DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,463,217

Bà Trần Hoài Thư nói về nhà văn Trần Hoài Thư - Nói với cô bé ngồi quán, thơ Thành Tôn

Saturday, October 29, 201112:00 AM(View: 37915)
Bà Trần Hoài Thư nói về nhà văn Trần Hoài Thư - Nói với cô bé ngồi quán, thơ Thành Tôn

Bạn Văn Nghệ xin được đăng lại bài của tạp chí Sóng Văn (1997) , phỏng vấn bà Nguyễn Ngọc Yến, phu nhân nhà văn Trần Hoài Thư, về Trần Hoài Thư, bài trích từ trang mạng Vuông Chiếu Luân Hoán.


Xin chân thành cảm ơn!

BVN


Bà Nguyn Ngc Yến nói về

Nhà văn Trn Hoài Thư


 

 

 

tran_hoai_thu1

 

 

SV: Trong cơ duyên nào bà đã đến với người bạn đời của mình ? Và trong chiều dài thăng trầm của cuộc sống, bà có thể giới thiệu một kỷ niệm buồn, vui.

Nguyễn Ngọc Yến (NNY): Cũng vì yêu mến văn chương, nên duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau.(nhà văn Nguyễn Lệ Uyên là ông mai). Chúng tôi có những kỷ niệm đầy vui buồn theo vận mệnh thăng trầm của đất nước. Nhưng kỷ niệm tôi mang theo đến lúc tàn sinh là những ngày bồng con đi xin ăn ở một làng hẻo lánh bên bờ Thái Lan, sau những ngày đói khát, lênh đênh trên biển cả.

SV: Nhiều người thường quan niệm rằng: các ông bà tác giả, dù sinh hoạt ở bộ môn nghệ thuật nào, cũng thường có tính lơ là đối với những công việc gia đình. Theo bà, nhận xét này đúng được bao nhiêu phần trăm ? Và riêng ông nhà thì sao ?

 

NNY: Đối với anh Thư, đi làm việc về hầu như “đóng đinh” trước computer, gõ ‘lóc cóc”, ít khi để ý đến công việc gia đình. Nhưng tôi thấy việc nhà là trách nhiệm của một người vợ, nên không có gì phiền hà trong lòng cả.

 

SV: Ngoài những môn sở trường, xin cho biết ông nhà còn thích hoạt động giải trí thêm với những bộ môn nào khác?

NNY: Nhà tôi chỉ có một đam mê duy nhất là viết, coi như là cái nghiệp rồi.

 

SV: Xin cho biết một ít thói quen của ông nhà trong lúc sáng tác?

 

NNY: Lúc nào viết cũng có ly cà phê và điếu thuốc để trước mặt, anh nói: có hút thuốc thì nguồn cảm hứng mới dồi dào. Tôi rất sợ mùi thuốc lá, nhưng đành chịu chớ biết sao giờ.

 

SV: Bà đã từng có những đóng góp vào công việc sáng tác của ông nhà ?

 

NNY: Tôi không hề đóng góp hoặc có ý kiến gì về việc sáng tác của nhà tôi. Ngay cả những truyện tình đầy nhân vật nữ cũng là chuyện tự nhiên của nhà văn.

 

SV: Bà có những nhận xét tổng quát nào về toàn bộ tác phẩm của ông nhà đã được giới thiệu rộng rãi trong quần chúng ?


NNY: Vào tháng 12 năm 1995, anh Thư có xuất bản tập truyện Ra Biển Gọi Thầm lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng lo lắng. Nhưng chỉ ra mắt một lần ở New Jersey, vài tháng sau thì hoàn toàn tiêu thụ hết. Độc giả khắp nơi ủng hộ hết mình, thành thử cũng an ủi lắm. Nhiều độc giả còn gửi thư về tỏ ý mến mộ Trần Hoài Thư. Một trong những lá thư của độc giả mà tôi rất thích, (anh Lê Sang), xin được chép ra đây:

 

“... Anh Thư, tuy xa mà gần

thấy thì gần nhưng vẫn còn quá xa

tuy rất lạ

nhưng dường như quen

tuy mình chẳng hề biết nhau

nhưng đã biết anh như lâu lắm rồi

tuy chẳng hề biết mặt anh

nghe tên anh, thì nghe quen thuộc

tuy cùng chiến tuyến, nhưng không cùng một hỏa tuyến

...”

 

tran_hoai_thu_2

Vợ chồng Trần Hoài Thư và con trai Trần Quý Thoại


SV: Xuyên qua việc phát hành, phổ biến các tác phẩm nghệ thuật của ông nhà, bà có những nhận định gì về tình hình sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay tại hải ngoại?

 

NNY: Tôi xin được phép miễn trả lời câu hỏi này.

 

SV: Cá nhân bà đã và đang sinh hoạt trong lãnh vực nào ? Những sinh hoạt đó có gây trở ngại hoặc hổ tương trong việc sáng tác của ông nhà?

 

NNY: Hiện nay việc làm của tôi thuần về kinh tế, nên không có trở ngại đến việc viết của nhà tôi. Những trở ngại nếu có, là đến từ phía bên ngoài, vì đôi khi viết “chùa” mà cũng gặp nhiều phiền hà lắm. Bởi viết cho báo này có thể bị báo khác “đập”.

 

SV: Nếu có thể được, xin bà vắn tắt cho đôi dòng tiểu sử của ông, những tác phẩm của ông ấy, và đôi dòng về cá nhân bà, đại khái quê quán, hoài bảo...

NNY: Nhà tôi tên thật Trần Quí Sách. Bút hiệu khởi sinh từ cái tên này. Anh sinh ngày 06-12-1942, tại Đà Lạt. Bắt đầu viết từ 1960. Cựu sĩ quan thám kích. Nghề tay phải hiện là chuyên viện điện toán (Cao học toán Hoa Kỳ)

Đã xuất bản:

Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (1968)

Những Vì Sao Vĩnh Biệt (1970)

Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (1971)

Một Nơi Nào Để Nhớ (1974)

Ra Biển Gọi Thầm (1995)

Sợi Tóc Nhớ Nhung (1996).

 

Trừ Sợi Tóc Nhớ Nhung là tập thơ, tất cả là truyện ngắn.

Còn tôi, Nguyễn Ngọc Yến, sinh tại Cần Thơ. Trước 1975, nguyên là chủ sự phòng thống kê viện Đại Học Cần Thơ (giáo sư Nguyễn Duy Xuân, viện trưởng, đã chết trong trại tù miền Bắc. Tôi bồng con vượt biên sau chồng một năm, đến trại tị nạn Song Kha Thái Lan. Đoàn tụ cùng chồng, 1980. Hiện đang kéo cày trả nợ tại một hãng điện tử thuộc tiểu bang New Jersey. Ước muốn duy nhất: Việt Nam được tự do như xưa, để được trở về sống trên mảnh đất quê hương.

Xin chân thành cảm ơn tập san Sóng Văn và gởi lời thăm hỏi tốt đẹp đến tất cả bạn đọc.

 

Nguyễn Ngọc Yến

(Sóng Văn, số 6, Xuân 97, tháng 1&2-1997)

 

ghi chú:

ảnh 1: Ông Bà Trần Hoài Thư cắt bánh mừng tạp chí TQBT bước qua năm thứ 11.

ảnh 2: Trần Hoài Thư tốt nghiệp Master in Applied Math, năm 1995tại NJ - người con trai, Trần Quý Thoại đã tốt nghiệp bác sĩ.

 

Trần Hoài Thư

 

Viết văn làm thơ. Tên thật Trần Quý Sách, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1942 tại Đà Lạt. Theo học tại Quốc học Huế, đaị học Huế, đại học Sài Gòn. Giáo sư Toán trường trung học công lập Trần Cao Vân Tam Kỳ từ 1964-1966. Nhập ngủ khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Giải thưởng sinh viên sĩ quan báo chí xuất sắc của khoá. Ra trường phục vụ trên 3 năm tại đại đội 405 thám kích / Sư Đoàn 22 BB thuộc vùng 2 Chiến thuật. Ba năm cuối, trước khi rã ngủ làm phóng viên chiến trường vùng IV. Hai lần bị thương: Lần thứ nhất, Tết Mậu Thân, khi tham dự giải cứu Qui Nhơn, Lần thứ hai, 1969, khi tấn công lên đồi Kỳ Sơn Bình Định. Bốn năm 'cải tạo' dưới chính thể Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Vượt biển. Năm 1980 định cư tại Hoa Kỳ. Đi học lại, tốt nghiệp Cao Học Toán. Trở thành chuyên viên điện toán cho công ty điện thoại AT&T và IBM. Hiện nay đã hưu trí. Khởi viết năm 1964 trên các báo: Bách Khoa, Văn, Bộ Binh, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức, Đời, Trình Bày, Thời Tập...Tại hải ngoại có bài trên NhânVăn, Hồn Việt, Dân Quyền, Độc Lập, Lửa Việt, Phụ Nữ Diễn Đàn, Sóng,Văn Học, Quê Mẹ, Đời Mới, Sóng Văn, Văn, Chủ trương đặc san Thư Quán Bản Thảo, nhà xuất bản Thư Ấn Quán từ năm 2001 đến nay (2011) tự in và tự phát hành theo phương pháp Book-On-Demand tác phẩm của mình và của nhiều văn thi hữu, trong và ngoài nước, trên cả trăm đầu sách. Chủ trương Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam với Bộ Văn Miền Nam gồm 4 tập tổng cọng 2300 trang và Thơ Miền Nam gồm 5 tập tổng cọng trên 3000 trang…..

 

Tác phẩm đã xuất bản :

Trước 1975:

 

Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (tập truyện,Ý Thức,1968),Những Vì Sao Vĩnh Biệt (tập truyện, Ý Thức,1970), Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (tập truyện,Tiếng Việt,1971), Một Nơi Nào Để Nhớ (tùy bút, Con Đuông, 1974)

 

Sau 1975:

Ra Biển Gọi Thầm (tập truyện,1995)

Ban Mê Thuộc Ngày Đầu Ngày Cuối (tập truyện,1997)

Về Hướng Mặt Trời Lặn (tập truyện,1998)

Thơ Trần Hoài Thư (thơ,1998)

Mặc Niệm Chiến Tranh (tập truyện)

Thủ Đức Gọi Ta Về (hồi ức, tái bản lần thứ tư)

Đại Đội cũ và Trang sách cũ (hồi ức)

Đánh Giặc ở Bình Định (hồi ức)

Đêm Rừng Tràm (tập truyện)

Thế Hệ chiến tranh (tập truyện)

Hành Trình của Một Cổ Trắng (truyện vừa, tái bản)

Ở Một Nơi trên Trường Sơn (tập truyện)

Qua Sông Mùa Mận chín (thơ)

Quán (thơ)

Ô Cửa (thơ tuyển toàn tập, tái bản nhiều lần)

Xa Xứ (thơ, 2010)

Truyện từ Bách Khoa (2011)



Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn



tton


Trn Hoài Thư

 

 

 

 

 

 

Nói với cô bé ngồi quán

 
Tặng các bạn hội quán: Đán, Lâm, Danh


Vào đây, ghế quạnh, khuya người
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng
Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng

Hồn ta trải gió đầy sân
Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao
Vào đây bàn nhẵn, câu chào
Quen như thân thể, lạ nào chén ly

Đời nhau, khói thuốc quên đi
Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân
Trên kia dáng bé tần ngần
Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao

Vào đây đèn đủ hanh hao
Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui
Cúi đời trên chén ly, khuya
Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng

Ngồi thầm, góc quán mông lung
Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai
Vào đây nhạc đĩa đầy vai
Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen

Mòn hao sợi tóc trăm năm
Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau
Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn

Vào đây như một đức tin
Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào
Miệng cười kín nụ lao đao
Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai

Trách gì ý lỡ, lời sai
Cho nhau góc quán đêm dài dung thân
Thôi em trả đó tình gần
Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu ?

Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu
Tình như cổ tích đời sau kể thầm.



Bài thơ là một chứng minh về sự không ngừng tìm tòi, sáng tạo của người thơ, đặc biệt nhà thơ trẻ, trong việc canh tân giòng thơ lục bát, không phải hôm nay, mà hôm qua, không phải bây giờ, mà cách đây gần 50 năm.

Sự canh tân cho thơ là một việc làm chung. Không phải cái ngôi vị được dành riêng cho một cá nhân nào.

Đây là một tác giả điển hình. Ngoài tác giả này, còn có biết bao tác giả khác. Âm thầm. Bỏ cuộc. Tử trận, Tội tù. Và quên lãng. Việc sưu tập vì vậy rất khó khăn.

Riêng cá nhân chúng tôi, qua những tháng miệt mài sưu tập, với cả ngàn bài lục bát, với hơn 600 trang đánh máy để cân nhắc từng giòng, từng chữ, và với những niềm vui vô tận trên những trang thơ ngỡ chừng đã mất, có nhận định rằng, bài thơ trên là một trong số bài lục bát mới diệu kỳ nhất, lạ nhất của một thời, và chưa chắc, mọi thời.


Thứ nhất là loại thơ tân hình thức. Nó là một bài thơ có nhiều dấu chấm, phết, ngắt câu nhiều nhất.

Trước năm 1975, một số tác giả đã cố mang hình thức mới cho khổ thơ 6-8 bằng những dấu ngắt một cách chủ ý.

Những dấu ngắt đoạn này có tác dụng khiến người đọc thơ ngừng, hay tiếp tục đọc. Trên hành trình thưởng ngọan, người đọc như chiếc xe. Một ụ mô: Xe dừng lại. Đường thẳng băng, xe cũng nổ máy reo vui. Không cần biết nơi nào bắt đầu, hay nơi nào là điểm cuối. Tác giả đã sắp sẵn trên lộ trình rồi.

Ví dụ:

Tháng dư. Buốt nẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục, nửa băng đá cồn

(Ngoại ô, Cung Trầm Tưởng)

Một dấu chấm làm ngăn nhịp 2 và nhịp 4 của câu đầu. Và sau chữ đằng không có dấu chấm.

Tại sao.

Tôi nghĩ là tác giả có chủ ý. Có thể ông không cần dùng dấu chấm (.). Nhưng mà, khi đọc lên, ý thơ sẽ hoàn toàn đổi khác:

Hay qua hai câu sau của Du Tử Lê, với (….) và dấu hỏi ?

(người từ thế giới bên kia)
thấy tôi không ? đã hồn khuya tượng què

(Du Tử Lê- bài lục bát sau tám năm cho người về)

Hay dấu chấm trong một đọan thơ của Đoàn văn Khánh:

Hai tấm ngắn. Bốn tấm dài
Lầm lì tôi đóng quan tài cho tôi

(Đoàn văn Khánh – Hóa Kiếp tôi)

Tuy nhiên, trong 227 nhà thơ được tôi tìm tòi sưu tập ấy, chỉ có vài tác giả có thơ với dấu chấm phết hiện diện, như một chủ ý, qua một vài ba câu thưa thớt chứ không hầu như toàn bộ như bài thơ của Thành Tôn mà chúng tôi vừa giới thiệu.

Với toàn bài 34 câu, có đến 27 câu có dấu chấm hoặc phết, ngắt câu. Kỹ thuật này dĩ nhiên đòi hỏi nhà thơ có một nội lực thâm hậu.

Thứ hai: Mang kỹ thuật Đường Thi vào áp dụng trong lục bát:

Mang câu 8 chẻ làm đôi, và tạo nên con đường rầy song song, chữ đối chữ… đó là một nét đặc trưng của thơ lục bát Cung Trầm Tưởng. Một số nhà phê bình đã ca ngợi ông như là nhà thơ có công trong việc canh tân thơ lục bát. Ví dụ:

Ngày lăn bóng quá lưng đèo
cây hoen lá thắm, xóm nghèo quán không
cồn trơ biếc núi ngồi trông
sương giăng xóm ngủ, mù buông lũng chiều

thuyền nằm, bến cũng xiêu xiêu
con sông tới giấc mắc triều lên nhanh
hồn tôi cái đĩa thâu thanh
tròn nguyên nét nhạc, trung thành ý ca

đồ rê mi pha xon la…

(Chiều – Cung Trầm Tưởng)

Trong bài thơ của Thành Tôn, chúng ta thấy tác giả đã xữ dụng rất nhiều về kỹ thuật đối chữ này.

Ví dụ:

Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
….

Quen như thân thể, lạ nào chén ly
….

Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng
….

Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai

Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen
….

Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
…..

Đặc biệt câu cuối, chúng ta thấy, ngoài việc đối chữ, tác giả còn đối cả dấu chấm, phết.

Không còn chia câu 8 thành hai, mà thành bốn !

Chúng tôi cố gắng tìm kỹ thuật này trong suốt 227 nhà thơ miền Nam mà chúng tôi sưu tập, nhưng không thấy.

Thư ba: Dùng chữ nghĩa rất ấn tượng

Chúng ta đã từng biết nhà thơ Viên Linh được nổi tiếng nhờ những vần lục bát rất ấn tượng của ông.

mối sầu mai phục thân tôi
đi chưa nửa cuộc bỗng rời tứ chi
nghe trong máu chảy rầm rì
xương vi vu rỗng lọt thì truy hoan

(Viên Linh: Về thăm nhà ở Chí Hòa)

Thì với thơ Thành Tôn, ngay hai câu đầu đã gây nên một ấn tượng rất đậm:

Vào đây, ghế quạnh, khuya người
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
….

Vào đây nhạc đĩa đầy vai

Dùng chữ vai để tả về một bộ phận trong máy hát thời xưa chuyên vận hành những dĩa hát , thì quả không còn sự ví von, so sánh nào bằng !

Hay dùng chữ sân để ví với lòng mình:

Hồn ta trải gió đầy sân
Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao

Thứ tư: Biến những chữ vô sinh thành ra những từ rất sinh động.

Ví dụ hai chữ "thu nao" nếu không có Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao, thì chắc không có một ý nghĩa gì hết. Hay nếu dùng thì có vẻ cải lương.

Trái lại “thu nao” trong câu thơ là một lối sử dụng chữ rất tài hoa. Đọc lên, êm tai. Đọc lại, đọc lại, đọc lại thấy càng thấm. Và lòng chùng xuống, mùa thu… mây.. mây mùa thu thì bàng bạc, lòng ta cũng bàng bạc vậy thôi….

Ngay cả hai chữ "Thắp Tình", nhan đề tập thơ mà ông đã bỏ công sức, cố học nghề thợ sắp chữ – để tự tay hoàn thành tác phẩm của mình vào năm 1969 thì cũng đã "lạ lùng" rồi.

Rõ ràng, thơ Thành Tôn đã vượt thời gian và không gian, đi rất xa thời của ông, và là một kiện tướng trong việc canh tân thơ lục bát.

Chúng ta xúyt xoa ngưỡng mộ nhà thơ Tô Thùy Yên vì ông dùng hai chữ rất lạ: "Thắp Tạ" cho tựa đề tập thơ mới nhất của ông ở hải ngoại. Tại sao chúng ta lại không để tấm lòng đến một người lính trẻ ở vùng hai khắc nghiệt, đêm ngày đối diện với chập chùng tai ách, đã nghĩ đến hai tiếng cũng rất lạ không kém: "Thắp Tình" cách đây hơn 40 năm?



Mồng 4 Tết, 2010

Trần Hoài Thư


trích từ Thơ Đến Từ Cõi Nhiễu Nhương, tập phê bình nhận định thi ca Miền Nam, qua những bài viết trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo (Hoa Kỳ): Đặng Tiến, Nguyễn Lệ Uyên, Khuất Đẩu, Trần văn Nam, Lê văn Trung, Luân Hoán, Nguyễn Liệu, Phong Nhã (Trần Phong Giao), Nguyễn Vy Khanh, Trần Doản Nho, Đỗ Hồng Ngọc, Phạm văn Nhàn, Nguyễn Khôi, Trần Hoài Thư

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, March 1, 20218:01 AM(View: 36)
Thi sĩ Lê Văn Trung! Anh là hình ảnh của một tình yêu đỉnh trời rực lửa, của dòng sông cuộn trào khát vọng tri âm, của người muôn đời lung linh mộng-thực. Sóng vẫn vang trong chiều u tịch, sóng gục đầu nghiêng vách đá hoàng hôn, sóng vỗ mãi vào bờ tim gập ghềnh
Tuesday, February 23, 20219:37 AM(View: 95)
Trong thời gian từ hơn mười năm nay, Tủ sách Tiếng Quê Hương của nhà văn nhà báo UyênThao phụ trách đã phát hành rất nhiếu tác phẩm giá trị của các tác giả trong và ngoài nước. Nỗ lực này nhằm góp một tiếng nói của người viết văn nêu lên thực trạng xã hội
Saturday, February 20, 20217:16 AM(View: 253)
Nghe tin Nguyễn Lương Vỵ mất ngày 17-2-2021, tôi thật bàng hoàng. Dù biết Vỵ mổ tim đã gần ba năm, một cuộc mổ tim lâu lắc đến hai lần, lần đầu 8 tiếng đồng hồ, chưa thành công,
Wednesday, February 17, 20219:20 AM(View: 196)
Thi sĩ Đoàn Vị Thượng vừa bước lên chuyến xe chạy về thiên cổ sau thời gian chống chọi với bệnh tật ngặt nghèo. Dẫu biết không sớm thì muộn người thi sĩ ấy cũng sẽ vĩnh viễn rời bỏ cõi nhân sinh này,
Sunday, February 14, 20218:43 AM(View: 167)
Trước năm 1975, hằng năm tạp chí Văn thường có một số phát hành vào mùa xuân mang tựa đề “Đầu Xuân Lộc Mới”. Trong ý hướng ấy, chúng tôi mượn cụm từ này và tranh bìa từ tập san Văn số 125 ngày 1-3-1969 cho Thư Quán Bản Thảo số 91 để giới thiệu một lộc quí hiếm trong sinh hoạt văn học ngoài nước