DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,864,301

Vĩnh Quyền - Trần Vàng Sao: Tiếng khóc lớn trong thơ Việt

25 Tháng Chín 201812:35 CH(Xem: 290)
Vĩnh Quyền - Trần Vàng Sao: Tiếng khóc lớn trong thơ Việt

Trần Vàng Sao Nguyễn Đính:
Tiếng khóc lớn trong thơ Việt

 

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, kính mắt, kính râm và cận cảnh



1.

Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường trung học Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha. Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam, và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của thầy gây chấn động văn đàn: bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu… (Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí). Một lần, thầy nói với học trò hôm nay giỗ đầu Trần Quang Long người bạn thiết, và hào sảng đọc thơ anh. Là lần đầu tôi tiếp xúc bài Thưa mẹ, trái tim. Lần khác, thầy khuyên chúng tôi tìm đọc bài Bài thơ của một người yêu nước mình. Cũng là lần đầu tôi biết đến Trần Vàng Sao.

2.
Sau 1975, một mùa đông về nhà dọn tủ sách ướt lụt Huế, nhặt được xấp giấy manh chép Bài thơ của một người yêu nước mình từ bảy, tám năm trước. Ngồi bệt xuống sàn ẩm và ngai ngái mùi bùn non sông Hương, dỡ từng tờ dính bết vào nhau gợn sóng lăn tăn, tôi đọc trong ánh chiều nhá nhem ngày cắt điện, chợt nhận ra một Trần Vàng Sao cách tân. Nảy ý muốn gặp tác giả uống chén rượu chơi, rồi dừng lại ở đó. Nhưng từ đó tôi lắng nghe chuyện đời anh mỗi khi có dịp, những chuyện sau này thành giai thoại. Năm 1983, tôi gặp Trần Vàng Sao. [Dẫn đường là nhà báo Nguyễn Trung Dân, cũng là người chủ trương xuất bản tập trường ca Gọi tìm xác đồng đội (2012) với vai trò giám đốc chi nhánh phía Nam của NXB Hội Nhà Văn, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một nhà xuất bản trong nước xuất bản tác phẩm của Trần Vàng Sao]. Từ đó, những lần về Huế tôi đến thăm anh, huyên thuyên chuyện đời chuyện văn bên ly rượu, buồn có vui có. Lúc ấy cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, thỉnh thoảng anh bảo tôi “hết giấy, mi kiếm cho tau một ít, loại dùng rồi còn một mặt cũng được”. Anh không nói ra nhưng tôi biết anh cần giấy làm thơ, viết hồi ký. Rất nhiều người, thân cũng như sơ, trong câu chuyện hay trong bài viết liên quan đến anh, thường mô tả anh luôn tỏ vẻ sợ hãi, như biểu hiện của một thứ hội chứng nào đó. Riêng tôi, tôi không nghĩ vậy, dù gần như thường xuyên nghe anh lo lắng “rứa can chi không bây hè” mỗi khi động đến chuyện viết lách in ấn của bản thân. Nói như vậy tôi hoàn toàn không có ý cho rằng anh không thực. Mà theo tôi đó là hình thức phản vệ, thậm chí là trò giễu. Bởi đơn giản, tôi đọc thơ anh khá nhiều, đủ để nghiệm rằng, thơ anh là một tiếng khóc lớn, nhưng nhất định là tiếng khóc của một kẻ uy vũ bất năng khuất: bây giờ cho tới cuối đời/ thì tôi vẫn cứ như tôi thế này (Lục bát). Aristotle nói thơ thật hơn lịch sử, tôi xin phép nhại triết gia: thơ thật hơn nhà thơ.

3.
35 năm trước, tôi đọc ra Trần Vàng Sao là một nhà thơ cách tân. Năm ngoái, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến xuất bản công trình nghiên cứu 1100 trang, Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975-2015, ghi nhận Trần Vàng Sao là 1 trong số 69 nhà thơ cách tân trong 40 năm qua. Theo tôi, trường hợp Trần Vàng Sao, anh đã làm thơ cách tân từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước. Gần như đời thơ Trần Vàng Sao chỉ theo đuổi một đề tài: Đất nước và Tôi. Nhưng Đất nước trong thơ anh không theo dòng sử thi trầm hùng bi tráng quen thuộc của thơ ca Việt, mà thật và gần như “manh áo rách của mẹ”, “tiếng chó sủa đầu ngõ”, “cơn mưa tối tăm mặt mũi”, “những bông mía trắng gió thổi ven sông”… Tôi trong thơ Trần Vàng Sao là cái tôi cá nhân một Nguyễn Đính yêu mẹ, yêu đất nước mình, cũng là Nguyễn Đính chính danh bi kịch một đời lên bờ xuống ruộng: tôi ký tên tôi/ nguyễn đính/ thơ tôi là đời tôi là tôi đây…/ hãy lấy thơ tôi đắp mặt cho tôi… (Sự tích tôi làm hề). Đó là chỉ dấu đầu tiên của thơ cách tân. Lại cũng là cái tôi hóa nhập người khác, như người mất trí, như thằng hề, hoặc một lúc cả hai – thằng hề mất trí: Tôi đeo mặt nạ vẽ tôi là hề/ Rồi thổi kèn nhảy múa một mình tôi…/ Khán giả vỗ tay la ó/ Tôi cười thật to…/ Tôi xin cất mặt nạ ra cúi chào mọi người thân mật/ Không có ai ở trong và ở ngoài sân khấu này/ Đêm có mùi cỏ khô và rơm ướt… (Khoảng trống ngoài sân khấu). Đặc sắc nhất vẫn là cái tôi tài hoa chân thật nghệ thuật trong bài Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình. Ở tuổi đỉnh cao của đời một đàn ông, Nguyễn Đính – Trần Vàng Sao nói gì về mình? Ai chưa đọc hãy tìm đọc. Ai đọc rồi nên đọc lại. Đọc để biết đau đớn, đọc để còn hy vọng… Thơ Trần Vàng Sao vẫn có nhạc tính của ngữ điệu tự nhiên nhưng thường không vần, trúc trắc, gập ghềnh, dài ngắn tùy hứng, chỉ cốt thể hiện trạng thái cảm xúc: Tôi thèm một miếng mỡ/ Miếng mỡ to và dày nằm trong một thứ nước đặc đóng váng/ Miếng mỡ ở trong miệng tôi/ Tôi cắn/ Miếng mỡ kêu bụp đứt ngang/ Nước chảy giữa hai hàm răng/ Tôi nuốt/ Miếng mỡ trôi qua cuống họng/ Tôi mất đà/ Gió thổi chao ngọn đèn… (Bây giờ tôi trông mỗi ngày có gạo ăn). Những lát cắt, những mảnh ghép thi ảnh đa chiều, thường rơi vào cuối đoạn, mở ra những liên tưởng thật bất ngờ và xao động. Ngôn ngữ ngày thường chảy thấu vào mạch thơ Trần Vàng Sao tự nhiên như lời nói cuộc đời thô mộc ngoài kia mà sao đọc chảy nước mắt: con tôi là Phan Văn Tốt/ cấp bực trung sĩ/ vào Nam năm 1968/ chết đâu ở Quảng Trị/ có ai biết xác con tôi chôn ở đâu không/ chỉ cho với/ tôi chỉ có một thằng con/ tôi không còn ai hết/ tôi là Phan Văn Sáu/ 72 tuổi/ ăn mày ở thị xã Phú Thọ… (Gọi tìm đồng đội). Và tôi muốn nói thêm về một chỉ dấu của thơ cách tân: làm mới vốn văn học truyền khẩu dân gian. Trước hết thử nghe “bà Huế” chưởi mất gà: tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp/ cái quân vô hậu kế đợi đã ăn hết của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng/ bay ăn chi mà ăn ác nhơn ác nghiệp, ăn một lần một chục rưỡi con gà/ bay ăn cho chồng bay sợ, cho con bay kinh/ bay ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết để một mình bay ngồi đó mà ăn… để thấy Trần Vàng Sao tỏ ra xứng đáng là “hậu duệ”: Kêu trời không thấu/ tau phải câm miệng hến/ không được nói/ không được la hét/ nghĩ có tức không/ tau chưởi/ tau phải chưởi/ tau chưởi bây/ tau chưởi thẳng vào mặt bây/ không bóng không gió/ không chó không mèo/ mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước/ giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây/ đặng nghe tau chưởi… Mong nhà thơ sớm được trả lại thứ đã bị đánh cắp.

4.
Nhưng anh đã vĩnh viễn ra đi ngày 9 tháng 5 năm 2018.


                                                              Vĩnh Quyền
                                                                   
(từ: VV)



                                   *
                                                             Mời tìm đọc:

                            Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa
                                                                                                 Click vào:






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười Hai 20187:27 CH(Xem: 1)
Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới. Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích. Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!” Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà,
06 Tháng Mười Hai 20186:42 CH(Xem: 116)
Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé qua Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả người là học trò của bà trước kia. Hôm ấy, khoảng tháng 9 năm 2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi thất vọng, buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của một ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực phi thường để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình. Sau cuộc gặp gỡ lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày. Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút.
03 Tháng Mười Hai 20189:59 CH(Xem: 121)
Du Tử Lê đến với thơ tình từ thập niên 60, và trở thành khuôn mặt tên tuổi nơi hải ngoại. Với Du Tử Lê, ngôn ngữ, tình yêu là lẽ sống mầu nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật. Với Hiến Chương Tình Yêu, thơ Du Tử Lê, "còn lời đường mật nào hay hơn, quyến rũ hơn"? được Nguyên Bích viết thành nhạc phẩm: "Khi em lạnh tôi biến thành ngọn lửa. Đốt yêu thương than nóng hực ân tình. Cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta. Khi em viết tôi biến thành giấy bút". Chàng Du Tử nòi tình nầy ru tình nhân qua Một đời Để Nhớ, nhạc của Song Ngọc "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời. Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai. Em đi để lại hồn thơ dại. Tôi vó câu buồn sâu sớm mai" Bên cạnh Song Ngọc, Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Chỉ Nhớ người Thôi Đủ hết Đời. Từ nơi xa xôi, Thái Tú Hạp ngỏ lời thăm hỏi qua Chiều Nhớ Hoàng Thành, Khúc Lan đem dòng thơ vào nét nhạc: "Em vẫn giữ bài thơ trong chiếc nón. Dù cho đời mưa nắng đuc Kim Luông. Mưa có buồn trên đôi bờ thương bạc. Em vẫn còn thắp lửa đợi
29 Tháng Mười Một 20186:59 CH(Xem: 380)
Tòa soạn nhận được email của một người ký tên là Hoàng Phương Nam, một cái tên lạ, chưa nghe trong giới Văn Học Nghệ Thuật, mà nội dung của email không phải là Thơ hay Văn, hay Phê Bình Văn Học. BBT định cho "qua phà" là xóa nó đi, nhưng khi đọc qua, chúng tôi thấy nội dung đề cập đến Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/Đà Lạt, và một số tên quen thuộc của cựu SVSQ NT1 cũng như Sĩ quan cơ hữu. Nội dung xoay quanh vấn đề những sinh hoạt của một cá nhân, có liên quan đến một số cựu SVSQ/CTCT/ĐL. Vì thế chúng tôi xin đăng email này để rộng đường dư luận, và cho có cái nhìn chung, đừng để những con sâu làm rầu nồi canh...Chúng tôi cũng mạn phép xin edit lại email để độc giả đọc sẽ dễ hiểu hơn, nhưng không thêm, bớt, hoặc sửa một câu, chữ nào. Câu, đoạn nào quan trọng, chúng tôi sẽ dùng chữ in đậm hoặc chữ nghiêng.
26 Tháng Mười Một 201811:48 SA(Xem: 149)
Tôi nghĩ, nếu ai kia bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng hoặc để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ; trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công. Bởi, nếu chúng ta cảm thông được tiếng thơ của một Chế Lan Viên qua “Điêu Tàn” – một khoảng trời thâm u, thê thảm, một huyệt mộ vùi sâu cơ đồ của cả một dân tộc – ai dám bảo Chế Lan Viên lánh xa sự thực phũ phàng để tìm về cõi mộng hầu thỏa mãn nhưng khát thèm êm ái, ve vuốt tâm hồn? Trái lại, Chế Lan Viên đã đau khổ gấp trăm ngàn lần cái đau khổ mà thường nhân phải gánh chịu, trong thực thể xã hội đương thời! Cũng vậy, Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái. Nhưng chính tại cõi trú thanh sắc nặng phần lãng mạn này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm chẳng những không giúp nhà thơ quên bớt dằn vặt, vò xé mà nó còn tạo thêm hoàn cảnh để