DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,195,649

Tô Đăng Khoa - THƠ VỀ THƠ: Ở ĐÂU MỘT ÁNH MẮT ĐỂ CÓ NGÔN NGỮ XANH?

Saturday, September 14, 20197:00 AM(View: 342)
Tô Đăng Khoa - THƠ VỀ THƠ: Ở ĐÂU MỘT ÁNH MẮT ĐỂ CÓ NGÔN NGỮ XANH?

 

THƠ VỀ THƠ:
Ở ĐÂU MỘT ÁNH MẮT ĐỂ CÓ
NGÔN NGỮ XANH?
 

khánh minh 1
Image result for nguyễn thị khánh minh
                                                                          nguyễn thị khánh minh



Đây tác phẩm thứ 12 của Nguyễn Thị Khánh Minh: Ngôn Ngữ Xanh. Độc giả trong những năm gần đây có lẽ không còn xa lạ gì với tên tuổi Nguyễn Thị Khánh Minh, người có sức sáng tạo rất sung mãn, gần như mỗi năm đều có một tác phẩm mới ra đời. Những tác phẩm gần đây của NTKM đã được độc giả đón tiếp rất nồng nhiệt như “Ký Ức của Bóng”, “Bóng Bay Gió Ơi”, “Lang Thang Nghìn Dặm”, và “Tản Văn Thi”.

Khác với các tác phẩm trước trong đó Khánh Minh chọn thể loại Thi, Tản Văn, hay là Tản Văn Thi để nói về các chủ đề khác nhau của Thi Ca như: Ký Ức, Bóng, Giấc Mơ, v.vv…  Lần này trở lại với độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh, chủ đề được NTKM chọn lại chính là Thi Ca, hay nói cách khác, Chủ đề của Ngôn Ngữ Xanh là: Thơ về Thơ.

Gói ghém trong tập Ngôn Ngữ Xanh này là cái nhìn và quan niệm (rất riêng tư) của NTKM về Thi Ca.  Chính cái nhìn và quan niệm thi ca này là nguồn sáng tạo cho các tác phẩm trước đây của NTKM, lần đầu tiên sẽ được KM bày tỏ cùng độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh.  Chính vì thế tập Ngôn Ngữ Xanh, mà thực chất là “Thơ về Thơ” không phải là một lối chơi chữ, vì suy cho cùng, chủ đề cao tột nhất của Thi Ca chính là Thi Ca.  Khi tác giả sáng tác những bài Thơ về Thơ, đó chính là Thi Ca đang thực hiện việc “Phản Quang Tự Kỷ” (1), hay trong tiếng Anh gọi là “metapoetry” (2).  “Phản quang tự kỷ” hay “metapoetry” chính là hình thức tư duy cao tột nhất, nó xô đẩy tư tưởng đi hoang đến những ranh giới chưa từng được khám phá. Nó đòi hỏi một thái độ thích hợp, “với tâm trạng vừa an lòng vừa rụt rè mạo hiểm, vừa háo hức như lúc nào cũng ở điểm bắt đầu”:

Quan niệm sáng tác này được Khánh Minh trân trọng đặt vấn đề nơi đầu tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh:
 
Khi tôi lắp ráp những cảm xúc, những mảnh ký ức, những giấc mơ của mình, tôi ngỡ ngàng, một mảng xanh buồn rực rỡ lạ lẫm phập phồng, mỏng đến nỗi chỉ cần một ánh mắt cời khêu, nó sẽ bật tung những ẩn giấu… hẳn là đường bung của sắc ánh pha lê con sóng đang vỡ hoa. Cảm xúc sóng đẩy tôi đi. Đang đi đến một nơi nào đó với tâm trạng vừa an lòng vừa rụt rè mạo hiểm. Vừa háo hức như lúc nào cũng ở điểm bắt đầu… Ở đâu một ánh mắt?
Để có Ngôn Ngữ Xanh.
 
Nguyên liệu chính cho một thi phẩm chính là những cảm xúc (bao gồm cả quá khứ, hiện tại, và tương lai) những mảng ký ức, và những giấc mơ của chính tác giả. Chúng được Khánh Minh cụ thể hóa như những mảng xanh buồn rực rỡ, lạ lẫm, phập phồng trên biển tiềm thức và vô thức chuyển động càng bao la. Những mảng xanh cảm xúc đó rất mỏng, mỏng đến nỗi chỉ cần một “một ánh mắt cời khêu”, mà bản chất chính là một sự chú tâm quan sát rõ nội tâm, thì sẽ “bật tung những ẩn giấu… hẳn là đường bung của sắc ánh pha lê con sóng đang vỡ hoa.”

Câu hỏi “Ở đâu một ánh mắt?”  như bỏ lửng ngang chừng, nhưng đó chính là điều kiện cần thiết để làm “bật tung những ẩn giấu” trong tiềm thức và vô thức của người sáng tạo. Từ một “ánh mắt cời khêu” đó: những ý, những tứ, những con âm, con chữ, mới được phối trí, hòa âm, cho ngôn ngữ xanh tuôn tràn trên Thi Tập mà độc giả đang cầm trên tay.  Và cũng trong chính sự đọc này, cũng rất cần, cần lắm “một ánh mắt cời khêu nữa” để mở toang cánh cửa tâm hồn độc giả cho những ký tự quy ước, chảy vào tiềm thức của chính độc giả, làm lay động những ký ức ngủ quên để tạo nên một sự thông cảm, như mối dây huyền nhiệm liên kết người-với-người.  Ôi chao huyền nhiệm thay: tác dụng của Ngôn Ngữ Xanh!

Nhưng mà “Ở đâu một ánh mắt? --Để có ngôn ngữ xanh.” Câu hỏi thật sâu lắng, chứa chan niềm hy vọng, và cả vô vọng! Câu hỏi như đá tảng ngàn cân của sự cô đơn, kham nhẫn, và chờ đợi.

Thi Tập Ngôn Ngữ Xanh của NTKM, mà theo cảm nhận riêng của tôi là một tập Thơ về Thơ, khởi sự nhân duyên có lẽ từ câu hỏi đó: “Ở đâu một ánh mắt? - -Để có ngôn ngữ xanh.” Cấu trúc tập thơ gồm 3 phần: Phút Mong Manh Giữa Những Từ - Ký Ức Xanh - Ngôn Ngữ Xanh.

Trong phần 1, một câu hỏi lớn được Khánh Minh trích dẫn trong phút mong manh giữa những từ: “Why should poetry have to make sense?”  Câu hỏi này rất quan trọng vì nó phân định vai trò của ngôn ngữ Thi Ca nói riêng và ngôn ngữ sáng tạo nói chung.

Ngôn ngữ có hai chức năng chính: Chức năng sáng tạo và chức năng thực dụng quy ước. Trong đó chức năng quy ước đáp ứng nhu cầu giao tiếp thông tin hàng ngày. Mục tiêu của chức năng này của ngôn ngữ là sự chuẩn xác, minh bạch, rõ ràng, tránh hiểu lầm. Nó cần quy ước, văn phạm, logic.

Chức năng thực dụng (thuận theo quy ước đã được thiết lập trong ngôn ngữ) cần phải được phân biệt rõ ràng với một chức năng quan trọng khác của ngôn ngữ: chức năng sáng tạo.  Chức năng sáng tạo nhắm tới khai phóng, “bật tung ẩn giấu”, phơi bày sự thật bị che kín.  Trong tiếng Anh, động từ dành cho người sáng tạo khi họ cho ra đời một khái niệm hoàn toàn mới thì được gọi là “coin a new term” (in ra một thứ tiền tệ mới).

Chính vì thế, ngôn ngữ thực dụng quy ước, chỉ là sự sắp xếp cho có trật tự, những dấu hiệu, ký hiệu đã được thiết lập, đã được công nhận, cho nên chúng không có thẩm quyền gì trong lãnh vực sáng tạo: nó chỉ như là đồng bạc cũ trên tay một kẻ nghèo nàn. Trong khi đó kẻ sáng tạo là người tự cho ra đời một đồng tiền mới (coin a new term), và nếu như điều được sáng tạo ra là hoàn toàn mới, và phù hợp với thực tại, khái niệm mới đó sẽ được lưu hành trong ngôn ngữ hàng ngày (the new coin will be circulated)

Ngôn ngữ sáng tạo, vì thế khai phóng, giải thoát những cảm xúc, bị giam cầm trong tự thân, nó xua cảm xúc “bật tung những ẩn giấu… của sắc ánh pha lê con sóng đang vỡ hoa.”

“Cảm xúc sóng” đẩy người sáng tạo “đi đến một nơi nào đó với tâm trạng vừa an lòng vừa rụt rè mạo hiểm. Vừa háo hức như lúc nào cũng ở điểm bắt đầu".

 Nhìn trên phương diện “bật tung những ẩn giấu" này, ngôn ngữ của sáng tạo như là “sự phơi bày cái mới” khi so sánh với ngôn ngữ thực dụng quy ước vì trong cách thức khi được sử dụng, ngôn ngữ sáng tạo không bao giờ chỉ là những "danh từ chung" mà ai ai cũng biết. Ngôn ngữ sáng tạo bao giờ cũng mang tính ẩn dụ: là cầu nối nhịp giữa “cái biết” và “cái chưa biết”, là “viên tướng tiên phong” của tri thức nhân loại.  Chính vì lẽ đó, ngôn ngữ sáng tạo không cần tuân thủ theo quy ước truyền thống, không cần phải “make sense.”   Sự thành công của ngôn ngữ sáng tạo (a new coin) là: liệu nó có được chấp nhận và lưu hành (circulated) trong đời sống hàng ngày hay không? Khi được chấp nhận, lưu hành, ngôn ngữ sáng tạo sẽ trở thành một phần của ngôn ngữ quy ước.

Bước vào Ngôn Ngữ Xanh, là cùng tư duy với Khánh Minh, là cùng với Thi Ca xoay lại nhìn về Thi Ca, là “phản quang tự kỷ” làm “bật tung những ẩn giấu”. Nó đòi hỏi một “ánh mắt cời khêu”. Có thể trích ra đây một bài Thơ Về Thơ tiêu biểu trong tập Ngôn Ngữ Xanh này: Đó là bài có tựa đề chỉ có một chữ “Thơ”:
 


THƠ
1.
Nơi không gian thơ
Có thời gian cho lời đọng lại
Thầm thì đi. Bước chân đi mãi
 
Nơi bóng mát thơ
Khoảnh khắc chữ cho lời rơi xuống
Nghe lắng nghe. Quán tự tại yêu thương
 
Nơi lửa thơ
Những con chữ nhóm lời cháy đỏ
Thắp mặt trời cho những giấc mơ
 
Nơi biển thơ
Những con chữ bung lời nắng dậy
Đó là ban mai mỗi ngày được thấy
 
Bật lên triều xanh của lời
Chắp lên đôi cánh của lời
Bay xa bay xa. Trái tim của một người trao gửi
 


Bài thơ ngắn nhưng hàm súc cả triết lý về “metapoetry” của NTKM. Một bài thơ về thơ thật bình dị, dễ hiểu, nhưng sâu thẳm và rốt ráo. Nó cần lắm một “ánh mắt cời khêu” để:

Không gian, thời gian của Thi Ca được dàn ra vô biên vô tận cho những bước chân thầm thì đi mãi
Cho bóng mát Thi Ca rợp bóng Quán tự tại yêu thương
Cho lửa thơ thắp ánh mặt trời cho những giấc mơ
Cho biển thơ bung lời nắng dậy
Cho bay xa xa mãi, trái tim của một người trao gửi.
 
Ở đâu? Một ánh mắt - để có ngôn ngữ xanh???

 
TÔ ĐĂNG KHOA 
08/08/2019.
(Tác giả gởi)
 
 
(1) Đời nhà Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ được ngộ đạo. Cho nên vua Trần Thánh Tông gởi Thái tử Trần Khâm cho Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy đạo lý. Khi học hỏi gần xong sắp trở về triều, trước lúc từ giã Thái tử hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ: "Bạch Thượng Sĩ, pháp yếu của Thiền tông là gì? ". Thượng Sĩ trả lời: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" có nghĩa xem xét lại chính mình là việc bổn phận, không phải từ nơi khác mà được.
(2) Metapoetry là một thuật ngữ chỉ định những bài thơ lấy Thi Ca là chủ đề của bài thơ.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, October 24, 201012:00 AM(View: 40054)
Hoàng Lộc, sinh ngày 8.11.1943 tại Hội An Quảng Nam. Định cư taị Memphis Tennessee từ 1993. Được giải thi ca Trung tâm văn bút Việt Nam Sàigòn 1970. Tác phẩm đã xuất bản: * Thơ Học Trò (1966) * Trái Tim Còn Lại (1971) Qua Mấy Trời Sương Mưa (1999)
Saturday, October 23, 201012:00 AM(View: 37108)
Tên thật Lê Ngọc Châu, sinh cuối năm Canh Thìn, vào ngày 10 tháng 01 năm 1941 tại nhà hộ sinh Tô Thành Giang ở Hội An Quảng Nam. Con ông Lê Hoán (gốc Liêm Lạc Hòa Đa, Quảng Nam) và bà Nguyễn thị Luân (gốc Vĩnh Điện, Quảng Nam) Định cư và trưởng thành tại Đà Nẵng từ 1953. Mất chân trái tại mặt trận Mộ Đức, Quảng Ngải vào cuối năm 1969. Nghề tay phải: tham sự ngân hàng VNTT, ĐàNẵng. Tạm cư tại Montreal Canada từ 02.02.1985. Công nhân hảng Aronoff Canada (1986-1990) Có bài đăng từ 1960 trên các báo : * Tuổi Xanh, Gió Mới, Thời Nay,
Saturday, October 23, 201012:00 AM(View: 37582)
Tên thật Nguyễn Đức Hiệp. Sinh năm 1942 tại Đức Phú Tam Kỳ. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn Thi phẩm đã xuất bản : * Mưa Trong Vườn Chiêm Bao * Một Mùa Tóc Mộ * Áo Nguyệt Ca * Hỏi Đường Cùng Mây Trắng * Trăng Kêu Xanh * Trong Đá * Người Nuôi Lửa Tịch Mịch * Chàng Tuổi Trẻ Gan Dạ (dịch), * Trên Chiếc Đu Bay (dịch) * Tuyết Trên Ngọn Kilimanjaro (dịch) * Thơ Ca (dịch)
Saturday, October 23, 201012:00 AM(View: 35049)
Sinh năm 1942 tại Huế. Cựu Sĩ Quan VNCH. Hiện định cư tại Hoa Kỳ từ 1993. Khởi viết từ 1964 Tác phẩm đã xuất bản : * Câu Nam Ai Thất Lạc (truyện, Văn Mới 1997) * Hoa Vạn Hạt * Một Mình Em Đến Giữa Đời
Saturday, October 23, 201012:00 AM(View: 43056)
Tên thật Phạm Vĩnh Xuân, Sinh ngày 7,7.1943 tại Thanh Hóa. Sĩ quan QLVNCH vượt biển 1980. Định cư tại Hoa Kỳ 1981. Tác phẩm đã xuất bản: * Trí Nhớ Đau Thương (thơ 1967) * Đá Vàng (thơ 1069) * Tuyển Tập truyện Âu Châu (dịch 1970) * Điệu Buồn Chúng Ta (thơ 1972) * Dạo Núi Mình Ta (thơ 1972 tb 1973) * Tình Em Vỗ Cánh (dịch 1973) * Nàng Nô Lệ (dịch 1973) * Trận Chiến Trong Thành Phố (dịch 1973) * Cát Bụi Trần Gian (dịch 1974) * Kiếp Người Cô Quạnh (dịch 1974) * Đại Học Máu (hồi ký 1985) * Vầng Thái Quê Nhà (dịch1988) * Thơ Viết Giữa Đường (thơ 1988) * Chị Em (truyện dài 1988) * Ông H.O (truyện 1993) * Cố Hương (truyện 1994) ...