DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,462,490

LƯƠNG THƯ TRUNG - Thơ Đức Phổ, nỗi nhớ, tình yêu và cuộc đời

Friday, January 15, 20216:37 PM(View: 290)
LƯƠNG THƯ TRUNG - Thơ Đức Phổ, nỗi nhớ, tình yêu và cuộc đời

Thơ Đức Phổ,
nỗi nhớ, tình yêu và cuộc đời
 
 
blank
     Nhà thơ Đức Phổ
Nhà thơ Đức Phổ làm thơ khá lâu và nhiều. Kề từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1996, thơ anh thường xuất hiện trên các tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Học của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, cả hai tạp chí này cùng ở California và Phố Văn của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp, ở Dallas, những tạp chí văn học nghệ thuật tiêu biểu một thời của văn học Việt Nam đương đại nơi hải ngoại này.

Vào năm 2000, anh cho chào đời thi phẩm “Một chỗ về” (1) và năm 2002, thi phẩm thứ hai, “Mùa tình, xin kịp gặt” (2) Qua hai thi phẩm vừa kể, với hơn 115 bài thơ, người đọc bắt gặp ở thơ Đức Phổ những bến bờ chợt nhớ, chợt về, chợt đi, chợt đến cùng những hắt hiu của “một chỗ về”, một “mùa tình, xin kịp gặt” như tựa hai bài thơ mà tác giả lấy đặt tên cho mỗi cuốn thơ của mình.

Nhưng trước hết, thơ Đức Phổ là những tâm tình gợi nhớ về những dấu chân đời dừng lại trên một bến bờ nào đò, dường như thoáng chốc qua nhanh mà hồn vẫn lãng đãng bồi hồi nhớ về chốn cũ. Như bao đứa con lúc đi xa, rày đây mai đó dặm trường, nhưng lòng vẫn không thôi nhớ mẹ già quạnh quẽ, hắt hiu nơi xóm vắng một mình:

“đã bao năm mái lá còn trơ
lòng mẹ giữa bốn bề phên dột
ta ở xứ ngưòi no cơm ấm cật
mẹ quê nhà áo vá phất phơ”
(Bên trời nhớ mẹ. Một chỗ về, trang 85)

Và rồi, kỷ niệm những ngày mẹ cõng con đi học, lưng thấm mồ hôi khi cố trèo lên triền dốc của những ngày còn thơ ấu thuở nào như sống lại trong lòng tác giả, nghe ra bao cảm hoài tha thiết:

“nhớ quê xưa với những con đường
mẹ ta cõng ta. Thời đi học
lưng mẹ thấm mồ hôi đỉnh dốc
vẫn ngọt ngào. Con giỏi, mẹ thương.”
(Bên trời nhớ mẹ. Một chỗ về, trang 86)

để rồi, tác giả hạ hai câu kết, làm cho người đọc thơ không khỏi bồi hồi cùng tác giả, nhớ lại những trăn trở với chính mình:

“sờ lại túi sông hồ còn nặng
mẹ già rồi vẫn còn long đong.”
(Bên trời nhớ mẹ. Một chỗ về, trang 86)

Người xa xứ nào rồi cũng có lúc nhớ nhà, nhớ quê, nhưng ở nơi Đức Phổ nỗi nhớ thương xem chừng dào dạt vô bờ :

“những chiều nắng nhạt bên thềm vắng
thơ thẩn lòng mơ ánh nguyệt tà
mấy phen chìm nổi, không danh phận
đã thấm đòn đau nỗi nhớ nhà.”
(Thương quê. Một chỗ về, trang 64)

Cái trớ trêu của niềm mơ nỗi nhớ ấy có trọn ven cùng không lại là một điều khác của cảnh cũ người xưa nữa. Phải chăng, xa quê thương nhớ lấy quê, về nhà lại ngẫn, lại ngơ nỗi nhà!:

“về đây ngó đất. Kêu trời
lá hoa năm trước tơi bời. Lá hoa
muộn màng. Phấn nhạt màu mưa
chút duyên ở lại. Tình xưa lưu đày.”
(Chốn cũ. Một chỗ về, trang 87)

Ở một bài thơ khác, “Thơ viết lúc nhớ Sài Gòn”, Đức Phổ lại một lần nữa khẳng định với lòng rằng :

“ai bảo ra đi là vong phụ?
(tôi xa nhà vẫn nhớ thương quê)
Thiên địa rộng, mang mang sinh tử
giữa lòng đời chật chội, nhiêu khê.

năm tháng cõng buồn trôi lặng lẽ
khó bảo hòa, buồn cứ tăng thêm
có lúc thơ tràn theo nhịp thở
có lần dáng cũ đứng kề bên.”
(Thơ viết lúc nhớ Sài Gòn. Một chỗ về, trang 111)

blank
Nhớ Sài Gòn là thế, nhưng với Đà Nẵng, ở Đức Phổ nỗi nhớ đâu có thua gì . Trong bài thơ “Đà nẵng, không thể nào quên”, mở đầu bằng bốn câu :

“không thể nào quên được tiếng chim
đã hót bên vườn mai Tân Lập
ở quanh đây bầu trời rất thấp
chạm lòng ta nỗi nhớ xanh lòng.”
(Một chỗ về, trang 98)

Nỗi nhớ bồi hồi xót xa không rời ấy nơi anh mãi mãi là nỗi niềm chan chứa cái tấm chân tình thương quê, nhớ mẹ thấm vào hồn. Trong những lúc có những “mùa tình, xin kịp gặt”, Đức Phổ đã để trái tim mình trào dâng như một “khát vọng” :

“muốn thắp ngọn đời lên đỉnh, hú
chiêu hồn, về đậu nhánh sông thơ
núi lạc sông rồi, người lạc xứ
mà không phai nỗi nhớ quê nhà.”
(Khác vọng. Mùa tình, xin kịp gặt, trang 118)

Và đây nữa, thêm một mối cảm hoài nơi đất khách làm rưng rức bao trái tim xa xứ lạc loài:
“Ngó về quê cũ thương đồng hạn
mấy hạt chiêm, mùa bỗng xót xa
mẹ. Gót chân mòn bên gốc rạ
lòng sờn áo bạc. Mấy can qua.”
(Đêm, rượu trên đèo Hải Vân. Mùa tình, xin kịp gặt, trang 32).

Còn nhiều lắm nỗi lòng riêng tư như vậy, nhưng có lẽ thơ của Đức Phổ không dừng lại ở mỗi một bến bờ riêng lẻ ấy. Qua các vần thơ của anh, người đọc còn bắt gặp những người tình của một thời, những giai nhân của một thuở, những bến mộng của một đoạn đời, luôn luôn là niềm lưu luyến trong thơ anh. Ta thử nghe anh kể về một lần “sóng gió đời tôi khi xa em”:

Sóng rất nhẹ như không phải sóng
để chân cầu bịn rịn bóng ai qua
để lòng cầu ngơ ngẩn ánh sương sa
khi bóng hồng em giáng xuống.

Gió rất nhẹ không đủ làm tóc rối
bàn tay ai ngượng nghịu vuốt hờ
nước lặng đủ soi bờ vai nhỏ
in hình tôn nữ chớm đôi mươi.”
(Một chỗ về, trang 88)

Nhưng có ai ngờ, rồi ra, có những người tình như “kẻ lỡ đường” chợt dừng chân ghé lại một “quán vô thường” bên bến vắng giữa đường nào đấy giữa dòng đời :

“Ai ngờ em, kẻ lỡ đường
ghé qua tôi, quán vô thường tìm vui.
Ai ngờ tôi, quán yêu đời
mở vòng tay, vỡ tiếng cười nhân gian.”
(Ai ngờ. Một chỗ về, trang 100)

Không phải thế! Không phải những người tình nào cũng là những “kẻ lỡ đường” như thế. Bởi chuyện tình yêu không chỉ chẳng “ai ngờ”, mà chàng thi sĩ cũng chẳng riêng gì là quán nhỏ. Ở đó, nó còn là một tâm hồn còn nồng ấm của những lần tao ngộ, hẹn hò. Thế nên, khi không gặp lại nhau dù chỉ một lần, nhà thơ của chúng ta phải đành hạ bút nên mấy vần thơ thê thiết lắm:

“chiều không có em chiều tôi buồn ghê
hồn lê thê nỗi nhớ lê thê
khung trời xưa khung trời xưa
bên ấy
vun trồng tôi kỷ niệm bên này.”
(Chiều giăng vàng, phấn thông. Mùa tình, xin kịp gặt, trang 48)

Nhưng không phải lúc nào Đức Phổ cũng chìm vào cõi mộng mơ của những cuộc tình, anh còn có những câu thơ mang chút triết lý mà rất thật, mang chút suy tư mà rất gần. Anh thật với cuộc đời và anh gần với bằng hữu như “những sớm mai, còn nhớ được”:

“sớm mai gió tạt phên lòng. Bợn

mấy giọt phù hư rẻ rúng đời

mượn nhau rót tạm lời thương tưởng

cũng đủ ngời sương một khoảng trời.


sớm mai vuốt mặt trôi dòng nước

mát, chảy trần gian trăm lá rơi

rụng, về xuôi nhánh sầu thủa trước

khi ngọn ngành thắp lửa chia môi.


sớm mai thân sóng ôm triền đá

mây trời u tịch chẳng buồn trôi

nhớ nhau. Môi thẹn lời yêu dấu

hồn xanh rêu mưa mọc kín trời


sớm mai ngắm là buồn trong bụng

môi bỗng vô duyên rón rén mời

điếu thuốc đầu ngày phê tận mạng

trách chi tình động phiến ly bôi.


sớm mai thức sớm dường chưa ngủ

mắt ngáp, dài cơn mộng rã rời

người đi rụng cả trời chia biệt

chăn chiếu đơn hàn khóc lẻ loi.”

(những sớm mai, còn nhớ được. Mùa tình, xin kịp gặt, trang 47)

blank

Được biết đây là những vần thơ tác giả đề tặng các bằng hữu như Hoàng Lộc, Lâm Chương, Phan Xuân Sinh, Nhật Nguyễn & Hửu Việt, Nguyễn Khánh Hòa, và Nguyễn Thị Thảo An, những người bạn làm thơ viết văn như anh và họ thường có những buổi tương ngộ rồi lại chia tay mỗi người mỗi ngả, và buổi chia tay nào mà không buồn, không để lại một khoảng vắng giữa đời, nhưng ở đây, với Đức Phổ, vốn là một tâm hồn nghệ sĩ chí tình, nên anh đã hạ hai câu kết vừa tha thiết, vừa cảm động, vừa gợi hình vừa gợi cảm, làm cho “những sớm mai, còn nhớ được” như một triết lý sống, một nhân sinh quan đầy tình người giữa bao dâu biển bọt bèo:

‘người đi rụng cả trời chia biệt
chăn chiếu đơn hàn khóc lẻ loi”

Nhân nhắc đến tứ thơ trong thơ Đức Phổ, có lẽ cũng xin mời bạn thưởng lãm thêm vài câu thơ nữa mang tính nhìn thế sự qua đi như “sầu rọi xuống chân đời”:

“đêm chật chội gió luồn ngõ vách

rùng mình, da diết lạnh chen vai

bên sông đò hụt nằm trơ bãi

buồn tênh con sóng liếm eo bờ.


ngõ vắng, đèn khuya chao chiếc bóng

lung linh, sầu rọi xuống chân đời

quyết mở then hồn, thôi cài giậu

thử người hò hẹn, dám sang không(?)


đường xa ải vắng kêu không thấu

khản cổ mòn hơi, lòng chẳng mòn

khuyết trăng chỉ ngại người sương tuyết

vai lệch xô nghiêng gánh, nửa đường.


mộng đứng chông chênh không đậu được

bến tình, bão dữ cuốn phăng neo

giữa khuya hồn dậy trăm con nước

về hùa, cơn lụt bỗng hùa theo.


có phải khóc không mà mắt ướt

khi đời ráo hoảnh bóng trăng soi

sầu chở đầy khoang, sầu dựng ngược

ngỡ ngàng, bờm giục, ngựa về xuôi.”

(trong Mùa tình, xin kịp gặt, trang 78)

Qua hai bài thơ mà chúng tôi vừa trích dẫn để nói về một tứ thơ mang tính triết lý nhìn đời, thơ Đức Phổ mang cái nét cổ điển khi diễn đạt những lúc tâm hồn đầy xúc đỘng qua những câu thơ bảy chữ này, nhưng tác giả đã làm mới được thơ anh bằng những chữ dùng rất lạ như “mộng đứng chông chênh”, “ráo hoảnh bóng trăng”, “sầu chở đầy khoang”, “sầu dựng ngược”.

Thơ Đức Phổ còn lan tỏa ra nhiều khía cạnh khác của đời sống. Nét rất riêng trong thơ anh là nghĩ ngợi về cuộc đời, về con người, về những bước chân đời trôi nổi bềnh bồng qua những bến bờ quen lạ cùng khắp đó đây, vui ít buồn nhiều:

“Gánh đời bán mãi không vơi
rao khan phố chợ. Hoa cười. Môi em
cuối ngày gánh nặng, đầy thêm
ai vô tâm. Chất đầy lên gánh đời?”
(Vô tâm. Một chỗ về, trang 105)

hoặc như:

“sớm mai thức nắng bên bờ giậu
mấy đám mây đen ngủ muộn màng
trời đất buồn như hồn thương nữ
khóc ròng xiêm áo buổi ly tan.

chén rượu. Cuộc cờ. Đã nhẵn mặt
ngọn bút hào hoa gánh mớ đời
qua truông. Mới biết lòng đơn bạc
muốn níu chân ngày. Mây vẫn trôi…”
(Tri thiên mệnh. Mùa tình, xin kịp gặt, trang 160)

Tóm lại, qua những vần thơ với phong cách riêng rất Đức Phổ, tác giả đã chia sẻ cùng người đọc những câu thơ về nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ quê đầy tình người, những tứ thơ vừa ý nghĩa, vừa thâm thúy, những thể thơ không mới mà lạ nhưng vô cùng ý nhị làm cho thơ anh không xa cuộc đời và rất gần với con người. Thơ là thể loại văn chương nhiều cảm xúc bởi ngôn ngữ thơ nó phát ra từ trái tim, từ tâm hồn của thi sĩ. Thơ của Đức Phổ làm rung động người đọc là cũng nhờ chất thơ rất thật, rất tình người và ngập đầy xúc cảm ấy vậy!

Lương Thư Trung
(từ: hocxa.com)

Phụ chú:
1/ “Một chỗ về” của Đức Phổ, nhà Xuân Thu xuất bản, năm 2000, California, Hoa Kỳ.
2/ “Mùa tình, xin kịp gặt” của Đức Phổ, tạp chí VĂN xuất bản, 2002, California, Hoa Kỳ.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, February 23, 20219:37 AM(View: 79)
Trong thời gian từ hơn mười năm nay, Tủ sách Tiếng Quê Hương của nhà văn nhà báo UyênThao phụ trách đã phát hành rất nhiếu tác phẩm giá trị của các tác giả trong và ngoài nước. Nỗ lực này nhằm góp một tiếng nói của người viết văn nêu lên thực trạng xã hội
Saturday, February 20, 20217:16 AM(View: 241)
Nghe tin Nguyễn Lương Vỵ mất ngày 17-2-2021, tôi thật bàng hoàng. Dù biết Vỵ mổ tim đã gần ba năm, một cuộc mổ tim lâu lắc đến hai lần, lần đầu 8 tiếng đồng hồ, chưa thành công,
Wednesday, February 17, 20219:20 AM(View: 186)
Thi sĩ Đoàn Vị Thượng vừa bước lên chuyến xe chạy về thiên cổ sau thời gian chống chọi với bệnh tật ngặt nghèo. Dẫu biết không sớm thì muộn người thi sĩ ấy cũng sẽ vĩnh viễn rời bỏ cõi nhân sinh này,
Sunday, February 14, 20218:43 AM(View: 163)
Trước năm 1975, hằng năm tạp chí Văn thường có một số phát hành vào mùa xuân mang tựa đề “Đầu Xuân Lộc Mới”. Trong ý hướng ấy, chúng tôi mượn cụm từ này và tranh bìa từ tập san Văn số 125 ngày 1-3-1969 cho Thư Quán Bản Thảo số 91 để giới thiệu một lộc quí hiếm trong sinh hoạt văn học ngoài nước
Monday, February 8, 20219:00 AM(View: 173)
Chữ phong tục đây hiểu theo một nghĩa rất rộng, chỉ tất cả cái gì đã thành nếp, thành nền trong sự sinh hoạt vật chất tinh thần, cá nhân đoàn thể. Tác giả chia làm 3 thiên: phong tục trong gia đình