DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,952,202

Vũ Thư Hiên - Trần Độ: Người của sự thật

Thursday, August 30, 20184:03 PM(View: 702)
Vũ Thư Hiên - Trần Độ: Người của sự thật

Trần Độ
Người của sự thật


blank
Trần Độ (Hình: Dân Làm Báo)



Tôi ra tù cuối năm 1976. Bận bịu với đủ thứ việc để kiếm sống, hai năm sau tôi mới có dịp gặp lại Trần Độ. Ra khỏi cuộc chiến, với tư cách phó chính uỷ kiêm phó bí thư quân uỷ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, nghe nói anh rất bận, nào tham gia viết quân sử, nào tổng kết kinh nghiệm chiến tranh…, tôi không có ý tìm anh. 
Nhưng rồi anh tìm tôi. Trong bữa rượu hàn huyên đạm bạc chỉ có ba người, ngoài hai chúng tôi còn có một chị cán bộ trẻ, phụ tá của anh. 
Trần Độ có biết tôi vừa ở tù ra. Anh nhìn tôi thương hại: 
– Chắc chú có làm gì sai thì Đảng mới bắt chú chứ. 
Tôi sững người. Vậy ra anh chẳng biết gì về cái gọi là vụ án “nhóm xét lại chống đảng” mà tôi bị đính vào. Tôi dùng chữ “dính vào” như cách người ta nói về một cái khuy áo, một vật chẳng mấy quan trọng cho cái áo, nhất là nó lại là cái khuy cuối cùng. Cái gọi là nhóm này không phải một đảng, , chẳng phải một tổ chức, thậm chí một nhóm thôi cũng chẳng phải nốt. Nhà cầm quyền bịa ra nó, cho một toan tính nào đấy, đặt cho nó cái tên chính thức rất kêu là “Nhóm tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”. 
Kỳ thật, một vụ án ầm ĩ như thế, nhiều cán bộ cao cấp bị khai trừ, bị bắt, bị bỏ tù, trong Đảng có báo cáo, rất nhiều người biết, mà Trần Độ lại không biết. Mà không phải mình anh không biết. Hơn chục năm sau (1988), khi tờ “Truyền thống Kháng chiến” của “Câu lạc bộ Những Người Kháng Chiến Cũ” ra đời ở Sài Gòn, tướng Trần Văn Trà kêu tôi tới nhà anh ở đường Nguyễn Thị Minh Khai (tên mới của đường Pasteur) để bàn chuyện tờ báo muốn tôi tham gia, tôi mới hiểu là cả tướng Trà cũng chẳng biết gì về vụ này. “Hồi đó tôi đang lo đường vận chuyển vũ khí trên biển – Trần Văn Trà nói – Có, tôi có nhận được một thông tin từ Ban tổ chức Trung ương. Thông tin sơ sài, thậm chí tôi không đọc kỹ. Chúng tôi đang bận tối tăm mặt mũi với đủ mọi khó khăn, chẳng ai để ý”.
 
Khiếp thật. Thì ra ngay ở trong Đảng người ta cũng chia ra nhiều cấp, nhiều đối tượng trong việc nhận hoặc không cần được nhận thông tin. Tôi dùng chữ Đảng viết hoa ở đây để chỉ cái đảng độc tôn, cho tiện, chứ không phải với ý khác. 
Tôi cười buồn, nói với Trần Độ: 
– Em có nói gì bây giờ anh cũng sẽ nghĩ là em thanh minh. Tốt hơn hết là ta cạn với nhau chén rượu này, kèm một giao ước: “Anh sẽ xem xét sự việc bằng con mắt của mình, suy xét bằng cái đầu của mình, để rồi có kết luận”. Em chờ câu trả lời của anh trong bữa rượu sau. Anh hứa nhá? 
Anh gật đầu, cạn chén. 
Trần Độ hơn tôi đúng 10 tuổi. Tôi coi mình là đứa em của anh, không dám lắm lời. 
Rồi gần một năm sau mới có bữa rượu thứ hai. 
– Em lắng nghe câu trả lời của anh đây – tôi nói. 
Anh lắc đầu, thở dài: 
– Một lũ chó má! Không thể ngờ. 
Và văng một câu chửi tục, lần đầu tiên tôi nghe thấy từ miệng anh. 
Trần Độ sau đó nhận nhiều chức vụ mới: làm Trưởng ban Văn hoá-Văn nghệ của Đảng, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, rồi Phó Chủ tịch Quốc Hội. Đã tưởng anh sẽ còn được giao phó nhiều chức trách quan trọng hơn nữa, nhưng rồi tôi được nghe những tiếng xì xào về chuyện anh đi chệch đường lối, anh có những việc làm không phải (xúi giục tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “cởi trói” cho văn nghệ sĩ, tháo gỡ việc ngăn sông cấm chợ, toa rập với Nguyên Ngọc đưa ra bản “Đề dẫn” về văn nghệ sặc mùi chống Đảng vv…). 
Văn Cao là người rất chăm chú theo dõi thời cuộc, nói với tôi: “Trần Độ thẳng quá, hỏng! Cao Biền dậy non, phí”! 
Tôi đồng ý với Văn Cao. 
Trần Độ được phong trung tướng cùng lúc với Lê Đức Anh, nhân vật sau này làm mưa làm gió trong chính trựờng. Nếu biết xuôi dòng anh rất có thể sẽ lên cao nữa trong hệ thống quyền lực. 
Không ai có thể can ngăn Trần Độ. Anh không phải là nhà chính trị biết lui tới, biết náu mình chờ thời. Anh hành xử thẳng thắn, một mực đấu tranh cho chân lý. Những phát biểu của anh lúc này lúc khác, chỗ này chỗ nọ, làm chối tai những người cầm quyền. 
Mà có phải anh chỉ phê bình sơ sơ chế độ toàn trị đâu. Từ chỗ nhỏ nhẹ, anh dần dần nói trắng ra ý muốn thay thế nó bằng chế độ dân chủ, tam quyền phân lập… Người ta theo dõi anh từng bước, nên những lời nói của anh, dù trong chỗ thân tình, đều được thu thập, báo cáo lên “trên”. 
Những bài viết của anh, không được đăng báo, nhưng được chuyền tay rộng rãi. Chúng làm cho nhà cầm quyền điên ruột. Anh nhanh chóng trở thành “tên phản động”. Thời thế đã khác – người ta không thể bỏ tù anh tức khắc. Người ta chỉ có thể dùng đủ mọi cách hạ uy tín của anh. 
Còn nhớ năm 1997 tôi ở thành phố Strassbourg, chung nhà với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Một hôm, Trần Độ gửi cho tôi bài viết mới của anh, bảo tôi xem lại trước khi công bố. Tôi đưa anh Thiện cùng đọc. Thiện đọc, nói anh không thể hài lòng một số câu chữ trong đó. Khi nói chuyện điện thoại với Trần Độ, tôi đưa ống nói cho Thiện, bảo nhà thơ cứ nói thẳng ý kiến của mình. Thiện bỗ bã: “Không hiểu sao anh vẫn còn có thể dùng những từ “giải phóng”, “Mỹ-nguỵ” trong bài viết, người đọc ở hải ngoại sẽ khó chịu lắm đấy, không hay chút nào”. Anh Độ cười hề hề: “Chết chửa, mình lỡ viết theo thói quen, cậu nhận xét đúng, sửa lại hộ mình nhá”. 
Chuyện Trần Độ bị khai trừ Đảng năm 1999 thì ai cũng đã biết. Đảng cộng sản vốn không thích vạch áo cho người xem lưng cũng đã kiên nhẫn với Trần Độ lắm rồi, nhịn Trần Độ nhiều lắm rồi. Lẽ ra người ta phải khai trừ anh từ lâu. 
Một lần khác, năm 2001, trong một cuộc trò chuyện điện thoại với Trần Độ khi tôi đang ở Frankfurt am Main (CHLB Đức), có mặt một chú em rất hâm mộ bác Độ. Chú này đòi được nói với bác Độ của chú vài câu: “Bác ơi, cái đảng của bác kỳ quá, ai lại chống tham nhũng mà lại chống từ cấp cơ sở? Quét nhà thì người ta phải quét từ tầng trên xuống tầng dưới chứ! Ai lại ngược đời quét từ dưới lên trên?”. Anh Độ cười lớn: ”Hay, chú nói rất hay. Chú chỉ nói sai một chút thôi: cái đảng ấy không phải của tôi. Nó là của lũ vừa ngu vừa rồ. Này, chú tên gì nhỉ?”, “Dạ, cháu tên Cóc, Nguyễn Văn Cóc. Dễ nhớ lắm, bác ạ. Ở Đức này chỉ có mình cháu có cái tên xấu xí ấy thôi”. Anh Độ lại cười to: “Xấu gì mà xấu, cậu ông Giời phán đúng lắm, cái đảng ấy toàn làm lộn ngược thôi!”. 
Anh nói anh bị đảng của anh khai trừ là may. Như thế, anh được rũ khỏi trách nhiệm, anh tránh được “vũng bùn mà cái đảng ấy đang đằm mình một cách sáng tạo”. 
Khai trừ anh đảng cộng sản thêm một lần phô trương cái hẹp hòi của mình, không chịu nghe bất kỳ lời nói ngược nào. Hành hạ anh cho tới khi chết, cấm người đi đưa tang không được dùng chữ “Vô cùng thương tiếc”, đảng cộng sản lại càng cho thiên hạ thấy nó tiểu nhân tới mức nào trong sự hằn thù. 
Đảng của anh khai trừ anh. Bù lại anh được nhân dân đón vào lòng. Anh bị nhà cầm quyền căm ghét. Bù lại anh được tình yêu thương của đồng bào. Anh được rất nhiều, mà không mất gì, nói cách khác, cái người ta quen cho là mất chẳng đáng cái quái gì với anh. 
Khi lâm bệnh, anh không dùng thuốc của nhà nước cấp – anh không tin thứ thuốc từ những người không tử tế. Anh chỉ dùng thuốc đồng bào gửi cho anh. Có hai người rất sốt sắng lo cho anh có thuốc dùng là Tưởng Năng Tiến và Đinh Quang Anh Thái. Khi anh qua đời những bọc thuốc cuối cùng vẫn còn ở trên đường đến địa chỉ của anh. Trần Độ không bao giờ quên nhắn tôi gửi lời cảm ơn hai người bạn thiết anh không biết mặt. 
Được tin anh mất, tôi không khóc nổi. Nước mắt chảy ngược vào tim. Tôi cảm được rằng mất mát này lớn hơn rất nhiều mất mát cho riêng tôi, đứa em yêu mến và kính trọng anh. Mất mát này là của cả dân tộc đang nhọc nhằn, vất vả đi tìm quyền sống, quyền làm người. 
Trong bức thư cuối cùng Trần Độ gửi cho tôi trước khi mất, anh dặn: 
“Giai đoạn chuẩn bị cho sự chuyển đổi chế độ có thể kéo dài. Việc hàng ngày của ta, không được quên, là nâng cao dân trí. Dân trí được nâng cao bao nhiêu thì sự chuyển đổi sẽ thuận lợi bấy nhiêu. Thời cơ đến, việc mới thành. Chuẩn bị tốt thì thành tốt”. 
Thời cơ mà ta chờ đợi sẽ đến, bao giờ cũng bất ngờ, nhưng là quy luật. Như nó đã từng xảy ra cùng với sự kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai đã đưa lại nền độc lập cho các nước thuộc địa. Như nó đã đến với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. 
Nó sẽ đến, như Trần Độ mong ước. 
Ở thế giới bên kia anh sẽ được mỉm cười sung sướng.


                                                           Vũ Thư Hiên
                                                                                                                                                         (từ: DĐTK)

                Nhớ lại lễ tang ông Trần Độ

                                                        

Đọc bài viết Có một đám tang… rất buồn của Trần Thắng, con trai tướng Trần Độ mà anh Vũ Thư Hiên đưa lại trên Facebook, tôi xúc động nhớ lại quang cảnh đám tang 15 năm trước mà tôi là người may mắn được chứng kiến. Đám tang lịch sử này tổ chức vào buổi sáng ngày 14-8-2002 tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Trần Độ là một người tôi kính trọng, đã từng được gặp ông mấy lần ở nhà anh Văn Tâm. Ông phải chịu nhiều nỗi oan khiên, những tội danh vô lối đổ lên đầu mà anh em trí thức đều biết cả – như chuyện người ta vu cho ông đến lúc vào bệnh viện rồi vẫn còn… “mê gái”, những kiểu bày đặt không thể nói hết sự tưởng tượng quái gở. Nhưng thuở ấy chưa hề có những công cụ như Facebook để đổi trao, tâm sự, nên cứ phải ngậm thinh rỉ tai thầm với nhau chứ có cách nào cãi lại được báo chí đâu. Bởi thế không ai mách ai mà đám tang ông đông lạ thường. Có lẽ người ta đều nghĩ đây chính là dịp để chính mình được đến giãi bày chút lòng son với linh hồn người vừa nằm xuống.

Có ngờ đâu, đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn thấy quyền uy cộng sản hiện ra chát chúa, ở một nơi vốn ra phải nhường bước cho sự trầm mặc của cuộc sống tâm linh. Tôi đi cùng với anh Phan Đình Diệu. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi vòng hoa tang của hai chúng tôi đang định vượt qua cổng vòm ngoài đường Trần Thánh Tông để vào sân nhà tang lễ bỗng bị ngăn lại bất thình lình, và bị giật dải băng đen có mấy chữ Vô cùng thương tiếc tướng quân Trần Độ để thay bằng mấy chữ Kính viếng ông Trần Độ. Đang đứng ngơ ngẩn vì chưa hiểu được vì sao lại có một sự trắng trợn vượt quá hình dung của mình như thế thì một vòng hoa sang trọng hơn lù lù tiến vào và cũng bị giật giải băng để cắt cụt đi đúng mấy chữ như của chúng tôi, còn vứt luôn cả hai mảnh nhựa hoa văn thếp nhũ vàng trang trí hai bên xuống đất. Đó là vòng hoa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Biết ngay có lệnh trên ban xuống, tình thế nghiêm trọng rồi, hai chúng tôi đành chịu bất lực theo dòng người mà đi.

Khi lễ viếng đến chỗ đọc điếu văn, nghe ông Vũ Mão xướng lên những câu phê phán chói tai, cả phòng tang gần 2000 con người bỗng im phăng phắc, người nào cũng cảm thấy nghẹt thở, tưởng như có một cái gì sắp vỡ bùng. Bức bối vì không ai chuẩn bị trước cho mình tâm lý đến đây để dự nghe một cuộc… kiểm thảo. Thế rồi con trai vị tướng, cũng là một sĩ quan, bước lên đáp lễ, rút tờ giấy ra đọc những lời viết sẵn, giọng đọc đều đều vô cảm, làm mọi người càng dồn nén thêm. Gần cuối, đột nhiên thấy anh ngẩng đầu lên, nhìn xuống phía người dự lễ và nói một câu dõng dạc: “Thay mặt gia đình, chúng tôi không chấp nhận lời điếu tang của Quốc hội vừa rồi”. Ôi chao! Trái bom đã nổ! Hàng tràng pháo tay vang lên ngay lập tức, lần đầu tiên thấy ở một đám tang. Tôi nhìn sang bên, rất nhiều khuôn mặt ràn rụa nước mắt, trong khi tay vẫn vỗ không ngừng.

Từ một phía ở góc phải phòng, một tiếng nói rất to phát ra, nghe rất dõng dạc, của một người đã trèo lên chiếc ghế: “Như thế này thì còn nhân nghĩa nào nữa! Nhân nghĩa ngàn đời của đất nước Việt Nam còn đâu!”. Người nói nhắc lại đến hai lần cùng một câu, lần sau nghe vang hơn lần trước. Cả phòng tang lễ như chùng xuống rồi vỡ òa, tiếng xôn xao khắp từ đầu đến cuối. Rồi một người khác, cũng trèo lên ghế, mặc áo quân nhân, huân chương đeo đỏ ngực từ trên xuống dưới: “Tôi là người theo trận mạc với Anh Trần Độ trong bao nhiêu năm, sáng nay chính mình tự tay khâm liệm cho Anh. Thế mà dám có những lời xỉ vả Anh như thế à? Vũ Mão đâu rồi? Khi chúng tôi ở trong quân ngũ thì hắn còn trẻ ranh, đi học ở Nam Ninh…”. Tôi thoạt liếc lên phía góc trái quan tài, chỗ dành cho Ban tổ chức, kịp nhìn thấy một cái bóng com-lê rảo chân nhanh ra lối cửa ngách. Cả đám tang đông nghẹt bấy giờ trở nên nhộn nhạo vì đã đến giờ đi quanh linh cữu. Đám an ninh thường phục cũng đảo qua đảo lại rộn rịp hơn. Dòng người nối đuôi nhau không dứt, sau đó lần lượt kéo ra khỏi phòng.

Tôi vẫn theo dõi người mặc áo quân nhân vừa lên tiếng lúc nãy. Dáng người vậm vạp, ông ta đi dần ra cửa, xung quanh có nhiều người vây lấy, mặt nở một nụ cười đôn hậu, giọng vẫn oang oang: “Nói thế nhưng đụng vào nó làm gì, cái đồ trẻ ranh ấy…”. Và ông tiếp tục cười khà khà. Tôi cũng đi sau ông. Chợt nhìn thấy phía trước mình bước chân thủng thẳng của ông Hoàng Minh Chính. Tôi ngẩng lên: đúng là ông. Ông đang lặng lẽ đi trước tôi. Chúng tôi né sang bên nhường cho linh cữu đi lên trước và vô tình theo nhau ra đến ngoài sân, tạt dần về phía những hàng ghế dưới bóng cây. Tự nhiên tôi nhìn rõ ra cái người đã trèo lên ghế lên tiếng đầu tiên đang đứng ở đấy. Ông ta cũng trạc tuổi ông Hoàng Minh Chính và cũng gầy gầy như thế. Thoạt trông thấy nhau, hai ông có vẻ như ngờ ngợ. Rồi chỉ một phút thì họ cùng kêu lên: “Có phải Chính không?” “Đúng mình Chính đây”. “Tôi là Hà đây mà. Hoàng Hữu Hà, Thường vụ Thành ủy lúc đón anh đi đánh sân bay Gia Lâm trở về”. Thế là họ cầm lấy tay và rồi chậm chạp ôm lấy nhau… Để nén một cái gì đấy, tôi rảo bước thật nhanh.

Lúc ra đến tận cổng sát ngoài đường tôi mới gặp lại Phan Đình Diệu. Cả hai cùng lên một chiếc taxi vì về chung một hướng. Trên xe, Diệu mỉm cười, một chốc ngoảnh sang nói với tôi bằng giọng kim quen thuộc của anh: “Quyền uy lần đầu va phải một cú, cũng ra dáng đấy. Một cú ở ngay chính nơi làm nên cái oai phong cho nó”.


27-8-2018

Nguyễn Huệ Chi
(từ: VV)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 24)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 43)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 57)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 144)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 157)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)