DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,161,632

Sài Gòn: Nhà Thơ, Nhà Nghiên Cứu Nguyễn Tôn Nhan bị tai nạn xe đã chết

Sunday, February 6, 201112:00 AM(View: 38997)
Sài Gòn: Nhà Thơ, Nhà Nghiên Cứu Nguyễn Tôn Nhan bị tai nạn xe đã chết

Sài Gòn: Nhà Thơ Nguyễn Tôn Nhan bị tai nạn giao thông,


đã chết


 Nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan vừa đột ngột qua đời sau một tai nạn giao thông trên đường Nguyễn Thị Minh Khai - TP.SG ngày 31-1, ngay khi sắp bước qua sinh nhật lần thứ 63 của ông.

Nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, vào khoảng 17h20 chiều 31/1 đi xe gắn máy trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (Q.3 TP.Sài Gòn) hướng về vòng xoay Nguyễn Văn Cừ. Khi đến trước số nhà 484 NTMK P.2,Q.3 thì va chạm với 1 xe gắn máy chạy cùng chiều (xe máy này chạy khỏi hiện trường). Vừa lúc này xe đò loại 47 chỗ do tài xế Nguyễn Tân Quang (44 tuổi, ngụ Cam Ranh, Ninh Hòa, Khánh Hòa) vừa trờ tới tránh không kịp nên đã cán qua đầu làm nhà thơ chết tại chỗ.


nguyentonnhan-content

Nguyễn Tôn Nhan tên thật là Nguyễn Hữu Thành sinh ngày 1-2-1948 tại Cẩm Giàng, Hải Dương, ông lớn lên ở Sài Gòn và chuyên nghiên cứu Hán học, làm thơ, dịch sách, soạn các bộ từ điển quan trọng như: Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc, Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc, Từ điển danh nhân Trung Quốc, Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng.

Đặc biệt bộ Nho giáo Trung Quốc dày hơn 2.000 trang ra mắt độc giả cách đây 6 năm đã gây được tiếng vang lớn trong học giới Việt Nam về một công trình dịch và chú giải công phu, nghiêm túc. Ngoài ra còn phải kể đến bộ sách Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, cũng là một công trình biên soạn đồ sộ, đóng góp rất nhiều cho học giới chuyên ngành nghiên cứu Trung Quốc và văn hóa phương Đông. Ông cũng dịch một số tác phẩm lĩnh vực văn học, triết học như Hoài Nam Tử (1.400 trang), Đại từ điển thơ Đường, Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh…

Ông làm thơ từ năm 1967 với tập thơ đầu tay Thánh ca, sau đó là Lục bát ba câu. Ông từng tự đánh giá mình: “Con người nghiên cứu của tôi rất nghiêm túc; còn con người thi ca của tôi thì phóng túng”. Sự nghiệp của Nguyễn Tôn Nhan chủ yếu là nghiên cứu về Trung Quốc học, về Nho giáo với hơn 50 tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật như: Dịch và chú giải Nho giáo Trung Quốc, Lão Tử Đạo đức kinh, Trang Tử Nam hoa kinh, Xung Hư chân kinh, Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc, Từ điển Hán-Việt văn ngôn dẫn chứng, Từ điển danh nhân Trung Quốc, Bản lĩnh Hiểu Lam, Bạch phát ma nữ truyện... Đặc biệt, Nguyễn Tôn Nhan được giới nghiên cứu đánh giá rất cao với các bộ Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc (1.521 trang), Hoài Nam Tử (1.400 trang), Đại từ điển thơ Đường (dịch và chú giải 2.000 bài thơ Đường). Về lĩnh vực nghiên cứu, ông cũng tự đánh giá về mình: “Không bằng cấp, không học hàm, học vị, tôi chỉ là kẻ tạm trú, rong chơi trong đó, lâu dần thành ra thường trú”.

Bây giờ, ông đã ra đi bất ngờ ở tuổi 63, như một bài thơ trong Lục bát ba câu của ông: “Mạng thân gửi lại cho em/Thiết tha anh đến mép viền vô vi/Thõng tay chẳng đem chút gì”, nhưng không, ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm nghiên cứu rất có giá trị

Bạn bè văn chương và học giới đều ngỡ ngàng trước sự ra đi đột ngột của nhà thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan, có người bàng hoàng vì mới hai tuần trước đây còn ngồi với ông trong bữa sáng tại quán ăn hương vị Quảng Nam ở Sài Gòn. Nay học giới Việt Nam mãi mãi mất ông, đây thực sự là một niềm đau dù trước tác của ông để lại thật đồ sộ.

Linh cữu nhà nghiên cứu Nguyễn Tôn Nhan được quàn tại nhà riêng: 347/22 Bùi Đình Túy, P.24, Q. Bình Thạnh - TP.SG. Lễ viếng từ sáng 1-2, đến 6g ngày 2-2, lễ động quan và đưa đi hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

Nhớ trước đây hơn một năm, Nhà Thơ Nguyễn Tôn Nhan có đi du lịch tại Mỹ, và đã gặp gỡ nhiều bạn văn nghệ hải ngoại trong bữa tiệc tại nhà nhà thơ Thành Tôn. Hôm đó có sự hiện diện của Đạm Thạch, Nguyễn Nam An, Đặng Phú Phong, Nguyễn Quốc Trụ (từ Canada), Trần Yên Hòa - Khánh Hồng, anh chị Thành Tôn, Nhật Ngân, Phạm Phú Minh. Nay thì Nguyễn Tôn Nhan không còn nữa.

Nhóm chủ trương Bạn Văn Nghệ xin thắp nén hương cầu nguyện cho hương hồn nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan sớm về cõi Vĩnh Hằng.

BVN-TH


Sau đây, để tưởng nhờ nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, BVN xin trích bài phỏng vấn Nguyễn Tôn Nhan mới nhất, từ trang mạng Văn Chương Việt.org


Trong gần chục năm nay, Nhà Hán học Nguyễn Tôn Nhan liên tục cho ra đời những bộ sách công phu, đồ sộ hàng ngàn trang như Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc, Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc, Từ điển danh nhân Trung Quốc, Bách khoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc, Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng…; và gần đây là bộ Nho giáo Trung Quốc, hơn 1.700 trang. Chúng tôi có cuộc trò chuyện khi biết tin ông sắp chuyển nghề qua dịch truyện kiếm hiệp - một chuyện lạ.

 

Ông bắt đầu làm việc với chữ Hán từ khi nào?

Năm 1988. In cuốn đầu tiên năm 1989. Nhưng tôi chỉ nhớ tên cuốn thứ 2 đã dịch là Xung hư chân kinh (Nxb Văn Học, 1989) của Liệt Tử; bản dịch đầy đủ nhất từ trước tới giờ.

 

Tại sao sách mình dịch mà lại không nhớ tên, hay do cuốn đầu tay có nhiều sai sót mà ông không muốn đề cập đến?

Từ trước năm 1975 tôi đã có dịch rồi [dịch một tập thơ Đường, khoảng 200 bài, dạng bản thảo _ TT&VH], sau đó tôi cũng thường xuyên luyện dịch nên không đến mức sai như anh nghĩ. Có điều những cuốn sách tôi dịch đứng tên khác (tạm gọi tên thương mại) đã lên tới 40 cuốn, những cuốn đứng tên mình cũng trên 10, làm sao nhớ hết và làm sao có thể trả lời ngay khi anh hỏi.

 

Ông bắt đầu học chữ Hán từ năm nào? Sao mãi đến năm 1988 mới bắt tay làm sách?

Giữa lúc mọi người thi nhau học Anh ngữ (năm 1967), thì tôi lại khoái chí với chữ Hán. Bố tôi thuộc dòng dõi Nho học, gốc ở Cao Xá, Cẩm Giang, Hải Dương; ông nội tôi đi thi kỳ Hương cuối cùng ở phía Bắc năm 1906. Một hôm thấy bố tôi viết chữ Kỳ, tôi nghĩ ông đã viết sai, nên bắt đầu lôi sách ra học, sau 6 tháng thì tôi đọc được Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung; và học mãi đến bây giờ… Còn tại sao đến năm 1988 mới ra sách ư? Vì lúc ấy chớm đổi mới và cũng bắt đầu xuất hiện các đầu nậu sách.

 

Được biết ông chỉ làm sách với các tư nhân, vì sao vậy?

Vì quen rồi. Với lại sức của tôi có hạn, làm sao chu toàn được nhiều. Cũng nói thật, tôi thích làm sách với đầu nậu hơn vì biết trước được giá cả, sự sòng phẳng, mau lẹ và họ chịu đầu tư dài hạn, nghiêm túc.

 

Có khi nào ông nghĩ các đầu nậu thích làm việc với mình là do cái 'logo' Nguyễn Tôn Nhan?

Thì cũng cố gắng tạo một chút thương hiệu để làm việc lâu dài. Nhưng tôi nghĩ cái tên không quan trọng đâu, nội dung cuốn sách mới là yếu tố quyết định. Bằng chứng là có rất nhiều cuốn tôi không đứng tên nhưng "cập thời vũ" hơn thì bạn đọc chọn lựa nhiều hơn; tính tham khảo phổ thông hơn. Còn căn bản, những sách tôi đứng tên thì bán chậm và cũng hơi kén độc giả.

 

Vậy là ông lấy sách bán nhanh để nuôi sách bán chậm, đầu tư nhiều tâm huyết?

Không! Tôi làm theo đặt hàng nhưng không phải cái gì cũng làm. Có những loại sách bán rất chạy, tôi biết chắc, như sách phong thuỷ chẳng hạn, nhưng tôi không thích thì không làm. Ngược lại, tôi còn phải gợi ý đề tài cho các nhà làm sách nữa đấy.

 

Nghe nói ông sắp dịch bộ kiếm hiệp đầu tiên?

Trước đây tôi đã dịch nhiều, nhưng không ký tên. Còn bộ dịch vừa xong của Lương Vũ Sinh, có tên Bạch phát ma nữ truyện, khoảng 1000 trang. Lương Vũ Sinh là tác gia được xếp vào hàng Tam tổ [cùng với Kim Dung và Cổ Long _ TT&VH] của Tân phái võ hiệp; tác phẩm của ông đầy chất văn học, bám sát văn hoá và lịch sử Trung Quốc. Tôi thích văn hoá, lịch sử và văn học mà.

 

"Bạch phát ma nữ truyện" đã từng dựng thành phim và đã chiếu tại VN. Vậy thì trước đây, khi dịch "Bản lĩnh Kỷ Hiểu Lam" và những cuốn khác, ông cũng dựa vào yếu tố 'điện ảnh hoá' này để quảng cáo việc bán sách dịch?

 Tôi có buôn bán gì đâu mà cần quảng cáo với tiếp thị, làm theo đặt hàng mà. Lúc tôi dịch Kỷ Hiểu Lam cũng như vài cuốn khác, thì ở VN, công chúng đâu có mấy người biết những nhân vật này là ai. Các nhà làm sách thêm hai chữ 'bản lĩnh' vào cho bạn đọc dễ hiểu. Ai ngờ, sau đó truyền hình phát phim này và cũng trùng tên luôn.

 

Trong các bộ sách đã dịch và đã soạn, ông cảm thấy ưng ý với bộ nào nhất?

Bộ Bách khoa thư văn hoá cổ điển Trung Quốc tạm làm tôi hài lòng nhất, vì cả ở nội dung và cách trình bày. Bộ thích hơn tôi đang làm, bộ tương đối thích sắp làm và bộ thích nhất thì chưa làm. Bộ sách tôi thích nhất còn chưa ra đời mà…!

 

Vậy mấy bộ đó có tên là gì?

Tôi đang làm bộ Giải thích thuật ngữ văn hoá Trung Quốc khoảng 1500 đến 2000 trang, sắp làm bộ Hoài Nam tử, sách tổ của Đạo gia Trung Quốc, bộ này cũng khoảng 1500 trang.

 

­Thế còn bộ toàn sử hơn 5000 trang, có lần ông đã đề cập đến?

Đó là dự định mà tôi đã và đang ôm ấp trong khoảng 5 năm nay, nhưng chắc chưa làm được vì chưa có ai có gan đầu tư. Để làm bộ này, phải mất hơn 4 năm, và mỗi tháng phải chi trả đủ tiền cho tôi sống bình thường.

 

Anh thấy việc mưu sinh với chữ Hán thế nào?

Hiện nay, tôi thấy khả quan. Bởi với tôi, sống được là tốt rồi. Những người khác nghĩ thế nào thì không biết; tôi thì cho rằng, không riêng gì với chữ Hán, nếu không mưu sinh được thì rất dở. Tôi cũng có một thời kỳ rất dài… làm người rất dở.

 

Ông quan niệm về việc dịch thế nào?

Chủ đích của việc dịch là không cần phải theo sát nguyên tác, mà phải hay hơn nguyên tác. Chủ yếu là phải Tín và Đạt; còn Nhã hay không thì do tài năng của người dịch. Mà khái niệm thế nào là dịch Nhã (dịch hay) thì vô chừng lắm.

 

Trong số sách đã dịch, ông nghĩ mình đã có cuốn nào đạt trình độ Nhã chưa?

Chưa. Tại vì, có thể khả năng của tôi chưa tới; hay tôi đang trên đường tìm tới cái Nhã.

 

Những dịch giả tiền bối, có nhiều người đạt trình độ Nhã hay không?

Nhiều chứ. Người tiêu biểu và đáng kể nhất là Nhượng Tống, một dịch giả uyên bác và tài hoa, các bản dịch Ly tao, Tây sương ký… của ông ta đến bây giờ vẫn là mẫu mực, chưa ai có thể dịch hay hơn. Ngay cả Đào Duy Anh, khi dịch Sở từ của Khuất Nguyên, đến bài Ly tao thì cũng lấy lại bản dịch của Nhượng Tống để in vào sách, đề tên N.T. dịch, xem như phần tham khảo chính.

 

Vì sao ông là một nhà thơ mà lại chưa in một tập thơ dịch nào?

Dịch thơ ở VN phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, tôi rất thích Lý Hạ và đã dịch một phần nhưng chưa biết in ở đâu. Nếu có nơi in, tôi sẽ dịch Vô đề (khoảng 60 – 70 bài) của Lý Thương Ẩn; sau đó là một tác giả cận hiện đại, thế kỷ 19, Tra Thận Hành, ông tổ của Kim Dung. Ngoài ra, Quách Mạc Nhược, Hồ Thích, Văn Nhất Đa, Từ Chí Ma, Nạp Lan… cũng là những tác giả mà tôi rất quan tâm.

 

Đến bây giờ, nếu phải nhìn lại chặng đường học & làm sách của mình, ông sẽ nói sao?

Học chữ Hán từ năm 1967, lập gia đình và sinh con đầu vào năm 1972, mãi đến năm 1987 tôi vẫn là người thất nghiệp. Ròng rã trong 20 năm, vừa do trốn lính (trước 1975) vừa do thất nghiệp, có lẽ thế mà tôi đã có thời gian để học và đọc. Học để quên cái đói. Một thời gian dài, vợ tôi [Quỳnh Hương, tác giả của hơn 50 cuốn sách nữ công gia chánh nổi tiếng_ TT&VH] là người xoay xở may vá loanh quanh, ăn bữa nào lo bữa ấy. Cho nên khi có điều kiện viết sách, trước hết, tôi xem đây là cơ hội để kiếm tiền tồn tại, để phụ vợ nuôi con, nuôi cháu; và đến bây giờ, tôi vẫn giữ quan điểm này.

 

Nhiều gian truân như vậy, các con ông có theo ngiệp cha không?

Tôi có 3 đứa con, hai trai một gái; trai lớn là thạc sĩ xây dựng, con gái học ngành giáo dục ở Tokyo Học nghệ Đại học [Tokyo Gakkugei Daigakku]; còn đứa út cũng học tại Nhật, ngành công nghệ thông tin ở Tokyo. Ban đầu tôi cứ tưởng vậy là yên thắm rồi, không đứa nào theo nghiệp sách vở, chữ nghĩa, tư tưởng… thì đỡ khổ thân cho nó. Nhưng một ngày con trai lớn tôi bỏ ngành xây dựng, đi học thư pháp ở Chợ Lớn, rồi qua Nhật học Phật học, hiện nay nó đang chuẩn bị bảo vệ luận văn tiến sĩ Phật học tại Đại Cốc Đại học [Otani Daigakku]…, nơi mà trước kia thiền sư D. Suzuki đã học; nhà tôi thành cảnh hai nơi, hai vợ chồng già và một cháu nội sống tại VN, ba đứa con sống tại Nhật, con dâu thì đi đi về về. Cái nghiệp chữ nghĩa nhiều khi cũng có di truyền là vậy. Nhưng tôi cũng thấy chuyện này là bình thường, không lấy làm vui mừng hay phàn nàn gì cả.

 

Ông ở Ngu Cốc [tên hiệu], con trai lớn thì học ở Đại Cốc, ông nghĩ sao về điều này?

Để biết thế nào là Ngu Cốc, nhà thơ Nguyễn Đức Sơn có làm bài thơ giễu bút hiệu của tôi treo ở trước cửa nhà, tôi nghĩ báo của anh không chịu in bài này đâu [cười]… Còn từ Ngu Cốc đến Đại Cốc, thì cả một quá trình, biết đâu con hơn cha, nhà sẽ có phúc thôi.

 

Một câu hỏi bên lề, Thư Ấn Quán vừa in tập "Lục bát ba câu" của ông, gồm 229 bài. Nghe nói nhà thơ Huy Tưởng cũng có làm thể loại này, vậy bản quyền phát kiến thuộc về ai đây?

Trong tập này, tôi ghi chú là viết năm 1990 đến 1996, nhưng thực tế tôi chỉ làm có 10 ngày là xong, Trụ Vũ có chứng kiến điều này. Theo nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ thì nhà thơ Huy Tưởng có tranh chấp về 'phát kiến' này; tôi thì không quan trọng lắm, cốt là phải viết như thế nào thôi. Chưa nói thực tế, Huy Tưởng chỉ làm 'những bài 14 chữ' thôi, chứ đâu phải 'lục bát ba câu', 20 chữ.

 

Hoàn tất vài cuốn sách nữa xem như đã hoàn thành ước nguyện, lúc ấy ông sẽ nói gì với vợ con mình cũng như với người đọc?

Như bài số 226 trong tập thơ của tôi:

 Mạng thân gởi lại cho em

 Thiết tha anh đến mép viền Vô Vi

 Thõng tay chẳng đem chút gì.

Từ vanchuongviet.org


Trích thơ

Nguyễn Tôn Nhan

 


 Xuân ban đầu


bài thơ xuân nào run lẩy bẩy
bến tầm dương say vấy hồn trinh
em ơi khờ dại một mình
và xa dội một tiếng kình gõ mau
 
bài thơ xuân quên mất nhau
khờ em đâu nhớ những màu tơ xưa
ồ thơ đưa đẩy đã bưa
sóng xô đời đã kịp vừa biệt tăm
 
biệt cả tăm lẫn tằm
say đằm vai mỏng mảnh
mưa sài gòn sủi tăm
anh lang thang vô ảnh
 
trời ơi nước sóng sánh
trời đất vào mùa đầu
hay mùa cuối nhòa nhau
mắt đỏ màu máu thốn
 
hai với hai là bốn
sương muối xuống ào ào
bài thơ nào lẩy bẩy
xa xôi còn muốn chao
 
cái xuân xoan chẳng cuối đầu
như anh chưa hiểu hết màu ái ân
 
cứ lên gân lên gân tới nữa
đến thân tàn nhụy rữa mới thôi
 
đất trời ôi ôi ôi ôi
sài gòn nát cả mùi hôi ban đầu.
 
(Sài Gòn, Giêng 2011)

 

 

Gửi cho cõi im lặng



Rồi người đi tóc bỏ đuôi gà

Tôi lao đao về những sân ga

Chiều hôm hoa nở cành chim chết

Tặng cho người đôi cánh lông khô

 

Tôi giang hồ như triệu bóng mây điên

Biết về đâu người biết đâu tìm

Đời tan nát cả lòng bia mộ

Mây cũng không mầu mây cố nhiên

 

Rồi người đi tôi khóc ướt đồi

Mưa xuống cho hồn lạnh chết thôi

Thiên nhiên xanh quá tôi vừa thấy

Cũng đủ cho tôi dại cả đời

 

Chiều vui trời ướt nhẹp mây gù

Sãi về chùa, tôi sắp theo tu

Người không biết được thầy tăng nhỏ

Đã nhớ người rên suốt đêm thu

 

Người đâu biết được cụm mây kia

Nhớ run em, nên đã theo về

Nơi tôi có triệu cành vô sắc

Gửi cho người chết ngợp đam mê

 

Tôi nằm nghe cây chuyển nhựa non

Bóng thiên thâu một mảnh trăng còm

Tôi nhớ vô cùng con dế gáy

Tóc người gầy dãy dụa bay điên.

 

 

 

Chiều chiều



Sáng hôm nay mặt trời xanh

Nàng giữ trên môi bông tuyết nhỏ

Lá trong vườn từng lưỡi dao găm

Nàng giữ trên tay bông tuyết đỏ

Chim không bay đến mái hồn tôi

Nơi cô đơn rêu ngàn năm đã phủ

Nơi vinh diệu của nhửng kẻ u buồn

Nơi sáng hôm nay của tôi của nàng

Của hai kẻ đem phơi hồn ủ rủ

Chiều tôi trở về trên đồi cây

Dưới cành khô có bóng nàng treo cổ.


(Thánh Ca)

 

Năm mặt trăng

 


I

 

Tôi huýt sáo một mình

Rắn hổ mang rắn hổ mang

Chiều đeo gông tử hình

Đồi thông trời rụng rất nhiều bông

Rất nhiều bông quá nhiều bông

Tôi huýt sáo liên miên

Chiều mưa ráng bóng cầu vòng

Tôi quỳ ngó mãi nước trong tim

Tôi huýt sáo một mình

Rắn hổ mang rắn hổ mang

Tôi leo lên đỉnh ráng cầu vồng

Tôi đái cho vũ trụ mù sương

 

 

II

 

Nhả nọc người

Tôi bay lên rừng sương thu

Dơi về cánh rất mỏng

Biển chìm tôi ngã đè

Tôi phán hãy có những mặt trời

Tôi nhận chìm thượng đế

Động máu tươi

Động chút máu tươi tôi trở về

Biển chìm tôi lượn mãi trong khuya

 

 

III

 

Mưa thều thào sắp chết

Mái nhà trắng xoá sọ người

Tôi chìm vào tôi giàn hoa giấy

Cỏ chạm vào tôi mây chạm tôi

 

 

IV

 

Đi giữa phố một mình

Giày da đen đau tim

Tôi hình như rất xám

Trời thả đầy vật buồn

Nhổ lông ra xỉa răng

 

Tôi hình như rất đỏ

Tôi hình như rất vàng

Cuộc đời là hình vuông

Dĩ nhiên vui dĩ nhiên

Có khi như hình tròn

 

Nhổ lông ra xỉa răng

Vũ trụ không hình thù

Nọc ai phun chiều thu

 

 

V

 

Chim đừng kêu chim đừng kêu

Trời đừng chiều trời đừng chiều

Không tôi không biết chết

Chưa tôi chưa ra đời

Một lần thôi cũng nhiều.

 

(Thánh Ca)

BVN-TH


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, March 11, 201112:00 AM(View: 45060)
Nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời ngày 8 tháng 3 năm 2011 tại Houston, Texas, thọ 71 tuổi, theo Cáo bạch ngày 9 tháng 3, 2011 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình
Wednesday, March 9, 201112:00 AM(View: 34554)
Thơ Trần Văn Sơn: chỉ 4 câu thôi là khúc nhạc. Chỉ 4 câu thôi là tấm tranh. Chỉ 4 câu thôi là thấy hết. Chỉ 4 câu thôi mà mênh mang. (trích Khởi Hành số 149). Sinh dưới chân lầu ông Hoàng, Phú Hài, tỉnh Bình Thuận. Hội viên hội văn nghệ sĩ quân đội VNCH. Cộng tác trước năm 1975: Phổ Thông, Thời Nay, Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành..
Saturday, March 5, 201112:00 AM(View: 36098)
Hai câu thơ của Hà Thúc Sinh sâu lắng và đầy hoài niệm, mở toang cánh cửa của một thời đã qua. Thời trăn trở, bất an, điêu linh, nghiệt ngã. Thời quê hương ngập tràn khói lửa chiến tranh. Thời của những hồi chuông báo tử.
Friday, February 25, 201112:00 AM(View: 31602)
Trần Tuấn Kiệt bút hiệu Sa Giang, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1939, tại Sa Đéc và hiện sống tại Sàigon, Việt Nam. Suốt đời TTK sống bằng nghề cầm bút. Ngoài 2 bút hiệu chính trên, vì nhu cầu sinh nhai anh còn dùng nhiều nhiều bút hiệu khác như Việt Thần, Việt Long, Duy Thức...để viết sách võ thuật, truyện thần thoại dân tộc... cho nhà sách Khai Trí và các nhà xuất bản do người Hoa làm chủ và đặt mua. Chủ trương nhà xuất bản Hồng Lĩnh
Saturday, February 19, 201112:00 AM(View: 39801)
Phan Ni Tấn sinh năm 1946, tại Ban Mê Thuột. Sinh Viên Đại Học Khoa Học Sài Gòn, 1969 Sĩ Quan QLVNCH, 1971. Sinh hoạt với Du ca Ban Mê Thuột, 1972. Tù cải tạo CS tại Trại Cải Huấn BMT, 1975. Vượt biên cuối tháng 11/1979 tới Thái Lan. Hiện định cư cùng gia đình tại Toronto, Canada. Đã cộng tác với báo chí tại hải ngoại: Văn, Văn Học, Nhân Văn, Làng Văn, Phố Văn, Hợp Lưu, Hồn Việt, Văn Nghệ, Văn Phong, Diễn Đàn Tự Do, Phụ Nữ Diễn Đàn, Saigon Times...