DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,121,300

Tác Giả Tác Phẩm: Nói chuyện với Trần Yên Hòa - Phạm Phú Minh thực hiện cho Đài Phát Thanh VNCR

Tuesday, February 15, 201112:00 AM(View: 32088)
Tác Giả Tác Phẩm: Nói chuyện với Trần Yên Hòa - Phạm Phú Minh thực hiện cho Đài Phát Thanh VNCR


TÁC GIẢ & TÁC PHẨM



Đài phát thanh VNCR (Nam Cali) trong mục “Tác Giả Tác Phẩm" có cuộc nói chuyện giữa nhà văn Phạm Phú Minh, phụ trách chương trình với Nh
à Văn Trần Yên Hòa về 2 tác phẩm Mẫu Hệ và Áo gấm Về Làng mà ông đã xuất bản.

Sau đây là nội dung cuộc nói chuyện.



phamxuandai_1_-content

  Nhà Văn Phạm Xuân Đài (Phạm Phú Minh)



VNCR, Hồng Nga: Thưa quý thính giả.

Khác với hai tuần vừa rồi mục Tác Giả và Tác Phẩm đã mời quý vị nghe về một tác giả của dĩ vãng thuộc vào tiền bán Thế Kỷ 20 là Phan Khôi. Tuần nầy chúng tôi xin quay trở lại về hiện tại, để giới thiệu một tác giả tương đối còn trẻ và hai tác phẩm vừa xuất bản. Đó là Nh
à Văn Trần Yên Hòa và hai tác phẩm:

  • Mẫu Hệ, truyện dài.

  • Áo Gấm Về Làng, tập truyện ngắn.

Để giới thiệu hai tác phẩm với quý vị thính giả đài VNCR, chương trình Tác Giả Tác Phẩm hôm nay đã mời tác giả Trần Yên Hòa tới đài VNCR để hầu chuyện cùng quý vị.

Sau đây là trao đổi giữa nhà văn Phạm Phú Minh, phụ trách mục Tác Giả Tác Phẩm với Nhà Văn Trần Yên Hòa.


PPM (Phạm Phú Minh) : Chào anh Trần Yên Hòa. Sau nhiều năm tháng được quen biết với anh, đã nhận nhiều chuyện của anh để đăng trên Thế Kỷ 21 mà tôi phụ trách, nhưng hôm nay lại là lần đầu tiên được gặp gở anh tại phòng vi âm của đài VNCR. Lý do thì anh đã biết rồi, là trong tháng 4 vừa qua, anh đã cho ấn hành hai cuốn sách của mình, và chúng tôi thì muốn giới thiệu anh và tác phẩm của anh với quý thính giả của đài VNCR. Vậy xin anh cho biết hai tác phẩm nầy.

TYH (Tr
ần Yên Hòa): Kính thưa nhà văn Phạm Phú Minh, thưa thính giả Đài VNCR.
Trong tháng tư vừa qua nhà xuất bản Thế Kỷ đã cho xuất bản 2 cuốn sách mới của tôi, đó là truyện dài Mẫu Hệ và tập truyện ngắn
Áo Gấm Về Làng.

PPM: Chúng ta nên bắt đầu phần tác giả trước, vì phải có người viết thì mới có tác phẩm được viết. Để độc giả biết về anh, xin anh cho biết đôi dòng về tiểu sử..

TYH: Thưa anh, tôi tên thật là Trần Văn Hòa, viết văn, làm thơ lấy bút hiệu là Trần Yên Hòa. Tôi sinh ngày 20 tháng 12 năm 1947 tại xã Kỳ Mỹ, quận Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Theo học trường Trung Học Trần Cao Vân trong suốt thời gian Trung Học. Đậu tú tài phần 2 niên khóa 65-66. Vào Sài Gòn học tại Đại Học Luật Khoa. Sau đó đi dạy tại trường Trung Học Mộ Đức, Quảng Ngãi và tại trường Lý Tín, Quảng Tín. Cuối năm 1968, tôi tình nguyện thi vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, khóa 2 SVSQ, ra trường ngày 19/2/1971. Khi ra trường, đổi về sư đoàn 2, trung đoàn 6 bộ binh, về đại đội lẻ tác chiến. Đến năm 1973, tôi được thuyên chuyển về làm sĩ quan Thanh Tra tai Văn phòng Tổng Thanh tra Quân Đoàn I và Quân khu 1.
tại Đà Nẵng.
Sau 30/4/75 đi tù, về năm 1981, đi kinh tế mới ở Tân Biên, Tây Ninh. Sau về Sài Gòn làm đủ mọi nghề, vá sửa xe đạp lề đường, bán bánh bò bánh tiêu, đạp xe xích lô, bỏ hàng phụ tùng xe đạp…Sang Mỹ tháng 3/1995, làm công nhân hãng Mỹ.


thivansi_tranyenhoa


PPM: Theo tôi biết thì anh cầm bút khá lâu, từ trước năm 75. Xin anh cho biết quá trình viết của anh?

TYH: Thưa anh, nếu kể, từ hồi con học trung học, lớp đệ ngũ đệ tứ gì đó tôi đã làm thơ và viết truyện. Truyện ngắn đầu tiên đăng trên tờ Hoa Đàm khoảng năm 1964, một tờ báo Phật Giáo ở Quảng Tín ký tên là Thùy Phương Linh và thơ tôi đăng ở Tiểu Thuyết thứ năm, tuần san Thứ tư, ký tên là Th
ùy Phương Linh, Trần Hoài Huyền. Đến năm 1968 tôi mới lấy tên Trần Yên Hòa, đăng thơ trên tờ Tui Ngọc, Khởi Hành, truyện đăng trên nhật bào Tiền Tuyến và các đặc san Quân Đội.

PPM: Trong thời gian đó đến nay anh đã cho ra đời bao nhiêu tác phẩm rồi?

TYH: Thưa anh, 5 tác phẩm, 2 tập thơ, 2 tập truyện ngắn và một truyện dài. Tập thơ đầu tiên là tập Lời Ru Tình, in chung với một số anh em làm thơ cùng khóa 2/CTCT ở Đà Lạt, đầu năm1971, ngày bọn tôi sắp xuống núi.

PPM: Sau khi ra trường, tức là bắt đầu sống đời quân ngũ, anh có viết không?

TYH: Thưa anh! Khi ra trường tôi bị đổi đi đơn vị tác chiến. Tuy mang danh là SQ/CTCT nhưng đi hành quân như điên. Như anh biết đó, ngành CTCT trong quân lực VNCH lúc đó chỉ để trang trí thôi chứ không có thực quyền. Tất cả quyền hành là ở trong tay các đơn vị trưởng. Đi hành quân đánh giặc cũng có nhiều cảm hứng và cảm nhận lắm, nhưng tôi không có thì giờ để viết. Thời gian ấy tôi chỉ làm một số bài thơ đăng báo.
Nhưng khi đi tù cộng sản thì bọn tôi được nâng cấp, Sĩ quan CTCT bị lên án gắt gao, ngành CTCT được xếp một trong những ngành nghề ác ôn nhất, nên anh em cùng trường tụi tôi ai cũng ở tù dài dài, phần đông anh em bị đưa ra tận miền Bắc.
Tôi qua Mỹ năm 1995 theo diện HO, tôi tiếp tục viết truyện và thơ đăng trên Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học, Khởi Hành, Người Việt, Sài gòn nhỏ, Thời Luận, Sóng Văn, Hồn Việt v.v…Nay tôi làm chủ bút Đặc San Quảng Nam, tiếng nói của Hội Đồng Hương Quảng Nam Đà Nẵng nam Cali và Đặc San Ức Trai, tiếng nói của Tổng Hội
Ái Hữu cựu SVSQ/TĐH/CTCT/Đà Lạt.

PPM: Theo nhận xét của tôi, anh là nhà văn viết khỏe hiện nay. Và mỗi lần xuất bản, anh cho ra đời 2 cuốn một lúc. Năm 2001, anh xuất bản một tập truyện ngắn và một tập thơ. Ba năm sau, tức là đầu năm nay, 2004, anh lại cho in một tập truyện ngắn và một tập truyện dài. Xin anh giới thiệu 2 tác phẩm mới của anh? Trước hết xin anh nói qua về cuốn truyện dài.

TYH: 2 tác phẩm mới xuất bản của tôi là: Truyện dài: Mẫu Hệ, dày 420 trang. Tranh và trình bày bìa, họa sĩ Hồ Thành Đức, phụ bản của họa sĩ Bé Ký.
Câu chuyện ghi lại giai đoạn từ 30/4/75 đến thời điểm có chương trình HO.
Một cảnh đời bi thảm sau cuộc chiến. Người đàn ông bị tập trung cải tạo, đói khát, bệnh tật, lao động khổ sai, không ngày về. Người đàn bà ở nhà với đàn con dại, bị phân biệt đối xử, phải lao vào đời để kiếm miếng ăn. Những phản trắc, lọc lừa, ngoại tình, xác thịt,
được viết một cách trung thực với đầy đủ vóc dáng và nhân diện của từng nhân vật. Trong truyện còn ghi lại một thời buổi nhiễu nhương của đất nước trước và sau 30/4/75, các tướng công sứ quân cát cư từng vùng. Tôn giáo, Đảng phái, Sinh Viên học sinh tranh đấu rồi Hộ khẩu, lý lịch, tham ô, hủ hóa.


bia_mau_he-content


PPM: Vâng, còn tập truyện ngắn?

TYH: Tập thứ hai là tập truyên ngắn “Áo Gấm Về Làng”, tranh và trình bày bìa cũng do họa sĩ Hồ Thành Đức, phụ bản Bé Ký, dày trên 300 trang, gồm 19 truyện ngắn, có một số truyện đã đăng ơ Tạp chí Thế Kỷ 21 như Áo Gấm Về Làng, Con Đen, Thị Xã, đăng ở nhật báo Người Việt như Hoạt Cảnh Đời, Chuyện Kiều, Hạ Cánh, Quà Tết…
Những truyện đều mang âm vọng một cảnh đời, một bất trắc, một buồn thảm mà chúng ta ai cũng đã trải qua trong những ngày dài tang thương của đất nước.


ao_gam_ve_lang-content


PPM: Thưa quý thính giả, quý vị đang nghe chương trình Tác Giả và Tác Phẩm của đài VNCR trên làn sóng 1190 AM, phát thanh vào cuối tuần. Hôm nay chúng tôi phỏng vấn nhà văn Trần Yên Hòa về hai cuốn sách mới xuất bản của anh, cuốn truyện dài Mẫu Hệ và tập truyện ngắn Áo Gấm về Làng.
Thưa anh Trần Yên Hòa, anh vừa lược qua nội dung của hai cuốn sách mà anh mới cho xuất bản. Cho tôi đi vào chi tiết của một trong hai cuốn đó, cuốn truyện ngắn
Áo Gấm Về Làng.
Với anh, quan niệm truyện ngắn phải viết như thế nào?

TYH: Thưa anh, các truyện của tôi đều có cốt truyện, hoặc bất hạnh hoặc hạnh phúc, nhưng phải lột tả cái thật. Truyện ngắn của tôi không phải là truyện để tuyên truyền hay đã phá, truyện của tôi dàn trải những cảnh đời của những nhân vật, như một cuốn phim chân thật, trung thực trong một cuộc sống nào đó. Tôi không tô hồng và cũng không bôi đen, mà chỉ ghi lại vóc dáng của một cảnh đời, còn yêu thích hay ghét bỏ những nhân vật, đánh giá là ở phần độc giả.

PPM: Đề tài anh viết thường là gì?

TYH: Thưa anh, sau 30/4/75 tôi ở lại, bị tập trung cải tạo, khi được thả ra, trở về sống trong xã hội VN đến những 14 năm, dĩ nhiên tôi nhận chân được ở riêng tôi, ở bạn bè tôi, ở thân nhân, láng giềng hàng xóm tôi, có những cảnh đời, đáng viết nên tôi ghi lại. Đề tài của tôi thường là viết về người tù cải tạo, vợ con tù cải tạo, cán bộ công an cộng sản và những con người trong xã hội đó.
Sau khi qua Mỹ, tôi cũng có viết về những con người VN sống ở Mỹ, người qua trước đối với kẻ qua sau. Nói chung là mọi cảnh đời.

PPM: Thưa nhà văn Trần Yên Hòa, trong một nỗi ưu tư của người viết lách hiện nay là vấn đề xuất bản. Theo phản ảnh của những nhà xuất bản mà chúng tôi được biết, mức độ tiêu thụ sách của người VN tại hải ngoại càng ngày càng sút giảm. Điều nầy cũng có thể hiểu được. Số người đọc tiếng Việt của cộng đồng chúng ta ngày một ít đi, vì thế hệ di dân thứ nhất càng ngày tuổi càng cao và càng hao hụt đi, thế hệ thứ hai đã trưởng thành tại Mỹ lại không rành tiếng Việt. Trong tình hình như vậy, sự tiêu thụ sách càng ngày càng bớt đi, ngày một chậm lại.
Theo kinh nghiệm viết và in sách của anh, đặc biệt là sau hơn một tháng phát hành hai cuốn truyện ngắn và dài nầy, anh thấy tình hình tiêu thụ sách như thế nào?

TYH: Thưa anh, xin nói cho anh mừng, đến bây giờ thì coi như việc phát hành rất khả quan, ngoài một số sách do nhà phát hành Tự Lực nhận phát hành, sách tôi gởi bán ở các tiệm sách ở Little Sài Gòn, còn lại, các bạn bè, thân hữu, bạn đọc quen biết của tôi ủng hộ mua cũng khá lắm. Nhân tiện đây, mượn làn sóng của đài VNCR, tôi xin gởi lời cảm ơn đến các bạn trong gia đình Nguyễn Trãi, cựu SVSQ/TĐH/CTCT/DL, các bạn cựu học sinh thuộc Liên Trường trung học Quảng Nam Đà Nẵng và quý thầy, các đồng hương trong Hội Đồng Hương QNĐN, đã viết thư cổ động, khen tặng và ủng hộ hiện kim.
Thưa anh, có một điều, dù có hơi quá đáng, nhưng tôi cũng nói ra ở đây vì đó là niềm vui của tôi, tôi có nhận một thư của một bạn đọc, đã khen tác phẩm Mẫu Hệ của tôi ngang hàng với tác phẩm “Giờ thứ 25” của Georgiew. Quả thật tôi không giám nhận sự so sánh đó, mặc dù trong lòng tôi rất lấy làm sung sướng và biết ơn khi nghe được một ý kiến như vậy.

PPM: Ồ, được khen và so sánh với tác phẩm Giờ Thứ 25 của Georgiew thì còn sung sướng gì bằng. Đươc so sánh như vậy anh sung sướng cũng đúng thôi, vậy còn lời khen gì nữa không?

TYH: Thưa anh, phần đông những thư nhận được đều khen văn phong tôi viết gọn gàng, dễ đọc, đọc hấp dẫn.

PPM: Còn những phần chê?

TYH: Phần chê cũng không phải là không có, khuyết điểm lớn nhất là lổi chính tả, một vị thầy cũ ở trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng viết phê bình tôi rất chân thành, là khi thầy đọc, thấy lổi chính tả khiến thầy coi như đang đi ngon trớn mà bị một hạt bụi sa vào mắt vậy, làm rất khó chịu. Tôi xin nhận sự phê bình nầy. Cũng có nhiều bạn đọc nói tôi viết nhiều đoạn hơi bạo quá.

PPM: Bạo, bạo nghĩa là hấp dẫn đấy. Anh được coi là người viết sung sức hiện nay. Sung sức thì dĩ nhiên sẽ còn viết nữa. Vậy anh có thể cho biết những dự tính văn học của anh?

TYH: Tôi mong mỏi có đủ nghị lực để tiếp tục ra nhiều đầu sách. Vẫn biết nghề văn là một nghề rất là bạc bẽo và không bao giờ làm giàu được, nhưng tôi vẫn cố theo đuổi. Tôi chỉ mong làm sao tiếp nối được bước đường của các bậc cha ông, các đàn anh văn nghệ của chúng ta đi trước. Trước đây có một Phan Khôi, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, sau nầy có Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Cung Tích Biền và nhiều nữa… tôi mong tôi đi theo con đường đó.

PPM: Anh còn có muốn nói gì thêm với thính giả nghe đài, nhất là các độc giả của anh?

TYH: Tôi xin cảm ơn các thính giả đài VNCR đã theo dõi cuộc nói chuyện hôm nay. Riêng với các độc giả thương yêu đọc sách của tôi, đã viết thư khuyến khích, cổ động và khen tặng tôi, tôi hết sức cám ơn và nguyện cố viết hay hơn để khỏi phụ lòng độc giả. Cảm ơn đài VNCR đã cho tôi thì giờ để lên đây thưa chuyện cùng thính giả. Và riêng nhà văn Phạm Phú Minh, một đàn anh trong văn nghệ, tôi cảm ơn anh rất nhiều, anh đã bỏ thì giờ để trao đổi câu chuyện văn học với tôi.
Tôi thành thật cảm ơn.
Xin kính chào tạm biệt.

(BVN-TH )

Ghi lại theo băng cassette thâu từ đài.



Áo Gấm Về Làng 


Trần Yên Hòa

 

Phải trở về quê một chuyến xem thử chỗ ngồi bên gốc cây bàng trong khuôn viên chợ Quán Rường nay có còn không? Chắc còn, và chẳng có gì thay đổi. Bởi vì Hạo đã ngồi ở đó suốt mười hai năm, ngày ngày ngắm ông đi qua bà đi lại, mỗi khi có ai xe đạp bị hư, bể ruột, cong niềng, trật ốc, dắt lại sửa thì anh mừng húm lên, bởi vì anh sẽ có được chút tiền công mang về cho ba đứa con đang đợi ở nhà.

Từ ngày ra khỏi trại tập trung, Hạo trở về đây, ngồi dưới gốc cây bàng này, sửa xe đạp. Dù ai có nói ra nói vào, "cha Hạo đã một thời là thiếu tá, từng làm tiểu đoàn trưởng chỉ huy lính đánh địch kinh hoàng, từng một thời có xe díp cần câu, có cận vệ chạy rần trời, thế mà nay thất thế, mười năm ở tù về, chả lại dám ngồi dưới gốc cây bàng sửa xe, thằng cha khùng, làm mất mặt bầu cua sĩ quan", Hạo nghĩ, "có gì mà mất mặt, đi ở tù, hốt phân tươi tưới rau, dòi bọ bò lổn ngổn, đi đốn gỗ, cuốc đất, tăng gia rau xanh, làm 'tà lọt' cho vệ binh, cho quản giáo, suốt mười năm, mà chả có lấy một xu tiền công, còn ăn đói nhịn khát, mặc rách. Bây giờ về, làm việc để kiếm miếng cơm chứ có gì mà mắc cỡ". Có người cho Hạo đã bị khùng nặng, ngơ ngơ ngác ngác. Họ cho rằng, sau khi đi tù về, vợ đã đi theo người khác, Hạo phải nuôi ba đứa con, nên Hạo bị "mát dây" là chuyện bình thường. Hạo lại nghĩ khác. Mình làm ăn lương thiện thôi, đem mồ hôi đổi lấy bát cơm, có gì mà mặc cảm.

Bây giờ thì anh quyết định trở về thăm quê, sau năm năm ở Mỹ. Các con anh đã lớn, đã đi làm, anh yên tâm và thấy mình may mắn. Năm năm anh đã trút bỏ đi một phần cái thân thể gầy còm ốm nhách của ngày ra đi. Anh đã mập lên, nước da hồng hào hơn, phổng phao hơn. Người ta nói vật chất đã làm thay đổi con người, đúng vậy, dinh dưỡng đầy đủ của xứ Mỹ đã biến anh ra một con người khác. Anh đã làm hết bổn phận với các con, nay anh phải tự lo lấy phần đời còn lại, cho nên anh dự định, sẽ tìm về quê, thăm mồ mả cha mẹ, ông bà, tổ tiên, nhưng cốt lõi trong lòng anh là muốn về quê cưới một người vợ, rồi sẽ bảo lãnh vợ sang đây sống cùng anh, cho đời anh đỡ đi phần hiu hắt.



2
.



Hạo đi chuyến bay China Airline, mang theo hai vali quần áo cũ mà các con đã mua ở chợ trời, định sẽ đem về cho bà con ở quê nhà, cùng với bảy ngàn đồng anh gom góp để dành suốt mấy năm ròng. Anh nghĩ mình sẽ chi tiêu dè xẻn, cho anh cho chị, cho bà con mỗi người một ít, còn lại anh sẽ làm mộ cho cha mẹ anh thật tươm tất. Và khi kiếm được người đàn bà nào vừa ý như người chị hứa sẽ dắt cho anh xem mặt mấy mối, anh sẽ đem số tiền còn lại làm quà cưới, tiệc cưới, chắc cũng tạm đủ, vì quê anh là một xóm quê nghèo, cuộc sống lam lũ, dân chúng không ăn xài bao nhiêu.

Chị Nhường đón anh ở sân bay Tân Sơn Nhất với nước mắt đầm đìa. Tánh của chị anh thật giống mẹ anh ngày xưa, ngày anh đi lính, đi hành quân, lúc nào mẹ cũng cúng vái khấn nguyện, và cuối cùng là khóc. Nước mắt vui, nước mắt buồn đều có cả. Bây giờ mẹ mất rồi mẹ để lại cho chị Nhường hồ nước mắt ấy. Ngày anh cùng các con khăn gói đi Mỹ, chị khóc, bây giờ anh trở về thăm chị, chị cũng khóc.

Anh loay hoay với mớ hành lý đem về. Ở trên phi cơ, bà con đi về kháo nhau, cửa hải quan này cho 5 đô, cửa công an kia cho 5 đô, cứ thế coi như đấm nắm xôi vào miệng chúng cho qua truông suông sẻ. Hạo cũng làm theo, nhưng anh không ngờ bọn cò mồi đứng chỗ lấy hàng, bọn nó chỉ lấy tay chỉ chỏ hay lấy tay xách hành lý cho khách mà không ai nhờ, cuối cùng thì bọn chúng xin tiền, anh phải móc hầu bao nhưng lòng cứ ấm ức. Đến khi đẩy xe ra cửa phi trường Hạo mới thấy như thoát nợ. Chị Nhường nhận ra Hạo ngay khi anh vừa mới ra khỏi khu cách ly. Chị vẫy tay lia lịa và kêu: "Hạo, Hạo, cậu Hạo."

Hạo đến chỗ chị và ôm lấy chị. Năm năm mà chị già đi quá, mái tóc lưa thưa bạc, mắt có những vết nhăn, anh ứa nước mắt, chị khóc. Hai chị em đi ra chỗ chiếc taxi đã được chị thuê đậu phía bên ngoài. Hai chị em về khách sạn nghỉ một đêm, ngày mai mới đáp xe tốc hành thuê bao về quê nhà.


3.



Ngày Hạo đi quê của anh nghèo khổ, nay anh trở về quê vẫn không thay đổi gì mấy. Hai cây cầu có tên "Cầu Lỡ" vẫn lồi lõm từng nhịp, xe chạy qua gập ghềnh như đi xiếc, Đã hai mươi lăm năm gọi là hòa bình và tái thiết đất nước mà những vết tích của chiến tranh, bom đạn và nghèo khổ vẫn trùm lên mỗi thân phận con người. Dọc đường từ ngã ba Chiên Đàn lên đến chợ Quán Rườn, người dân đi bộ, đội những mớ rau, củ sắn từ miền quê xa xuống chợ bán vẫn còn.

Đây là hình ảnh mà ngày nhỏ, cách đây cũng ba bốn mươi năm, ngày anh còn là cậu học trò đi học ở trường Chiên Đàn anh đã thấy. Hình ảnh những người dân quê còm cõi đó vẫn ăn sâu vào lòng anh như một tì vết của nghèo khổ. Anh đã từng cạn kiệt sức sống trong những trại tập trung, đã từng lê tấm thân ngồi nơi gốc bàng vá từng lỗ vá ruột xe đạp để kiếm miếng cơm củ khoai về nuôi con, nên anh biết rõ một điều là ai cũng mong có cơm ăn áo mặc, mà đến ngày nay xem ra ước mơ ấy cũng chưa đạt được.

Xe chạy về đến nhà chị Nhường thì trời cũng quá trưa. Đi một đoạn đường dài mất một ngày một đêm mới tới. Các con cháu của chị Nhường đứng ở sân nhà chờ đợi. Chị Nhường con đông đến bảy đứa, có mấy đứa lớn có vợ, có chồng, có con, tay bồng tay bế đứng nơi sân đợi.

Và cả bà con lối xóm nữa. Họ đứng lố nhố chung quanh sân. Chắc là họ muốn nhìn một người đi Mỹ trở về ra sao? 

Một người mà cách đây năm bảy năm còn ngồi bên gốc bàng sửa xe đạp, ốm o gầy mòn, bây giờ đã thay da đổi thịt, đã phổng phao thấy rõ.

Một người mà cách đây mười năm theo lệnh của công an xã, nhân dân đã tụ họp ra ngoài trụ sở uỷ ban để "giải chế" cho. Có nhiều ý kiến nói ra nói vào về "tội ác ngày xưa" của Hạo, khi anh còn làm tiểu đoàn trưởng. Nhưng cuối cùng thì theo "ý dân", anh được giải chế, nghĩa là chính quyền không còn quản chế anh nữa. Nay thì cũng đám dân đó đứng trước sân nhà anh đợi anh về, ngoắc tay, kêu lớn tiếng: "anh Hạo ở Mỹ về đó hả, anh khỏe ghê he."


4.



Hạo nói chị Nhượng chia phần cho những người bà con thân sơ, mỗi người một lọ dầu gió xanh, năm chục ngàn bạc VN, và một số quần áo cũ mà các con anh đã tìm mua ở chợ trời hay các tiệm Goodwill. Với bấy nhiêu thôi, Hạo đã được tiếng đồn lành "ông Hạo mới năm năm đi Mỹ, về mua quà cho cả làng". Ngày trước cách đây mười mấy năm chứ có đâu xa, ngày Hạo được kêu lên xã "giải chế", trong một đêm tối trời trong hội trường tỏa ánh sáng đèn măng sông, cũng những người dân kia đã dơ tay cao, đã phát biểu những lời độc địa: "t
ên Hạo thuộc thành phần ngụy dữ dằn, đã từng làm tiểu đoàn trưởng, chỉ huy quân ngụy đi càn biết bao nhiêu trận, có tội rất lớn đối với nhân dân và cách mạng". Câu nói như một vết chém đâm ngập vào tim Hạo, làm tâm hồn anh tê điếng, ám ảnh Hạo suốt mấy năm ròng.

Cũng những người đó hôm nay đến đây thăm anh, ai nhìn anh cũng khen anh khỏe mạnh, mập ra, da thịt hồng hào. Thì ra cơm gạo tư bản dư dã quá, xứ sở người ta văn minh tiến bộ quá, còn xứ sở mình thì đã hai mươi năm "giải phóng" mà người dân vẫn ăn đói mặc rách. Hạo nghĩ, nếu không có cuộc ra đi thì chắc anh vẫn mãi ngồi bên gốc cây bàng vá từng lỗ vá ruột xe đạp kiếm ăn, các con anh vẫn phải đi bán cà rem dạo hay bán trà đá dạo, chứ có bao giờ nghĩ chúng sẽ được đi học đàng hoàn.

Chị Tòng, một phụ nữ từng bỏ làng nhảy núi ngày chiến tranh, đã từng là trung đội trưởng du kích xã, từng bị thương mất đi một mắt, bây giờ phục viên trở về làm ruộng, bị thiếu ăn, đói lên đói xuống, bế đứa con gái ba tuổi đến nhà Hạo thăm.

Từ đàng xa chị Tòng đã lên tiếng:

- Nghe nói anh Hạo từ Mỹ về, tôi ghé thăm anh chút, ai cũng đồn về anh.

- Đồn gì vậy chị Tòng?

- Thì nói anh khỏe mạnh, lột xác cũ đi.

- Vậy còn chị thế nào, nay có khá không?

- Khá gì mà khá, đói rã ra anh ơi. Từ ngày anh đi Mỹ tôi cũng nghỉ việc luôn, anh nghĩ tôi tàn tật như vầy mà còn lao động gì được nữa, thế mà tôi có được cấp dưỡng gì đâu. 

Anh chạnh nhớ đến chị Tòng ngày anh ra xã "giải chế", Tòng đã đứng lên phát biểu "Với sự khoan hồng của cách mạng, xin chính quyền xã thôi không quản chế anh Hạo nữa", điều này Hạo mang ơn chị Tòng. Dù gì thì trong những lúc anh bị mọi phía xô anh xuống dưới bùn đen mà có người kéo anh lên. Hôm nay để đền bù lại tấm lòng ấy, cùng với lòng muốn cứu giúp một người hàng xóm trong cơn ngặt nghèo, anh lấy cho Tòng những món quà anh đem về và anh cho riêng chị 100 đô la. Chị Tòng không ngờ mình được cho nhiều như vậy, chị quỳ xuống níu lấy tay Hạo:

- Tôi không biết lấy gì để cảm ơn anh đây, quý hoá quá, quý hoá quá.


5.



Đến ngày thứ năm thì Hạo mệt mỏi quá rồi. Anh định về quê chơi một tháng để nghỉ dưỡng sức rồi qua lại Mỹ tiếp tục "cày". Nhưng cái mục tiếp khách này anh thấy quá mệt, những người ở đâu rất xa nghe anh về cũng ghé thăm để được anh cho một lọ dầu, một ít áo quần cũ. Thì ra, tiếng lành thì đồn xa, cứ cái đà này, mỗi người đến thăm anh, anh tiếp khoảng hai mươi phút thì anh cũng mệt ứ hơi rồi, huống hồ gì có người ngồi hỏi anh đủ thứ chuyện.

Anh qua Mỹ mới năm sáu năm, mà cả ngày quần quật trong hãng làm việc, có hôm hãng cho làm over time thì anh đi từ sáng sớm đến tối mịt mới về nhà, chẳng biết trời trăng mây nước gì cả, về đến nhà cũng không buồn mở tivi. Ở trong hãng anh làm assembly, nghĩa là công việc sai đâu làm đó, sợ từ người chủ đến supervisor, sợ sẽ không được lòng họ, sẽ không được lên lương, không được kêu làm thêm giờ.

Anh nhiều lúc tự cười với chính mình, tưởng qua Mỹ làm quan làm tướng gì, lại phải chun vào làm công nhân cấp thấp. Sợ mất việc, sợ xếp không vui nên ai cũng phải nói cười hỷ hả trong những lúc, những chuyện không đáng cười chút nào. Xếp đặt đâu làm đó, nhiều khi lại phải nói đệm thêm những câu cho xếp vui lòng. Anh chợt nhớ đến ngày anh còn làm tiểu đoàn trưởng, lúc còn "hét ra lửa", bọn lính thấy anh là sợ xếp vó, đang vui đùa, cười nói đó, thấy anh lại im ngay, họ phải vui theo cái vui của anh, buồn theo cái buồn của anh, quyền lực và đồng tiền vẫn ngự trị mãi trên đời này. Cuộc sống cứ như là một cái bóng, ở đầu này thì thấy đầu kia cao lớn, ở đầu kia thì ngược lại.


Nhân lễ cúng ông bà ngày Hạo về cũng như cúng hai ngôi mộ cha mẹ anh vừa mới xây, anh đưa 500 đô cho chị Nhường lo liệu một bữa tiệc mời dân cả xã đến dự. Chị Nhường đã thuê hai cây dù lớn, che rợp cả một khoảng sân và cả khu vườn, cùng thuê bàn ghế kê san sát để tiếp đãi khách. Trong lòng Hạo coi đây là một lễ tạ ơn, tạ ơn cha mẹ, ông bà, đã cho gia đình anh được đi Mỹ, con cái có tương lai và đời sống chính anh được sung túc hơn, với lại trong thâm tâm, anh cũng muốn nở mày nở mặt với bà con lối xóm. Từ ngày đứt phim, gia đình anh tan hoang, anh em đều đi tù, đều bị đày đọa. Nhưng bây giờ cả hai anh em đều ở Mỹ, anh muốn cho những người cán bộ xã ấp gọi anh là ngụy, nay phải thấy rằng điều anh chọn lựa ngày trước là đúng đắn ...

6.


Khi lễ cúng gần xong thì khách khứa cũng lục tục kéo đến. Toàn là những người bà con trong xóm, trong làng ngày trước. Có người lúc anh gặp nạn thì xót thương giúp đỡ, có người quay lưng, có người hận thù đòi đem anh ra xử trước tòa án nhân dân. Bây giờ đã mười mấy năm trôi qua, mọi điều đã lắng xuống, cũng có một số người làm ra vẻ cố quên.

Hạo ra đứng trước cổng nhà để đón khách, gặp ai anh cũng vui mừng bắt tay thăm hỏi. Ai cũng dừng lại với anh ít phút để hỏi người nọ người kia ở Mỹ hay ở Sài Gòn......

Những chức sắc trong Ủy ban nhân dân và công an xã cũng kéo đến dự dù anh không mời. Có lẽ họ nghe anh về và nghe bà con xôn xao bàn tán, họ muốn tới xem thực hư ra sao. Khi tất cả đã vào bàn, thực khách tràn đầy cả một khoảng sân và khu vườn. Hạo đến từng bàn chúc mừng khách, ai cũng níu anh lại làm một ly, dù chỉ nhấp môi cho có lệ nhưng rượu cũng thấm làm anh choáng váng và bừng bốc. Khi anh đến bàn của đám công an và ủy ban thì họ đồng loạt đứng dậy mời anh cạn ly. Anh thấy mặt mày người nào cũng đỏ ửng vì men rượu.

Ông Trà, Chủ tịch ủy ban cầm ly rượu lên mời anh:

- Mừng anh Hạo đã trở về quê thăm bà con, tụi tôi mừng lắm.

- Thì đi lâu cũng nhớ quê nên muốn trở về thăm. Ông Hữu, Trưởng công an xã, người đã từng quản chế anh trong suốt ba năm, cũng cầm ly rượu đứng lên:

- "Anh Hạo, tụi tôi đến đây dự cùng anh hôm nay cũng có ý là, thứ nhất chia vui cùng anh, thứ hai là nhờ anh cộng tác với xã để xây dựng một vài công trình mà xã đang còn bế tắc.

Đáng lẽ chuyện này phải mời anh ra Ủy ban để nói, nhưng sẵn đây, anh em với nhau cả nói anh dễ thông cảm hơn, xã nhờ anh chung góp một ít để làm cây cầu lỡ mà từ lâu ta không làm được, biết anh ở Mỹ làm ăn dễ dàng với trình độ của anh cũng cao nên chắc làm ăn khá. Thôi thì xin anh đóng góp cho mười ngàn đô cho công tác chung của xã chắc anh chẳng từ nan."

Ông Hữu nói một hơi dài, cái giọng vẫn còn cái giọng kẻ cả và ra lệnh, Hạo thấy như quá đường đột, anh vẫn biết rằng về quê sẽ gặp những cảnh mồi chài tiền bạc nhưng anh không ngờ anh đang ở trong một hoàn cảnh khó xử như thế này.

Anh tìm kế hoãn binh:

- Các anh nói chuyện đó đúng chớ, mình đi xa về phải góp phần xây dựng quê hương chứ anh, nhưng đây là chuyện lớn mình phải có kế hoạch, mai mốt mình sẽ bàn nhiều hơn.

Hạo nói giả lã thêm mấy câu rồi anh tìm cách qua bàn khác sau khi anh nhận một tràng pháo tay dài của đám chính quyền. "Chu cha! Nó nghĩ như mười ngàn đô la làm ra ở Mỹ dễ dàng lắm vậy, sức như anh làm mười ngàn cả năm chưa chắc đã có mà còn biết bao nhiêu là chi phí, anh ky cốp, chắt bóp cả hơn năm năm mới được bảy ngàn mang về mà nay nó bảo đóng góp cho xã mười ngàn, làm như ở Mỹ đi ra đường là lượm đô la không bằng" Hạo vừa đi vừa chửi thầm trong bụng.


7.


Tối đó, xong công việc mọi chuyện, Hạo mới khều chị Nhường ra ngoài bàn nói nhỏ:

- Em về đây làm mả cha mẹ, thăm bà con như vậy cũng đủ rồi, hồi hôm bọn ủy ban còn muốn vòi tiền để xây cầu, em kiếm đâu ra, em hứa cho qua chuyện. Thôi thì mai em đi, em vô lại Sài Gòn chơi mấy tuần rồi đi Mỹ luôn, chứ ở đây không yên với họ đâu! 

Chị Nhường hỏi lại:

- Còn chuyện vợ con em tính sao, chị đã nhắn con Lan lên rồi, nó là giáo viên, hơn ba mươi tuổi chưa chồng, không đẹp nhưng hiền lành.

Hạo thấy chán nản nên nói với chị:

- Em còn khoảng năm trăm, đem về bảy ngàn mà lo công việc và cho bà con cũng gần hết, lại phải vô Sài Gòn ở mấy tuần, thôi chị nói với Lan em qua Mỹ sẽ viết thư về.

Đó là quyết định của anh, Hạo sáng hôm đó nhờ thằng cháu chở xuống bến xe rồi ra thẳng Đà Nẵng mua vé máy bay về Sài Gòn. Chị Nhường vẫn khóc nhưng anh thì đi như một cuộc chạy trốn, anh không có thì giờ để nhìn lại gốc cây bàng ở ngoài chợ, nơi anh ngồi đó suốt hơn mườ năm để vá xe đạp lề đường kiếm ăn.

Thôi cái gì cũng nên gói cất trong ký ức.


Trần Yên Hòa


sach_tyh

Những tác phẩm của Trần Yên Hòa đã xuất bản
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, April 23, 201112:00 AM(View: 36499)
Kính gởi quý Bạn đọc xa gần. Kính gởi quý Bạn Văn. Thấm thoát thế mà trang Văn Học Nghệ Thuật - www.banvannghe.com - của chúng ta đã sống được trên 6 tháng...
Friday, April 22, 201112:00 AM(View: 39651)
Thi sĩ Thái Thủy, một nhân vật kỳ cựu trong ngành phát thanh ở Sài Gòn trước năm 1975, đã qua đời, thọ 73 tuổi.
Monday, April 18, 201112:00 AM(View: 41666)
Buồn dùm tôi mỗi năm một tháng tư. Tháng tư đau cả một miền đất nước. Máu xương khô vất bên đường xuôi ngược. Hành phương Nam tang trắng quấn xuôi dòng.
Sunday, April 17, 201112:00 AM(View: 54167)
Thơ thật bèo. Em ngoái nhìn khinh khỉnh. trả vài xu. đau lòng thơ đem bán dạo. khi những xác ve xơ cứng cội nguồn. trong cõi trời văn chương tu hú.
Wednesday, April 6, 201112:00 AM(View: 40613)
Tên thật Nguyễn Huỳnh Điệp. Sanh năm 1942. Tại Bình Thạnh, Tuy Phong - Bình Thuận. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn. Thiếu Khanh là nhà giáo, thích thơ văn và sinh hoạt văn nghệ từ thập niên 60. Khi dạy học ở Đà Nẵng, Thiếu Khanh đã cộng tác với tờ Thời Mới ở ĐN của nhà báo Nguyễn Hương Nhân (Hoàng Phúc) và Nguyễn Đức Bạn