DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,844,402

ĐẠM THẠCH, NGƯỜI LÀM THƠ MIỀN NAM - Trần Yên Hòa

15 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 17267)
ĐẠM THẠCH, NGƯỜI LÀM THƠ MIỀN NAM - Trần Yên Hòa

TRẦN YÊN HÒA

 

ĐẠM THẠCH,


NGƯỜI LÀM THƠ MIỀN NAM.

 

Những nhà thơ tôi biết và yêu thích, thường thường là những người bắc hay trung. Có thể đó là cái cảm nhận chủ quan. Như các nhà thơ tiền chiến hay cận đại sau đây: Người miền bắc có: Huy Cận, Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Quang Dũng, Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyên Sa, Du Tử Lê. Người miền trung có Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Luân Hoán, Hoàng Lộc, Thành Tôn…Còn người miền nam thì không có ai. Có thể có một số bài thơ của các bạn làm thơ trước bảy lăm như Phù Sa Lộc, Nguyễn Bạch Dương…(hiện còn ở trong nước) cũng hay, nhưng cái thấm sâu vào tim mình, tôi không cảm nhận bằng những người làm thơ miền bắc hay trung. Có một sự giải thích, tôi tạm cắt nghĩa cho tôi, là người miền nam vốn bộc trực, thật thà, mộc mạc, nên thơ họ như vè, như vọng cổ sáu câu, hơn là những lời thơ sâu thẵm, mang nhiều ý nghĩa làm mình rung động.

 

Ý nghĩ đó tôi mang mãi trong đầu, đến khi tôi gặp anh, Đạm Thạch, và khi tôi đọc bài thơ “Con Cá Cháy” của anh trên một số báo ở hải ngoại:

 

Con cá duồn ngon thế nào Bến Tre đã biết

Hay cá chìa vôi Vàm Láng-Gò Công

Tôi vẫn nhắc hoài con cá cháy

Sống giữa làn nước lợ miệt Trà Ôn

{con cá thích trầm sâu giữa dòng mặn ngọt

ngoi ăn sương giữa đêm về sáng}

Cá ngon đến nỗi người Cần Thơ nhắc hoài như kỷ niệm

Nhiều năm rồi đã biệt tăm

Cá đổi vùng hay lẽ gì tuyệt chủng?

Tôi không tin là cá biết băn khoăn!

 

Tôi đọc bài thơ này là tôi yêu thích ngay những dòng thơ đó, tác giả đã dùng ngôn ngữ miền nam rặc ròng, lời thơ dung dị nhưng gợi trong ta những miền đất quê hương, Vàm Láng, Gò Công, Trà Ôn, Cần Thơ…với con cá cháy. Con cá ngày xưa ngon ngọt thế nào dân miền Nam đều biết, nhưng sau năm bảy lăm cá bỗng dưng biệt tăm.

 

Rồi tác giả viết tiếp:

 

Con cá duồn vẫn ưa dòng sông ngọt nước

Cá chìa vôi thích biển mặn vẫy vùng

Cá cháy thịt ngon và traí ngược

Sống một đời giữa mặn-ngọt, riêng-chung.

 

Chẳng thấy cá đổi vùng

Loài thịt ngon đã tuyệt chủng rồi chăng

Cá đã chết vì chẳng còn nước lợ

Hay điên rồ vượt biên giới quen thân?

 

Con người sống lúc vầy lúc khác

Cá lội ngược lội xuôi

Con người khi lòng đã khác

Cá chẳng thể thay dòng

 

Ôi con cá sống giữa dòng gạch nối

Khác con người lăn ngụp cả hai nơi

Lúc cay đắng, đắng cay cùng cực

Vinh hiển rồi ngoảnh mặt một thời!

 

Tôi đọc bài thơ và thích tác giả, thơ Đạm Thạch có cái chân chất nhưng không đơn điệu, vẫn giọng điệu và từ ngữ miền Nam nhưng anh không làm bài thơ khô khan hay quá mộc mạc. Rồi tiếp theo đó, anh có bài thơ “Con cá lưu vong”ù như để giải thích tại sao con cá cháy nay đã tuyệt chủng ở khúc sông Trà Ôn-Đại Ngãi mà đã sang tân Hoa Kỳ:

 

Tôi sửng sót nhìn con cá cháy

Nửa thế kỷ qua nó tuyệt chủng rồi mà

Cá biệt tăm theo dòng thời gian nước chảy

Sao bây giờ xuất hiện ở nơi đây?

 

Ở chợ ABC tôi muốn la lên cho người Cần Thơ xúm lại

Để tận mắt nhìn con cá thuở nào

Con cá sống quẩn quanh giữa khúc sông Trà Ôn-Đại Ngãi

Sao bây giờ giữa chợ phơi thây?

 

Tôi định la to nhưng kịp ghìm tiếng tôi khựng lại

Tự hỏi lòng cá cũng lưu vong

Có thấm gì đâu năm ba năm xa xứ

Có thấm gì đâu mà đã nói đau lòng!

 

Ôi, con cá cũng lưu vong, con cá cũng đã bỏ nước ra đi như con người, cũng đến bến bờ tự do để đem hương vị ngon ngọt của mình cho người dân quê mình cùng hưởng. Con cá cũng có những thân tình nghĩa nặng ơn sâu với con người bỏ nước ra đi. Rồi Đạm Thạch bộc bạch thêm:

 

Tôi sinh ở cạnh dòng Ba Lai-Bến Tre- Sóc-Sài.

Biết Cá Duồn từ Biển Hồ kho rệu với nước dừa xiêm

Thờøi chiến tranh tôi đóng quân gần vùng biển mặn

Biết cá chìa vôi ở miệt Vàm Láng Gò Công

Riêng cá cháy kho rim món ngon năm nẳm

Tháng sương mù trứng nươn nưởn từng chùm

Loại cá ngon ai cũng chịu khó lừa xương

Tôi mãi mãi chẳng bao giờ quên được.

 

 

Trong suốt bài thơ là một giọng kể chuyện thật hồn nhiên, con cá cháy cũng lưu vong theo người lưu vong, người lưu vong có kẻ nhớ con cá cháy, có kẻ không, chắc thế. Và rồi, con cá được tác giả mua về và:

 

Riêng con cá cháy mua về

Vợ tôi cũng lại kho rim

Thịt vẫn bùi

Mà tôi thấy không ngon như tôi mường tượng

Nhìn mắt vợ tôi rưng rưng kỷ niệm

Tôi tự nhũ thầm

Chắc tại nước dừa lon

Hay tại ta lưu vong

Con người khác chứ cá vẫn là cá cháy.

 

Từ con cá cháy qua con cá lưu vong, Đạm Thạch đã thể hiện tấm lòng mình, tấm lòng người dân nam bộ, yêu nơi xưa chốn cũ, kỷ niệm xót xa với những địa danh, với những nguồn cội. Nhưng đã lưu vong rồi thì tâm hồn con người không thể như những ngày xưa nữa, chỉ có cá là còn nguyên vẹn.

Thơ tình Đạm Thạch cũng là những khắc khoải, luôn nhớ thương về một người yêu xưa cũ đã bay xa ngút khỏi tầm tay. Thơ tình của anh dùng rặc ròng ngôn ngữ miền nam, nhưng ta thấy quen thân lắm, như ta đi một chuyến xe đò, từ Sài Gòn về Cà Mau, Năm Căn, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa Đéc, Đồng Tháp Mười, Mỹ Tho yêu dấu. Gặp những người áo nâu, tóc dài cột thành búi, hay những cô gái bận áo bà ba với câu hò trên sông nước ngọt lịm tình dân dã:

 

TĂM CÁ HƯ VÔ

 

Anh quay về nhìn cây nhớ cội

Tấm áo phơi sào nhớ tay cầm

Mới chạm nhẹ hồn gai góc mọc

Bàn tay thơm ủ mộng trăm năm

 

Ôi! đôi mắt! Đã ngàn lần săn sóc

Và đôi môi! lấp ló nụ hôn đầu

Ngoài đâu biết. Bên trong mùa biển động

Thuyền và buồm neo ụ từ lâu.

 

Thời gian sãi ngựa. Hoạ vô đơn chí

Bìm bìm leo. Lầu mộng sắp tiêu điều

Em trôi lạc giữa cánh đồng quỷ đỏ

Tôi đoạ đày. Hồn phách lạc xiêu

 

Nào ai biết, em còn hay mất

Tôi lất lây về nhìn lại chốn xưa

Nỗi trống vắng. Trái tim nghẹt thở

Nước mắt trào. Nghe đắng giọng chiều mưa.

 

Đó là qua cơn binh lửa, chàng và nàng thất lạc nhau, bây giờ em là bóng chim tăm cá, em vượt biên làm mồi cho hải tặc, hay em mãi còn xót xa chịu đựng trong cái xã hội đầy bất trắc đó không?

 

Rồi tưởng tượng em xót xa chịu đựng

Rời thị thành. Lầm lũi đất hoang vu.

Đẳn tre rừng rào tấm lòng cố cựu

Bện khít rim nỗi nhớ sa mù

 

imagesca237s1c


Thơ lục bát của Đạm Thạch cũng là một cung cách riêng, lời thơ thật bình dị như một bài ca dao, nhưng lục bát của Đạm Thạch ủ chứa một ngôn ngữ lạ lùng hơn, sâu sắc hơn, khiến cho ta nghĩ đến một Đạm Thạch đã tách xa con người nam bộ. Nhưng không phải vậy, ngôn ngữ đó, Đạm Thạch dùng một cách bóng bảy, tinh tế, trau chuốt hơn mà thôi, như người thiếu nữ miền nam bỏ áo bà ba bận chiếc áo dài cổ truyện vây mà. Không cách xa, không chạy trốn. Văn phong của anh vẫn thuần khiết là người của miệt đồng bằng sông Cửu Long:

 

CÚI HÔN MÙA XUÂN

 

Bài thơ vừa chạm mùa xuân

Đã nghe gió chướng về thân thiết ngày

Đợi em còn kẻ lông mày

Rảnh tay thả nọc cấy cày đồng anh

Khói chiều thả ngọn mong manh

Hiu hiu cơn gió sao canh cánh lòng

Từ anh cuối ngọn con sông

Tưởng leo đỉnh núi, tưởng đồng bằng quên

May mà gốc rạ còn quen

May mà chân lấm in lên tháng ngày

May mà mẹ dạy ngày mai

Có yêu ai nhớ đừng thay đổi người

Yêu em-giống mẹ một thời

Bàn chân nứt nẻ, Cuộc đời nắng mưa

Như ngày đợi héo cuống dưa

Đợi thôi vất vã xuân chưa muộn màng

Cúi hôn em nụ mai vàng

Cúi hôn bờ cỏ vạch đàng em qua

 

Thơ lục bát Đạm Thạch, ngôn ngữ miền nam vẫn tràn trề, đầy dẫy, nhưng vần thơ không thô, nhám, mà tự nó đã chải chuốt cho lục bát Đạm Thạch có một sắc thái riêng khiến không những, cho những người nam bộ nào đọc lên cũng thấy mình trong đó, mà những người miền khác cũng yêu thích vô cùng

Sau đây, tôi xin trích cả bài lục bát ngắn của Đạm Thạch, mà tôi yêu thích:

 

MIẾT TRÔNG NGÀY VỀ

 

Từ em mấy đợt phù trầm

Tôi ngồi lục soạn những năm tháng dài

Hồi em tóc tẽ làm hai

Còn tôi ba bảy đã cay đắng rồi

Theo em như nhái nhữ mồi

Tưởng đau tiếng phập.Tưởng mồi ghị sâu

Tưởng hồn tôi vía đâu đâu

Tưởng em đã dính. bỗng đau điếng cần

Thôi em từ đó những lần

Nỗi đau cũng đã đến gần gũi tôi

Mé bờ con nước nỗi trôi

Mà đau đã liếm cuối đời hoàng hôn

Như cây còn đứng héo hon

Nhìn tôïi như lá rơi mòn tháng năm

Mù em còn mãi xa xăm

Mù tôi đỏ mặt chờ tăm tích người

Liệu em bến đục cuộc đời

Liệu chừng tôi cũng pha phôi tấm lòng?

Xót xa câu hỏi bỏ không…

Xót xa rồi cũng miết trông ngươì về.

 

Tôi gặp Đạm Thạch do anh Thành Tôn giới thiệu. Ngày lại ngày, tiếp xúc với anh. Anh vẫn mãi là tấm lòng chân chất, nhiệt tình đối với bạn bè. Với ai, anh cũng cùng một tấm lòng, thân thương và quýmến. Anh có tấm lòng thật bao la biết mấy. Ai trong anh em đám văn nghệ có điều không may, anh đều kêu gọi đi thăm viếng. Hay ai có quan hôn tang tế anh là người đi đầu đăng báo Chung Vui hay Chia Buồn cùng anh em ở các báo.

Tấm lòng Đạm Thạch là như vậy. Bây giờ anh bắt đầu viết văn, anh đã có đăng vài truyện ngắn trên Văn và Thế Kỷ 21. Văn anh cũng dể thương như Thơ anh vậy.

Chúc Đạm Thạch thành công trong hai lãnh vực, thơ và văn.

 

TRẦN YÊN HÒA

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 21879)
Tôi là người làm thơ và rất yêu thơ nên khi nghe đến công bố kết quả bình chọn “100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20”û, tôi cũng muốn xem thử những ai đã đứng trong danh sách hàng đầu ấy. Nhưng tôi thất vọng và tức giận khi nghe kết quả: Người đứng đầu tiên, ngoài danh sách các tác giả kêu tên theo thứ tự vần a, b, c… là Hồ Chí Minh với bài thơ chữ Hán có tên là “Nguyên Tiêu”. Tôi thất vọng và giận dữ bởi vì tôi đã đọc những bài thơ của Hồ Chí Minh,
08 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 21460)
Hồi đó, quê tôi chưa có một phòng đọc sách nào, chưa có một thư viện nào, nên tôi không có sách đọc. Ơi, sách hiếm hoi cho tuổi thơ tôi, tôi lục lọi những quyển sách cũ của cha tôi, cuốn Cổ học Tinh hoa, và những cuốn đặc san cổ học xuất bản hằng tháng của hội cổ học Quảng Nam, mà cha tôi là hội viên. Những cuốn nầy được quay ronéo, màu sắc nhoè nhoẹt, được in với một loại giấy nhám xấu, thế mà tôi vẫn đọc say mê.
08 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 35490)
Hà Nguyên Thạch tên thật là Nguyễn Văn Đồng, là giáo sư dạy tại trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Nói “biết” là biết vậy thôi, nghĩa là đứng xa mà nhìn, chứ hồi đó, giáo sư cũng phân biệt lắm, nghĩa là giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm 4 năm thì ngon lành, ra dạy trung học đệ nhị cấp, rồi đến giáo sư tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm hai năm. Còn như tôi, giáo sư tư nhân dạy giờ...
03 Tháng Mười Hai 201012:00 SA(Xem: 15869)
Hồi Hoán lên 9 tuổi, Hoán đã biết nghĩ về con gái, đó là con Lý, con bà Vy, người Huế. Bà Vy vì chiến tranh ở đâu ngoài Huế, lưu lạc đến quê anh. Quê anh là một vùng quê, dân làng sống chất phát, mộc mạc. Bỗng nhiên đâu có một người đàn bà ở phố thị trôi dạt về, như thổi đến vùng quê một làn gió mới .
29 Tháng Mười Một 201012:00 SA(Xem: 29736)
Trần Huiền Ân sinh năm 1937 tại Vân Hòa, Sơn Hòa, Phú Yên. Từ năm 1957 đến 1975 dạy học và sáng tác thơ văn.Trong thời gian này đã xuất bản 2 tập thơ (THUYỀN GIẤY, NXB BÁCH KHOA, 1966), NĂM NĂM DÒNG SÔNG THƠ (NXB ĐỒNG DAO, 1973). Sau năm 1975 dành toàn thời gian cho sáng tác thơ văn, nghiên cứu văn học dân gian và lịch sử; xuát bản thêm 2 tập thơ (LỜI TRÊN LÁ, RỪNG CAO), 6 tập truyện ngắn...