vietnamese/dp/ 1986944972/ref=sr_1_1?ie=UTF8& qid=1524797088&sr=8-1& keywords=hon+nam+muoi+nam+tho

Amazon Sấp Ngửa

 Bạch hóa Thái thượng hoàng
trưởng tân truyện
Đạo và thằng gian
Ảo Vọng

(từ: Sấp Ngửa)

                                     Amazon Mẫu Hệ

 

 

 








Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười Hai 20187:27 CH(Xem: 78)
Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới. Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích. Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!” Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà,
06 Tháng Mười Hai 20186:42 CH(Xem: 176)
Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé qua Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả người là học trò của bà trước kia. Hôm ấy, khoảng tháng 9 năm 2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi thất vọng, buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của một ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực phi thường để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình. Sau cuộc gặp gỡ lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày. Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút.
03 Tháng Mười Hai 20189:59 CH(Xem: 154)
Du Tử Lê đến với thơ tình từ thập niên 60, và trở thành khuôn mặt tên tuổi nơi hải ngoại. Với Du Tử Lê, ngôn ngữ, tình yêu là lẽ sống mầu nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật. Với Hiến Chương Tình Yêu, thơ Du Tử Lê, "còn lời đường mật nào hay hơn, quyến rũ hơn"? được Nguyên Bích viết thành nhạc phẩm: "Khi em lạnh tôi biến thành ngọn lửa. Đốt yêu thương than nóng hực ân tình. Cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta. Khi em viết tôi biến thành giấy bút". Chàng Du Tử nòi tình nầy ru tình nhân qua Một đời Để Nhớ, nhạc của Song Ngọc "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời. Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai. Em đi để lại hồn thơ dại. Tôi vó câu buồn sâu sớm mai" Bên cạnh Song Ngọc, Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Chỉ Nhớ người Thôi Đủ hết Đời. Từ nơi xa xôi, Thái Tú Hạp ngỏ lời thăm hỏi qua Chiều Nhớ Hoàng Thành, Khúc Lan đem dòng thơ vào nét nhạc: "Em vẫn giữ bài thơ trong chiếc nón. Dù cho đời mưa nắng đuc Kim Luông. Mưa có buồn trên đôi bờ thương bạc. Em vẫn còn thắp lửa đợi
29 Tháng Mười Một 20186:59 CH(Xem: 451)
Tòa soạn nhận được email của một người ký tên là Hoàng Phương Nam, một cái tên lạ, chưa nghe trong giới Văn Học Nghệ Thuật, mà nội dung của email không phải là Thơ hay Văn, hay Phê Bình Văn Học. BBT định cho "qua phà" là xóa nó đi, nhưng khi đọc qua, chúng tôi thấy nội dung đề cập đến Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/Đà Lạt, và một số tên quen thuộc của cựu SVSQ NT1 cũng như Sĩ quan cơ hữu. Nội dung xoay quanh vấn đề những sinh hoạt của một cá nhân, có liên quan đến một số cựu SVSQ/CTCT/ĐL. Vì thế chúng tôi xin đăng email này để rộng đường dư luận, và cho có cái nhìn chung, đừng để những con sâu làm rầu nồi canh...Chúng tôi cũng mạn phép xin edit lại email để độc giả đọc sẽ dễ hiểu hơn, nhưng không thêm, bớt, hoặc sửa một câu, chữ nào. Câu, đoạn nào quan trọng, chúng tôi sẽ dùng chữ in đậm hoặc chữ nghiêng.
26 Tháng Mười Một 201811:48 SA(Xem: 175)
Tôi nghĩ, nếu ai kia bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng hoặc để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ; trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công. Bởi, nếu chúng ta cảm thông được tiếng thơ của một Chế Lan Viên qua “Điêu Tàn” – một khoảng trời thâm u, thê thảm, một huyệt mộ vùi sâu cơ đồ của cả một dân tộc – ai dám bảo Chế Lan Viên lánh xa sự thực phũ phàng để tìm về cõi mộng hầu thỏa mãn nhưng khát thèm êm ái, ve vuốt tâm hồn? Trái lại, Chế Lan Viên đã đau khổ gấp trăm ngàn lần cái đau khổ mà thường nhân phải gánh chịu, trong thực thể xã hội đương thời! Cũng vậy, Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái. Nhưng chính tại cõi trú thanh sắc nặng phần lãng mạn này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm chẳng những không giúp nhà thơ quên bớt dằn vặt, vò xé mà nó còn tạo thêm hoàn cảnh để