DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,822,469

Phan Ni Tấn - Một thời tưởng niệm đen

24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 714)
Phan Ni Tấn - Một thời tưởng niệm đen

Một thời tưởng niệm đen

 

Chúng tôi nhận được tin buồn nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh vừa qua đời tại quê nhà ngày 23/5/2018. Xin đăng lại một tùy bút của nhạc sĩ Phan Ni Tấn để tưởng niệm người nhạc sĩ tài hoa. (Sáng Tạo)



do_that_kinh
Nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh (1954-2018)



Năm 1979 là năm tệ hại nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ.
Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.

Lang bạt kỳ hồ như vậy mà cái máu văn nghệ văn gừng vẫn không ngừng chảy trong tâm hồn đang khô héo của chúng tôi. Rốt cuộc, qua ngón nghề kẻ nhạc tài tình của họ Đỗ, chúng tôi hình thành được một tập nhạc gần trăm ca khúc mang tên Lưu Đày & Cứu Rỗi, đúng với thân phận nổi trôi của họ Đỗ và họ Phan tôi. Đáng tiếc bây giờ thất bản không biết nó trôi giạt nơi đâu.

Được một thời gian ngắn, sự nghiệp bơ đậu phọng của chủ nhân lỗ vốn, bạn tôi cũng sụp đổ theo. Nhưng, như đã nói, anh bạn trẻ này có thần may mắn theo phò. Đúng lúc đó, anh Phạm Văn Hạng, điêu khắc gia nổi tiếng ở làng báo chi Thủ Đức tìm tới giao cho bạn tôi một công việc có chút dính líu tới nghệ thuật: kẻ mộ bia liệt sĩ ở tuốt trên Đồng Xoài. Một lần nữa tôi lại bám theo.

Nhớ ngày đầu tiên xe đò thả toán thợ năm người chúng tôi xuống tại ngã ba huyện Đồng Phú thì trời trưa trật, nắng đổ lửa. Đường vô Mộ Đất, nơi chúng tôi tới nhận việc không có lộ xe nên mọi người đều cuốc bộ khoảng 10 cây số đường chim bay. Càng đi về hướng rừng nhà dân hai bên đường càng thưa thớt, rừng càng bạt ngàn hơn, âm u, hẻo lánh hơn. Ngọn gió hiếm hoi giữa trưa nồng nã thỉnh thoảng nổi lên như một tiếng thở dài. Đường xa hực nắng, ai nấy đều lặng lẽ bước đi. Đi mãi.
Rồi đột nhiên tôi giựt mình khựng lại, như không còn tin vào mắt mình. Nằm ở cuối lối mòn nhỏ hẹp, cạnh vài cây cổ thụ xum xuê và cây dầu héo khô, mục nát là hàng trăm, có thể là hàng ngàn nấm mồ đất. Mênh mông, trùng điệp, gồ ghề, sạt lở, khô cằn, trơ trụi, nghiệt ngã, uất nghẹn. Mồ mả bạt ngàn, lô nhô hút tầm mắt. Đất đá, cỏ khô đen xạm. Tuyệt nhiên không còn gì khác ngoài mồ mả phơi mình giữa trời và đất.
“Nghĩa trang liệt sĩ Cách mạng” tại Đồng Xoài đấy.

Thì ra lâu rồi, thanh niên miền Bắc đã bị chủ nghĩa Cộng sản nhồi sọ, bị đẩy vào miền Nam chiến đấu và đã bỏ xác tại đây; ngót 14 năm trời họ vẫn nằm đó im lìm giữa một vùng mộ địa tù hãm, âm u. Đứng trước một quang cảnh thê lương, ảm đạm và tàn tạ như thế, dù tôi đã cố gắng nghĩ khác đi với sự xúc động và lòng thương xót những oan hồn đang vất vưởng dưới cõi âm kia, nhưng không hiểu sao tôi lại nhìn thấy địa ngục đang run rẩy bên dưới những gò đất đen sạm gồ lên nứt nẻ trông giống như những vết thương bầm dập, sưng tấy. Có thể vì lẽ đó mà dân chúng địa phương gọi địa danh này là Mộ Đất chăng.
Ban ngày ba người thợ kia đi làm rừng đốn cây, xẻ gỗ,; còn hai anh em tôi lo việc kẻ tên họ các liệt sĩ trên bia mộ. Đứng trước giàn mộ bia đúc bằng xi-măng cao quá đầu người, dựng san sát, trải dài ngút mắt mới thấy ngao ngán làm sao.
Chiếu theo danh sách tên tuổi liệt sĩ đánh máy trên xấp giấy pơ-luya, hai anh em tôi lặng lẽ bắt tay vào việc. Nhớ lại hồi đó lăn lộn giữa đám mồ hoang mả lạnh, bốn bề quạnh quẻ không một bóng người mà chẳng đứa nào biết sợ ma là gì. Hàng ngày cặm cụi làm việc, tối về ngủ trong căn nhà sàn của người Thượng nằm sâu trong một cánh rừng. Người Thượng ở đây gồm có các sắc tộc Jro, Stiêng, Mạ…, đa số sinh sống ở những vùng đồi núi thấp, nằm về phía Đông Nam thị xã Đồng Xoài. Người miền núi ở đâu cũng mộc mạc, giản dị, thuần lương, vui vẻ và tốt bụng.

Một buổi chiều đi làm về, toán thợ chúng tôi được một người đàn ông Jro ghé ngang vui vẻ tặng cho một miếng thịt heo rừng. Nguyên phần đùi nặng ký còn tươi rói, máu đỏ lựng, bự chảng. Lâu ngày không có dịp đụng tới thịt rừng nên ai nấy đều thèm thuồng, nao nức, xăng xái nhúm củi nướng thịt, mùi thơm bay cả một góc rừng.

Sống bụi ở đây dĩ nhiên chúng tôi giấu nhẹm thân thế của mình. Đêm đêm ngả lưng xuống sàn tre, tôi thường nhớ tới mặt trận Đồng Xoài.Tôi không biết chắc liệu những trận đánh khốc liệt của 15 năm trước đã từng xẩy ra ngay tại cụm rừng này, dưới chân tôi đứng hay không, nhưng ban ngày vô rừng tôi hay lớ ngớ tìm kiếm những vết tích của trận đánh, và dĩ nhiên tôi chẳng tìm được gì ở phía quốc gia ngoài những nấm mồ trùng trùng u uất của những người lính bên kia. Thời gian không để lại dấu vết. Thời gian xóa nhòa tất cả. Chỉ còn lại mặt đất và cụm rừng âm u chìm sâu trong tịch lặng.

Trước 1975, Đồng Xoài thuộc quận Đôn Luân, là một cứ điểm quan trọng của tỉnh Phước Long, nằm ở phía Bắc chiến khu D. Nói đến Đồng Xoài ta thường nhớ đến trận đánh Đồng Xoài năm 1965. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đây là một trận đánh lớn do Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) tấn công vào thành phần chính qui của QLVNCH. Trận Đồng Xoài là một thất bại nặng nê cho phía quân đội VNCH (gần 1 Tiểu Đoàn chống cự 2 Trung Đoàn chính qui Bắc Việt). Mặc dù địch quân bỏ xác tại chiến trường nhiều hơn, nhưng số thương vong của dân và quân miền Nam cũng không ít.

Bây giờ ngồi đây, tôi càng xa quê hương bao nhiêu thì trận đánh Đồng Xoài càng trở nên mơ hồ như một truyền thuyết. Nhưng câu chuyện của tôi hôm nay không phải là câu chuyện nhớ về trận đánh năm xưa ở Đồng Xoài với biết bao xương máu và nước mắt của những người đã hy sinh, mãi mãi vùi thây nơi tử địa, mà rưng rưng nhớ lại cái thời sống bụi của tôi và người bạn trẻ họ Đỗ ở Đồng Xoài sau ngày mất nước. Tính từ năm 1965 đến nay cũng ngót 51 năm rồi còn gì.

Giữa cuộc sống xô bồ, hỗn độn, trần ai, những vết tích ngày xưa hoàn toàn chìm khuất trong thăm thẳm thời gian. Ngày nay chỉ còn lại tiếng hát. Tiếng hát của mặt đất và rừng cây trong mưa nắng Đồng Xoài.


***


blank



Đỗ Thất Kinh tên thật là Đỗ Kinh Châu, quê ở Nam Định, Bắc Việt. Di cư vào Nam 1954, cùng gia đình sinh sống trên cao nguyên Ban Mê Thuột cho đến ngày nay. Đỗ Thất Kinh là một người đa tài: viết nhạc rất hay, soạn hòa âm rất tới, vẽ vời không thua ai, móc trémolo classical guitar hay hết chỗ nói.
Ngoài 5 tác phẩm thơ và nhạc đã tự xuất bản, còn có khoảng 100 ca khúc về Tình Yêu và Phận Người.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20188:03 SA(Xem: 24)
Trong clip thâu âm Nguyễn Quốc Chánh đọc thơ của mình, thực sự, ta có thể nghe những âm thanh của một thành phố: tiếng vù vù của những chiếc xe máy lướt trên đại lộ, tiếng còi sốt ruột của những chiếc taxi đang cố gắng luồn lách qua đoạn đường ùn tắc, một giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát vang lên giữa đám đông vừa kết tụ lại đồng thời vừa tản mát ra như một đám mây đơn lẻ. Đối với tôi, đấy chính là âm thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Độ rỗng của căn phòng nhiều tiếng vang nơi thâu âm bài thơ có thể được cảm nhận rất rõ ngay từ giữa dòng thơ thứ ba ở bài thơ đầu tiên trong tập thơ được xuất bản dưới hình thức samizdat của Chánh – Ê, Tao Đây (2005): “Sài Gòn bị thủng, cái xác chưa chôn, thủ đô lún mỗi ngày vài phân, chính trị cũng nên cổ phần… Ký sinh vào thuật giả kim là đám chữ ruồi bu… Bí mật quốc gia là những bữa tiệc trên vận may của hoa anh túc, làm người nghĩa là nhục, làm người Việt nghĩa là siêu nhục… Một người rao trên mạng: cần một đối tác tình dục có ý tưởng và hành vi
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 159)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 110)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 129)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 204)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…