DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,744,074

Lơ mơ Ngọ - Lê Văn Thiện

31 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 6392)
Lơ mơ Ngọ - Lê Văn Thiện
Đọc Lê Văn Thiện Trước 1975


le_van_thien


le_van_thien



Nguyễn Lệ Uyên



Lê Văn Thiện sinh ngày 10 tháng 5 năm 1947 tại thị trấn Giã, Khánh Hòa trong một gia đình nông dân nghèo. Sau khi cha chết vì làm lụng cực nhọc, Thiện phải bỏ học lúc mới xong chương trình trung học đệ nhất cấp tại trường Trung học Võ Tánh, Nha Trang, vào lính vì không biết một nghề nào để làm lụng đỡ đần mẹ già và em gái. Anh có thời gian 2 năm phục vụ tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 47, SĐ 22 Bộ binh, đóng tại Phú yên. Sau khi tốt nghiệp trường SQ trừ bị Thủ Đức, Thiện được thuyên chuyển về Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, tham gia các trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường miền Tây Nam bộ và Campuchia.

 

Truyện ngắn đầu tay, Ngoại lệ, đăng trên Văn số 47 lúc mới 18 tuổi, ra ngày 1.12.1965 dưới tên Văn Lệ Thiên. Sau đó truyện của ông đăng đều đặn trên Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức...

Đến nay Lê Văn Thiện có 5 tác phẩm được phát hành, đều là truyện ngắn: Một cách buồn phiền, Sao không như ngày xưa, Chuyện đời, Mưa lạ, Quế.

Những năm đóng quân ở Phú Yên, qua giới thiệu của anh Trần Phong Giao, tôi đã tìm đến đơn vị Thiện hành quân giải tỏa thị xã Tuy Hòa sau tết Mậu Thân (đang đóng quân tại Liên Trì, Tx. Tuy Hòa). Chúng tôi nói chuyện gia đình, văn chương, chiến tranh bắt đầu “leo dốc”... Sau đó, thỉnh thoảng Thiện ghé nhà thăm tôi mỗi khi có dịp và rồi thân nhau lúc nào không hay, như anh em, kéo dài mãi tận ngày nay. Chỉ tiếc mối tình một bên của Thiện với cô em gái không thành, đã để lại mối bận tâm, khắc khoải không ít trong lòng, nên có lúc Thiện đã thầm trách tôi vô tâm, không đưa lời vun xới?!.

 

Ngoài đời, Thiện không nhiều lời, ba hoa. Trong chốn trường văn trận bút cũng thế, chữ nghĩa luôn chừng mực, chừng mực đến độ cô lại như nấu cao. Và như thế, cũng có thể gọi văn chương và cuộc đời Thiện là một?

 

Đời và văn của Thiện vẫn là những cảnh đời khốn khổ, bất trắc thường xuyên xảy ra trước mắt. Biết đấy, thấy đấy, nhưng không với tới được, không thoát ra khỏi. Nó cứ quấn lấy, ôm chặt từ lúc còn cắp sách tới trường cho đến những ngày hành quân liên miên, những cái chết, những trận đánh lón nhỏ và, sau này khi mãn tù trở về, là những nhác cuốc trên rẫy sắn bạc màu, chỉ thấy toàn cát trắng và đá cuội, đến mức Thiện đã chống cuốc ngậm ngùi nhìn đất, nhìn trời, nhìn những củ sắn như bộ râu ông Quan Công mà không biết “kêu ai”(*)! Cuối cùng đánh liều “ngậm ngải tìm trầm” trên vùng núi Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai... 2 năm đi “điệu” cùng với muỗi mòng, rắn rết, sốt rét rừng... cũng chẳng hề làm thay đổi cuộc sống của gia đình lên chút nào. Vẫn cứ nghèo “rớt mồng tơi”, đổi lại Thiện giàu vô cùng giàu chữ nghĩa, tích lũy thêm vốn sống, vốn dĩ đầy dẫy những nhọc nhằn, không phải chỉ riêng anh, mà còn cả những người dân sống quanh anh, một đời lam lũ...

 

Truyện ngắn Lê Văn Thiện có thể tạm chia hai thời kỳ rõ rệt: những truyện viết trong thời chiến tranh và truyện viết thời im tiếng súng.

 

Hai tập: Một cách buồn phiềnSao không như ngày xưa, một do Văn và một do nxb Côi Sơn ấn hành đều trước năm 1975. Và những truyện ngắn ấy có thể nói đã khắc họa tiêu biểu cho bộ mặt chiến tranh VN cùng với những Ngô Thế Vinh, Y Uyên, Trang Châu, Thế Uyên, Phan Nhật Nam, Nguyễn Bắc Sơn... Tuy mỗi người mỗi vẻ, cách chọn đề tài và viết với phong cach khác nhau, nhưng có nét chung: Họ đều là thế hệ trẻ lên đường cầm súng để bảo vệ nền tự do cho phần đất còn lại luôn bị dòm ngó, xâu xé từ những cường quốc lắm súng đạn và thừa tiền bạc, như một trò chơi. Và những người trai trẻ bắt buộc phải lên đường, nhập cuộc trong cuộc chiến tương tàn, bẩn thỉu, đầy dẫy hệ lụy...

 

Mỗi nhà văn trong thời kỳ này, khắc họa chiến tranh theo cái nhìn khách quan nhất, đơn giản bởi họ là những người trong cuộc, trực tiếp sống chết với nó để nhìn thấy quá nhiều cảnh bi thương, hiểu đến tận cùng về thân phận con người, về đất nước nghèo khốn bị dày xéo tàn khốc: Anh chỉ có quyền bước tới mà không có quyền được bày tỏ ý kiến. Chỉ hành động theo lệnh mà không có quyền chọn lựa... Kết quả: tan nhà nát cửa, chết chóc, chia ly, hận thù chồng chất!

 

Chiến tranh thời đó (và thời nào cũng vậy), không do người dân nghèo dựng lên mà do lũ người “rửng mỡ” sắp đặt. Và Thiện phải cầm súng như bao thanh niên khác. Suốt tuổi thanh xuân, Thiện sống trong đạn bom, cái chết đủ kiểu cho nên anh không thể viết theo phong cách Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng và những nhà văn “máy lạnh” khác. Cõi văn chương của Thiện là lằn ranh giữa sống và chết, là tiếng súng bắn tỉa, những đợt hành quân, những trận tấn công, giải vây, tháo chạy, cảnh lộn xộn, nhếch nhác nơi miền quê nghèo... Cho nên mỗi khi đọc truyện Thiện điều đập vào mắt, trí não tôi, trước tiên không phải là nội dung mà là những dấu phảy, dấu chấm, chấm phảy, ba chấm, hai chấm... Cứ một chữ có dấu phảy, hai chữ buông dấu chấm. Chỉ một đoạn văn ngắn thôi đã kín đặc các dấu câu, khiến tôi phải tự đặt câu hỏi: Phải chăng nhà văn bị ám ảnh bởi những loạt đạn dài ngắn, bỡi cuộc đời “lên bờ xuống ruộng” của mình, của những người dân nghèo, bởi cảnh sống “chụp giựt” nơi phố phường và cảnh đời khốn khổ nơi miền quê Thiện sống, mà có lần vui miệng kêu : “...bằng lòng sống trong cái ao làng này” và thêm, rõ hơn trong một bài viết ngắn về Trần Hoài Thư: “Ở đây, tôi làm nông, gắn bó với ruộng đồng, ổn định. Tôi không than van, oán trách (Oán trách ai đây, trời chăng?). Than thở vô ích, nó chỉ làm suy nhược con người. Điều quan trọng (và kỳ quặc): tôi luôn nghĩ mình may mắn. Còn sống sau 7 năm đi đánh nhau, 33 năm vật lộn với áo cơm là may mắn... Tôi nằm trong cái ao làng. Tôi ngao du, ca hát, bơi lội thỏa thích ở đó. Đúng hên”.

 

Có lẽ “hên” do không chết thảm ngoài chiến trường, trong nhà tù và may mắn hơn là chưa chết khi phải vật lộn suốt từng ấy năm trời trên mảnh đất khô cằn, nghèo khó! Thiện không chết và chưa chết. Nhưng quanh anh, những người bạn, những chiến hữu của anh, bà con, đồng bào anh thì ngã vật ra chỉ sau một loạt đạn từ phía bên kia. Anh nhìn thấy tận mắt, chỉ cách mấy bước chân, nhưng bất lực nhìn bạn ngã gục một cách đau đớn, tủi nhục: “Thới thả cây súng xuống đất. Người đứng sau lưng kêu “trời”. Anh ta quăng một trái khói. Khói tỏa xanh đặc một khoảng, che khuất Khắc, cái thùng rác và phần dưới cái cây bên đường. Chúng nó lại bắn vào đám khói. Khắc được lôi vào, chỉ còn là cái xác. Nhưng cái xác đã bị thêm hai viên đạn nữa. Trên lưng Khắc đóng rõ ba lỗ máu. Người can đảm trừng trừng nhìn xác bạn, rồi tự vuốt mặt mình” (Trong lớp khói mầu).

 

Những cái chết như vậy, trong chiến tranh, là bình thường. Nhưng với với Thiện, thì sự bình thường kia lại vượt quá sức chịu đựng của con người nhạy cảm, như anh. Nội dung của truyện trên là cảnh Tiểu đoàn liên hoan sau trận thắng lớn. Thới được gắn huân chương như một anh hùng và được mời lên sân khấu đọc thơ, ca hát. Nhưng người anh hùng kia không đọc được, không hát được, bởi nỗi ám ảnh kinh hoàng về cái chết trước đó của đồng đội khi đơn vị về giải tỏa thành phố trong trận Mậu Thân: “...Thới đấm trán, xốc lại quần. Mọi người lại cười rân. Thêm được hai câu nữa. Cảnh đường phố chập chờn, buổi chinh chiến... đạn xới sạt sạt, lúc nhanh, lúc như nước nhỏ giọt xuống mặt đường, bụi bay, một người ngã xuống mép đường, cây súng, cái mũ sắt... kìa nữa, khói xanh lan ra, chờn vờn. Không cố được nữa. Thới lắc đầu, nguy mất thật, hai chân thì vẫn đấy, nhưng cái đầu thì, coi kìa... sao lạ, mắt cứ thấy dâng lên, lan mãi ra một màn khói xanh” (Trong lớp khói mầu).

 

Đọc đến đây, tôi bỗng nhớ đến đoạn văn sau: “Qua máy truyền tin ông đại đội trưởng ra lệnh trung đội tôi bằng mọi giá phải chiếm ngôi lầu Ông Tề ở bên kia đường, sau trạm xăng (...). Rồi tôi hét: Chạy. Cả bọn cùng ào qua lộ. Đạn đuổi theo, sủi bọt trên đường nhựa. Vô sự. Chúng tôi đã băng qua đường vô sự. Tôi chạy đến phía dưới trụ xăng, ngồi núp đàng sau trụ. Người lính truyền tin chạy theo tôi ngồi bên cạnh. Những người lính của tôi cũng tìm chỗ núp chung quanh. Chỉ còn khoảng 15 thước là đến ngôi lầu. Địch lại bắn rát. Đạn địch sủi bọt trên đường, lỗ chỗ vào vỉa hè xi măng quanh mình. Đạn xuyên qua cây xăng, lửa tóe lên. Chưa kịp ra lệnh gì thêm cho những người lính xung quanh thì bỗng nhiên đầu óc tôi xây xẩm.

Một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi, như một cơn gió thoảng, như một nụ hôn của định mệnh, của tuổi trẻ, của chiến tranh, của ngăn chia, của con ngựa chứng..”. (Trần Hoài Thư – Nhà văn trẻ ấy bị thương).

 

Khắc của Lê Văn Thiện thì “trên lưng đóng rõ ba lỗ máu”, còn tôi của Trần Hoài Thư là “một viên đạn nào đó dịu dàng quá đỗi, hôn lên da thịt tôi...”, cả hai đều làm nhiệm vụ tái chiếm thành phố trong tết Mậu Thân!?

 

Dẫn hai đoạn văn trên, không có ý so sánh, mà hơn hết để chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn với ngòi bút Lê Văn Thiện. Cả cuộc đời quân ngũ của mình, Thiện luôn có mặt ngoài chiến trường với những trận đánh lớn nhỏ, từ miền Trung vào Nam bộ qua tận xứ Chùa Tháp. Thiện lăn lộn và chứng kiến tận mắt những cảnh khủng khiếp của chiến tranh. Tuy nhiên viết như một số nhà văn quân đội thời bấy giờ, về những trận đánh có mình tham dự, Thiện lại viết rất ít, rất hiếm hoi mới đọc được vài đoạn, lồng vào những bối cảnh khác. Đây, có lẽ cũng là một đặc điểm của Lê Văn Thiện chăng? Chiến tranh trong truyện ngắn của Thiện chỉ lấp ló, đậm nhạt vài chỗ từ những ký ức xa gần, từ cảnh sống của bà con nông dân ở nông thôn. Trong truyện Chúng mình ơi, đau buồn, Thiện dẫn dắt người đọc từ một nhân vật đọc cho người khác nghe một đoạn về chàng tráng sĩ, đến cảnh rộn ràng, chộn rộn của bầy trẻ háo hức đi xem kịch: “Một chiếc xe đạp chạy ngang qua cổng, bóp chuông. Tiếng trẻ con nói chuyện bỗng từ đâu trờ tới, xôn xao, rồi nhỏ ngay, mất hút. Có lẽ chúng nó đi mau, hay chậm lúp xúp. Chúng ra đình xem truyền hình.” , Nếu chỉ dừng lại ở đây, chúng ta dễ có suy nghĩ tưởng tượng cảnh lagf quên yên bình dưới ngòi bút của Lê Văn Thiện. Nhưng không phải vậy, sag đoạn sau thì nhà văn lại lồng vào cảnh mấy anh nhân dân tự vệ đi gác đêm: “Toán người gác đêm kéo đến, họ vào sân, nói chuyện xì xào. Nhà bác Tương có hai cái sân tốt, rộng, nằm không cần trải chiếu, nên toán gác này thường đến ngủ. Cũng có người bảo nhà này có một điểm khác quyến rũ, hơn hẳn cái sân làng, là con dâu bác Tương. Họ đàn ông con trai, khó trách họ được. Với lại họ cũng đàng hoàng, dễ thương (...). Ngủ chưa bác hai? Cô hai ơi, cho bọn này mượn chiếc chiếu. Cô hai ơi, sao cái sân...”. Như vậy, trong cái làng quê yên ả kia, nguy cơ của chiến tranh đã lấp ló trong cảnh “chộn rộn, xôn xao” của lũ trẻ con đạp xe đi coi hát? Chiến tranh trong truyện của Thiện cứ nhẩn nha như vậy, đến với mọi người, với làng xóm một cách tự nhiên, thoải mái như thể tối phải ngủ, trưa chiều phải ăn uống, tóc dài phải cắt, rửa mặt, súc miệng... Nó (chiến tranh) có mặt như để tô điểm cho làng quê chút “sinh khí”, chút tiếng động ồn ào vốn dĩ đã ngủ yên bấy lâu, nay choàng thức dậy?: “Ông già ngồi gác bên chậu bông bỏ súng nằm xuống chân, nhịp tay hát hay ngâm gì đó, chắc hẳn để khỏi buồn ngủ. Chiến tranh thật sự đã có từ lâu, nhưng mãi đến khi thấy những ông già lãnh súng, những đứa nhỏ ngày đi học đêm đến moi súng xách ra đình làng tập họp, người ta mới trợn mắt, và lại còn ngạc nhiên. Chuyện giặc giã đã tiến đến cái mức xa thế này rồi sao?” (Chúng mình ơi, đau buồn).

 

Những cảnh huống như vậy, hẳn nhiên nhà văn đã từng sống với nó, chứng kiến tận mặt ở một cái xóm nhỏ heo hút nào đó không tìm thấy tên trên bản đồ cả nước, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại với nhiều dạng thức khác nhau, và diễn ra ở từng mức độ cao thấp khác nhau mà thôi, bởi chiến tranh vẫn dồn dập, đạn bom vẫn thả xuống, vẫn tiếp tục nhắm vào nhau mà bắn... Cuối cùng là những hậu quả không thể tránh khỏi, cái hậu quả kia, lại chính những người dân vô tội phải gánh chịu: “... anh lại nhớ đám mả những người dân chết vì đạn lạc trong trận đánh tháng trước, chôn như dập trên các bờ ruộng. Mấy gò đất mới đắp mọc lên hai ba bàn chân... Một chân mọc thẳng, lòng bàn chân ngửa lên trời, da vàng tái, móp khô, trông nhỏ và rất dơ...” (Quán vắng).

 

Những truyện ngắn của Thiện viết về chiến tranh chỉ chừng đó không ồn ào, hối hả, không dồn dập, tưng bừng khói lửa, nhưng khi khép lại trang sách, nhắm mắt ta cảm thấy một chút đau nhoi nhói tim gan, bởi anh đã “thực chứng” những tình cảnh thảm thương, để khi lòng “tịnh” lại anh đưa nhân vật và câu chuyện một cách bình thản như chị nhà quê xách rổ ra chợ làng! Thản nhiên một cách bình dị mà đau!

 

(Trích Đọc Lê văn Thiện, tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 43 tháng 8-2010)



Lơ mơ Ngọ


truy
ện ngắn



Mụ Đây đứng giữa sân nhà Ngọ, khoa chân múa tay, chửi, gào to, đòi nợ. Đang ăn cơm trước thềm, Ngọ vội bưng mâm chén xuống bếp cất, không còn bụng dạ nào ăn nữa. Mụ Đây nói lớn, cả xóm nghe được, chẳng cần loa. Mụ nói, mụ thương người, luôn giúp đỡ những kẻ nghèo khó túng bấn, xưa nay chưa ai than phiền về tư cách mụ. Nhưng mụ yêu cầu người khác cũng tốt, đừng bao giờ giở trò tráo trở, đem các ngón luồn lách ra đối chọi. Mụ chúa ghét loại người gian, và luôn quyết tâm bẻ gãy, chà nát những mưu mô hắc ám đó. Tại sao tuần trước hẹn hôm qua, hôm qua lại hẹn hôm nay? Thì giờ đâu để dự những cuộc đùa cợt vô bổ? Mụ thừa biết sách lược của bọn chây lười, ù lì. Nhưng tiền của mụ là đồng tiền khôn, có cánh, một đồng nằm trong túi hôm nay nhưng tháng sau sẽ biến thành ba đồng… Cứ thế, mụ Đây nói, lúc chậm lúc mau, không vấp, như đọc một văn bản viết sẵn. Mụ áp dụng kiểu nói xoay tròn của Trạng Quỳnh cổ tích, khi đối đầu với con mẹ đanh đá. Ông chọc để con mẹ nói suốt buổi, hết hơi, khản tiếng, không được nghỉ phút nào. Phần mình, không cần nhiều, chỉ vài ý, ông nói đi nói lại, quay như đèn kéo quân, khiến đối phương phát khùng, mệt đuối.

 

Bí đường, Ngọ hứa năm hôm nữa sẽ trả, dù chưa biết đào đâu ra tiền. Hứa đại, để mụ kẹ im. Như cái máy yếu điện, mụ Đây nói nhỏ hẳn, rồi ra đường, lên xe, sau khi thòng lại câu dọa: “Nói thì nhớ lời, đừng tính lừa tao… Dù mày có chạy trốn đến Mông Cổ tao cũng sẽ chộp tóc.” Kỳ dị, sao nước Mông Cổ nhỏ bé kia lại nằm trong đầu mụ!

 

Ngọ muốn khóc. U ám, bế tắc. Nợ nhiều quá, mụ Đây chỉ là một, còn ba bốn chỗ khác nữa. Tất cả sinh ra từ máu mê cờ bạc. Tại mình cả, chẳng phải do trời hay số mạng… Trước kia, nhiều lúc Ngọ nghĩ: không chồng đồng nghĩa với tự do, thoải mái, tự do tuyệt đối. Giờ đây, rơi vào tình cảnh này…

 

Con chó nhỏ sủa. Một người đứng thu lu bên kia hàng rào. Tiếng ông Tích:

“Khổ, con mẹ hung ác… mày nợ bao nhiêu?”.

Thêm cái ông hàng xóm ục ịch! Lúc đen, gặp toàn đồng bóng! Ngọ nói, cố ý dịu dàng:

“Dạ, hơn mười triệu.”

“Chửi thế, ta trừ được sáu triệu rồi đấy!”

 

Với ông Tích, Ngọ không có cảm tình. Mới về ở đây hơn nửa năm, chưa hiểu rõ tâm tính ông ta, nhưng Ngọ cũng biết được vài nét lớn: ông ta sống co rút, ít giao tiếp với bà con xung quanh, chẳng mấy khi góp mặt ở các cuộc hội họp, đám tiệc, cưới hỏi trong làng, và điểm nổi bật là keo kiệt.

“Mày tính sao?”.

“Tính gì ạ?”.

“Món nợ của mụ Đây”.

Ngọ chẳng biết nói sao, gay quá, chưa thể tính gì.

“Để coi lại, cháu sẽ…”.

 

Thời này làm gì có phép lạ, đâu còn những bà tiên. Xưa kia sướng thật, con người chân chất không đòi hỏi gì nhiều, sống giản dị, thanh thản. Chẳng cần máy móc, xe cộ, điện đài vẫn sống khỏe… Thời trung cổ có các trò đỏ đen chưa?... Lão già đứng bên rào kia chắc chắn không phải là kẻ để Ngọ tâm tình, trút bỏ bớt khối lo âu trĩu nặng trong lòng. “Ái chà , cái món nợ ấy… nghe qua chú cũng muốn mất lửa”. Lão nói nhỏ, trước khi bỏ đi.

 

Ngày về “tiếp quản” ngôi nhà và khu vườn của cha mẹ để lại, Ngọ phân vân trước sự lựa chọn: sẽ sống ở quê, hay vẫn ở tỉnh. Hơn hai mươi năm sống giữa phố phường, chị vẫn chưa thoát khỏi nghiệp làm mướn, cứ nằm nguyên trong dạng làm sáng ăn chiều. Nay về quê, sẽ làm gì. Ngôi nhà đã cũ, nhưng vườn cây ăn trái rộng. Mấy người anh em trong họ bảo rằng nhà ít người như Ngọ tốt lắm, chẳng cần làm nhiều, cứ bám vào cây trái cũng dư sống. Nhưng có ở mới thấy, thu nhập từ hoa quả khá bấp bênh. Năm được mùa, thu bạc triệu, nhưng những năm mất thì chỉ được… lá vàng. Cân nhắc kỹ, Ngọ về một mình, gởi hai con lại trên tỉnh. Định bụng, nếu xuôi chèo, yên ấm, vài năm sẽ kéo rốc về. Dù sao đây cũng là quê gốc… Sau vài tháng, Ngọ đã nao núng. Lối sống ở đây khác xa phố chợ, buồn tẻ, thiếu nhiều thứ. Đổi môi trường, phải học từ đầu. Cái nghề nông nhìn qua thấy đơn giản, nhưng chẳng dễ ăn. Muốn giỏi nó phải mất nhiều thời gian, năm, mười năm. Đất rộng nhưng cằn cỗi, thường thiếu nước. Cây trồng gần như độc canh, kẻ độc loại này, người loại kia. Quá nhiều bất lợi. “Chắc sẽ phải quay lên phố”. Lúc đầu Ngọ không muốn nghĩ vậy, nhưng mỗi tháng trôi qua ý đó mỗi lớn phình ra. Có lẽ phải làm trái ý cha. Cha chị căn dặn: nhà, đất vườn là hậu cứ bền vững, nên nhờ người chăm sóc, để sau già có chỗ trở về.

 

Cày cuốc không rành, Ngọ chuyển qua nuôi heo gà, chơi huê hụi, rồi thử món số má, bài bạc. Mặt “tiêu cực” giống như suối ngầm, lặng lẽ, róc rách, nhưng lan tỏa rộng trong làng. Hậu quả của nó đem lại khá mau, xám ngoét. Có chị ngoại tình để kiếm tiền đắp vào chỗ đã thua. Nhiều bà bỏ nhà đi, do bị chủ nợ khủng bố tinh thần. Tám tháng, chưa thành nông dân, nhưng Ngọ đã giống hệt đám phụ nữ làng, đi đứng hấp tấp, dáng người bơ phờ, lúc nào cũng như vừa đánh mất bạc vàng quí báu… Sống kiểu không chồng thong dong, thú vị, như con ngựa hoang ngao du trên thảo nguyên nồng mùi cỏ hoa. Nhưng, không bị kìm cương, cũng có lúc ngựa chúi mũi xuống gành gộp… Lên phố. Chắc phải quay lên phố thôi!

 

*

Vợ chết đã lâu, ông Tích chưa “đi bước nữa”, chỉ thậm thụt với bà này bà kia trong những quãng thời gian ngắn. Cách đây hai năm ông rước về một chị tàng tàng, sống chung khá hòa thuận, nhưng rồi bỗng dưng chị ta bỏ đi mất… Chị tên Bèo, dân Quảng, vô bán thúng mủng. Ngay chuyến đầu tiên, quỉ thần xui khiến, Bèo đã dính chặt vào bếp nhà ông Tích, quên về. Chị dài dại, ngây ngô, nói năng như anh hề giả khùng. Ngay đến tên làng xóm, quê quán của mình, Bèo cũng không rành. Nhưng dù vậy, chẳng sao cả. Ông Tích cần người nấu cơm, rửa chén, một phụ nữ. Bèo mạnh khỏe, bạo dạn, được việc. Mới qua vài tuần chị đã quen khắp xóm, và trở thành đề tài để các bà bàn luận, hấp dẫn như mấy phim diễm tình Hàn Quốc! Bèo nói, ông Tích hiền, dễ chịu, tối ngày nín như câm. Ông ta hay ngủ ngày, ban đêm chỉ ngủ giấc đầu hôm, khoảng một hai giờ sáng đã thức dậy, lọ mọ nấu nước, pha trà, uống một mình, và ngồi chống cằm, cứ chống cằm nhìn vào vách như thế, rồi xuống nhà dưới quậy chọc chị ta. “Ổng lù đù, nhùng nhằng, như miếng giẻ rách!”. Để phòng thân, chị đã lập hợp đồng miệng với ông Tích, cụ thể và rành mạch. “Tui chẳng ngu, làm sao mình rõ bụng dạ ổng… cầm dao là tui luôn cầm đằng cán!”. Mỗi năm ông Tích chu cấp cho chị ba bộ quần áo, hai đôi dép, hai chiếc nón, sáu triệu đồng. Số tiền này được trao làm hai lần. “Khởi đầu, tui lấy ngay ba triệu, đến nửa năm sẽ nhận số còn lại… ổng khen tui khôn!”. Được cái, như đã nói, ông ấy hiền, lại thảo ăn. Nhà trữ nhiều thức ăn, thịt, cá, trứng, hoa quả thừa mứa. “Muốn ăn gì tui cứ ăn, khỏi hỏi ai… đớp muốn mẻ cả răng, nứt da bụng!”. Bèo khoe, hoan hỉ. Mấy bà già nghe, cười chảy nước mắt: “Vậy là mày định ở đây bao lâu?”. Bèo nghĩ ngợi một lúc: “Tết sẽ về thăm nhà, hễ Tết là về, còn lâu mau chưa biết… không biết được đâu! Ông ấy kỳ lắm kìa, người chi mà vô độ… Mấy dì biết không, ông ta sờ mó, cắn bóp, coi tui như trái cam vậy… lắm lúc mình chẳng ngủ nghê gì được, gớm, mệt chết!”. Bèo bỏ đi, đột ngột, không rõ chị đã nhận được mấy lần tiền.

 

*



Hơn 8 giờ tối, trời làm dông hướng núi, như sắp mưa. Sau ba ngày suy tính, Ngọ đi đến quyết định liều, buông tay, rơi tự do. Thêm một con phù du lao thẳng vào lửa! “Ta làm ta chịu, không đem ngôi nhà và khu vườn ra khắc phục sự cố này”… Nàng đứng bên rào duối khá lâu, dùng dằng, muỗi cắn rát cổ. Thật khó khăn. Ranh giới giữa ngày và đêm chỉ một bước, một bước theo nghĩa đen. Khom lưng qua lỗ chó chui, sẽ ở bên vườn ông bầm dập. Ngọ chui! Con chó vàng đánh hơi, kêu hực hực. Ngọ bước đi trong vùng sáng của bóng điện vàng ẻo bên giếng. Ông Tích ra.

“Cho cháu mượn…”

“Ngọ, ôi… trời ơi!”. – Ông ta mừng cuống. “Tốt quá, vào đây”. Ngọ bị lôi vào nhà dưới. Chủ nhà mặc chiếc quần dài cũ, ở trần. Ông ta đen, săn chắc, mập tròn… Tướng người dềnh dàng, nhưng lòng ông Tích mềm yếu, dễ lung lay trước các bóng hồng, nhất là loại “đối tượng” không chồng, như cô nàng này.

“Chú cho mượn…”

“Thì từ từ, ngồi xuống đã. Không mượn, gì cũng được, cho luôn đấy”. – Mừng lớn, thấy rõ ông ta mừng.

 

Chưa bao giờ Ngọ bước vào đây. Ông Tích mở rộng hai cánh cửa chiếc tủ gỗ cạnh bếp. “Muốn gì, Ngọ cứ lấy”. Tủ đầy ắp thức ăn. Hai ngăn dưới dành cho trái cây. Ngăn trên chứa bia, bánh kẹo. Một người ăn sao hết chừng này thứ. Ông ta mập thế kia là phải. Nếu trí nhớ tốt, Ngọ sẽ nghĩ tới chị Bèo… Có thúng muối đầy vun nằm cạnh cái hỏa lò.

 

“Mai chú sẽ muối cá cơm, tự làm mắm ăn, không mua, nay ngoài chợ thứ quỉ gì cũng độc hại”.

Ngọ ngồi dính trên ghế, chẳng biết nói gì. Trơ trẽn, thảm hại. Lúc mới về đây, nghe chuyện mấy bà ngoại tình kiếm tiền chơi bài, nàng đã chê cười họ. “Ăn mày là ai…”

“Con chú dặn, phải ăn uống đúng để khỏe mạnh. Khi thèm ngọt, ăn đu đủ, mít, chuối, không uống nước ngọt. Dùng thật ít bột ngọt, bột nêm. Cảnh giác cao với các loại rau lá…”

 

Ông ta cười, thở khì, như trút được nỗi lo ra khỏi người.

“Còn nữa, ăn hột đào, gừng, bí đỏ để tăng cường trí nhớ… Mình nên phòng xa, nếu để mầm bệnh nhập vào cơ thể thì rất phiền”.

 

Nghỉ giây lát, ông ta chuyển đài:

“Chú tốt, phải nói thẳng là tốt. Ngọ chớ nghe đám ruồi nhặng xóm này nói ra nói vào. Chúng nó không ưa vì ganh tị. Tâm lý mà, ta thường ghét kẻ hơn ta… Mấy đứa con chú không giàu nhưng…”

 

Ông Tích kéo một chiếc ghế đến cạnh Ngọ, lấy cái dĩa lớn đặt lên ghế, đem một nải chuối vàng rộm để lên dĩa, mời khách.

“Hai, ba tháng bọn con chú gởi cho chú vài triệu, chỉ cần chừng đó chú đã vễnh râu trê… Xứ này, muốn kiếm ba, bốn triệu không dễ, phải mất năm, sáu tháng, phồng da đầu sâu con mắt!”.

 

Anh kép không còn trẻ tới đứng sau lưng Ngọ.

“Chú sẽ trả nợ cho mụ Đây, trả hết một lần… nghe chưa?”. – Ông ta vuốt má Ngọ bằng hai bàn tay chai sần. Người đẹp chết ngồi! Thỏ tơ tới đây để làm gì, tất nhiên cáo già biết. Loài cáo chắc ít con đần độn. Con cáo này đói, nó quính quáng, như sắp phát rồ, cứ vài phút nó lại kêu lên: Ngọ, Ngọ, trời ơi, trời ơi!

 

Ông Tích thọc tay vào túi quần, nhưng không lấy ra thứ gì. Ông ta rót nước ra hai ly, nhưng không uống.

“Lâu nay Ngọ làm gì, chú không biết… Phải chăm chỉ, tiện tặn. Hà tiện tốt, bần tiện mới xấu… Nếu nhắm mắt sống theo lũ đàn bà ở đây Ngọ sẽ chết đuối trên cạn… Chúng nó chơi số, đánh đề, cá độ đủ loại, cầu mong vận may… Chẳng ai dám bảo tỉ phú ngu, nhưng đã có tỉ phú sạt nghiệp trong sòng bài. Ai có hồn nấy giữ”.

 

Ngọ nhìn, chăm chú nghe ông ta nói.

“Ngọ qua đây ngủ, mỗi đêm tôi sẽ tặng bảy chục ngàn”.

“Cái gì?”.

Ông Tích hoảng, nhưng vẫn lặp lại:

“Ngoài số tiền trả nợ, tôi sẽ tặng thêm tiền bồi dưỡng, bảy chục… hay có thể tám chục một đêm”.

 

Ông đến thả chốt cửa. Ngọ đứng dậy, vấp chiếc ghế, nải chuối rớt xuống sàn. Ông Tích ôm chầm lấy con mồi, miệng kêu như rên: trời ơi, Ngọ!

 

Để đối phương quy hàng, ngoan ngoãn, ông ta nói: ngay sáng mai sẽ trả nợ cho mụ Đây.

“Tôi thương Ngọ… Tiền bạc, mấy cũng được… Nên nhớ, dân ở đây đi cấy còng lưng mỗi ngày công chỉ bốn chục ngàn”.

Trời chớp, như tia đèn pha xuyên qua cửa sổ.

 

*



Ông Tích mê mết người tình trẻ, món quà trời ban bất ngờ. Không thứ này thì món kia, đêm nào ông cũng chui lỗ chó mang qua cho nàng. Sau những trở ngại ban đầu, chủ yếu do cảm giác bẽ bàng, xấu hổ gây ra, Ngọ cũng mau chóng hưởng ứng trò chơi đổi chác… Nàng còn trẻ, quá trẻ. Gái hai con, ngó mòn hai mắt! Cánh đồng Ngọ khô hạn khá lâu, nên nay nó có thể đón nhận cả mưa xuân, mưa ngâu, lẫn mưa lũ! Chị đã quên mất tướng người cọc cạch, tuổi tác của ông Tích. Chẳng ăn đời ở kiếp với nhau nên có thể dẹp bỏ khâu nhan sắc. Tiền trao cháo múc!

 

Cuộc trao đổi sòng phẳng và hào hứng… Ăn ăn, uống uống, đêm nào cũng như liên hoan. Bò hầm, gà chưng thuốc bắc, vịt tiềm. Hột vịt lộn, cháo nếp đậu xanh, và hột gà xôđa! Cả hai tuân thủ quy định ngầm: kín đáo, tuyệt đối không để lộ chuyện. Ngọ dặn, như ra lệnh: đừng cho ai biết. Ông Tích chấp hành. Chị nói gì ông cũng nghe. Cứ hai đêm ông tăng “trợ cấp” một lần. Tám chục, trăm ngàn, trăm hai. Không rộng rãi lắm, nhưng đều đặn! Đến đêm thứ chín, món tiền này đã lên trăm rưỡi. Có vẻ ông Tích sẽ tiếp tục tăng nữa, bởi sợ Ngọ dừng lại, bỏ cuộc. Dù muốn quên, ông vẫn nhớ mình vừa quê vừa già.

 

*



Ngọ biến mất tăm, bất ngờ, như lúc đến. Mười đêm. Ông Tích buồn, tiếc ngẩn ngơ. Người ngọc và mười đêm chiêm bao đã hút hồn ông già đa tình. Suốt nửa tháng ông quanh quẩn sau vườn, ngóng cổ nhìn sang bên kia rào! Đến khi hết hy vọng, tỉnh trí lại, ông bắt đầu tính toán, so đo hơn thiệt, nhận thấy dường như mình vừa bị vấp một vố chơi xỏ, một cú lừa ngoạn mục. Có phải lừa không? Chia chia, cộng cộng. Bản tính chắc thiệt, cần kiệm của người nông dân nổi dậy trong đầu khiến ông Tích đau điếng. Tiếc của, và nhớ người trong mộng! Hai cảm giác, hai luồng hải lưu mạnh, xoáy trong lòng làm ông già đáng thương tiều tụy. Ông ngã bệnh. Chính ông cũng không biết mình bệnh vì mất tiền hay nhớ nhung. Cũng có thể do cảm mạo, thương hàn hay một chứng hiểm ác nào đó. Ông kiếm vài thứ rễ lá trong vườn uống tạm. Không thuyên giảm. Ông hốc hác, gầy sọm, thất sắc. Dân làng nói, chàng già dại gái thất tình, nhớ thương cô nàng Bèo dở hơi!

 

Con ông Tích về đưa cha lên thành phố… Bốn tháng sau, tin dữ bay về làng: ông Tích chết!... Khối tình to lớn nào có thể quật ngã con người rắn rỏi, dày dạn này? Gần đúng 61 tuổi, vừa đạt mức thọ. “Sáu mươi là gì? Đó là tuổi bạn có thể còn sống mười, hai mươi năm nữa, hoặc chỉ vài tháng nữa”. Giọng điệu Hy La, cổ, cô đúc, dứt khoát. Ông Tích xui xẻo, bập ngay vào phần đuôi câu này: chỉ vài tháng nữa ./.

 



L
ê Văn Thiện
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn