DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,799,761

3 bài thơ hay và... Trần Yên Hòa

15 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 32075)
3 bài thơ hay và... Trần Yên Hòa

TRẦN YÊN HÒA

3 bài thơ hay và...

imagesca3bg7dl

1.

Những ngày cuối tuần nằm nhà, tôi tự nhiên muốn đọc lại những bài thơ của các bạn tôi đã đăng trên Ức Trai, những bài thơ mà tôi cảm thấy rất hay và đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần này không biết là lần thứ mấy...

Trước tiên tôi muốn nói đến nhà thơ Đạm Thạch, một người bạn thơ tôi quen đã gần mười mấy năm trên đất Mỹ. Thơ anh làm không nhiều, chưa cho in tập thơ nào, nhưng mỗi bài thơ anh đăng ở bất cứ đâu, bài nào cũng hay. Anh làm thơ rất trân trọng, không làm ẩu, làm nhiều cho được tiếng, mà làm ít, nhưng hay.

Trong một bài viết trước tôi đã viết về thơ Đạm Thạch, có một đoạn như sau:

Tôi sinh ở cạnh dòng Ba Lai - Bến Tre - Sóc Sài.

Biết Cá Duồn từ Biển Hồ kho rệu với nước dừa xiêm

Thờøi chiến tranh tôi đóng quân gần vùng biển mặn

Biết cá chìa vôi ở miệt Vàm Láng Gò Công

Riêng cá cháy kho rim món ngon năm nẳm

Tháng sương mù trứng nươn nưởn từng chùm

Loại cá ngon ai cũng chịu khó lừa xương

Tôi mãi mãi chẳng bao giờ quên được.

Tôi đọc bài thơ này, thích tác giả và sau đó quen anh. Thơ Đạm Thạch có cái chân chất nhưng không đơn điệu, vẫn giọng điệu và từ ngữ miền Nam nhưng không làm bài thơ khô khan hay quá mộc mạc.”

*

Một bài thơ khác, bài mới của Đạm Thạch, một bài thơ về Tình Yêu:

Khi bướm vàng khựng cánh

Xin chào em, anh con bướm vàng khựng cánh

Trước đài hoa em hé mùa Xuân

Ta những tưởng không có gì nghi ngại

Sao lần này ta cảm thấy phân vân

Đã xưa lắm những gai đời cào xước

Ta sá gì máu thịt của thân ta

Những đêm buồn những đêm say khướt

Ta lang thang như kẻ không nhà

Em còn nhớ ta hôn em lần chót

Nước mắt thư sinh khi lụy vì tình

Dưới trăng lạnh mình em chót vót

Mặc cho ta ngồi xếp những ân tình

Mùa Xuân đi qua và mùa xuân sẽ tới

Em vàng hoa rồi cũng chớm vàng thu

Ta hiến tặng trái tim mình ngục tối

Dẫu thế nào ta cũng muốn luyến lưu

Ta còn nhớ khi em qua ngả rẽ

Chẳng quay đầu luyến nhớ một ngày qua

Ta đứng đó nói với mình rất khẻ

Ta yêu em yêu say đắm thật thà

Rồi từ đó em biệt tăm biệt dạng

Ta cuộn mình ẩn núp trong đêm

Khi cuộc đời hoàng hôn chạng vạng

Ta giật mình những ao ước dầy thêm

Xin chào em đài hoa xưa tỏa nhụy

Những phong trần với biết mấy lần xuân

Ta tự hỏi ta con bướm vàng hệ lụy

Vẫn yêu em với hương tục đời trần

Giờ khựng cánh giữa mùa xuân diễm tuyệt

Đài hoa em khép lại ủ tình xưa

Thuở thư sinh ta cúi hôn em mài miệt

Để bây giờ ta ngồi khóc giữa đêm mưa

Bài Khi Bướm Vàng Khựng Cánh, đăng trong đặc San Ức Trai mùa hè, 2010 do Tổng Hội Ái Hữu Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Đà Lạt chủ trương. Thơ tình Đạm Thạch có cái lãng mạn dễ thương, nhẹ nhàng trong những hồi tưởng. Ký ức trở về với một mối tình xưa, những hệ lụy, khổ đau thăng trầm một thời, rồi người tình bỏ ra đi, để lại tâm hồn người làm thơ những nổi hoài mong, khắc khoải...Ngôn ngữ thơ Đạm Thạch dùng là ngôn ngữ cũ, nhưng đọc lên như thấy mới, lạ. Mới lạ mà không làm người đọc «choáng». Khi đọc lên, người đọc sẽ hiểu ngay ý tình sâu sắc của bài thơ...những từ như khựng cánh, nghi ngại, gai đời cào xước, say khướt... là những từ cũ nhưng Đạm Thạch dùng trong thơ anh, nghe rất mới.

*

2.

Tôi lại đọc một bài thơ của người bạn đồng môn với tôi là anh Nguyễn Văn Chúc. Nguyễn Văn Chúc quê ở Đà Lạt, tốt nghiệp Khóa 2 trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, ra trường phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân, trấn đóng tại Quân Khu 2. Anh là tay chơi nhạc rất cừ, là nhạc trưởng chỉ huy ban hợp xướng rất xuất sắc, nhưng tâm hồn anh là một nhà thơ. Nguyễn Văn Chúc làm thơ ít, nhưng thơ anh mang màu sắc, âm hưởng, hơi hướm rất mới, với những thương nhớ kỷ niệm của những dĩ vãng, những ngày sống ở Đà Lạt. Hình ảnh những ngày tuổi trẻ vẫn không rời Nguyễn Văn Chúc, Đà Lạt và những cỏ hoa xưa, bây giờ cũng ngút mắt với người làm thơ.

Nguyễn Văn Chúc làm thơ chơi, không đăng báo và chưa in tập thơ nào. Anh chỉ làm vui chơi với bạn bè và đăng ở đặc san Ức Trai, nơi sinh hoạt của những người xuất thân từ trường Đại Học CTCT.

Nhưng thơ anh rất quí, hiếm. Xin hãy đọc một bài thơ của Nguyễn Văn Chúc sau đây :

Khi ta nhớ những cỏ hoa Đà Lạt

Khi ta nhớ những cỏ hoa Đà Lạt

Là đã xa từ độ ấy chưa về

Như ngựa hồ cuồng chân hí gió bấc

Bóng quê nhà ải bắc tuyết sương che

Đà Lạt ơi những đèo cao lũng thấp

Sáng sương mù chiều xuống lại mù sương

Hàng thông xa lỡ một đời gọi gió

Ta cũng xa nên lỡ mấy nẽo đường

Giòng thác đỗ xôn xao miền ký ức

Tiếng gọi ai vang vọng những rừng chiều

Buổi ta đi một mùa Xuân đã hết

Để lòng còn thương tưởng biết bao nhiêu.

Đã xa quá lâu rồi nên chẳng biết

Muôn hoa xưa còn sắc thắm trên đồi

Ngõ nhà ai đóa hoàng lan mới nở

Ta không về hoa cũng kém màu tươi

Bài thơ làm từ những ngày tháng nọ

Mấy mươi năm câu chữ vận theo người

Khi ta nhớ đất trời hương hoa cũ

Thơ cũng buồn niềm tưởng tiếc xa xôi

Mùa Xuân qua rồi hạ tàn thu tới

Đợi đông sang sương lại trắng mặt hồ

Bốn mùa đi Đà Lạt ơi vẫn nhớ

Cơn mưa chiều phố núi đứng tương tư

Khi ta nhớ cả trời mây Đà Lạt

Bốn mươi năm lại tưởng mới hôm nào

Con suối cạn nằm thương bờ bãi cũ

Để hồn còn trăm nước đổ về đâu.

*

3

Tôi lại tình cờ tìm trên kệ sách tập thơ, “anh biết, em yêu dấu” của Hà Nguyên Du. Đáng lẽ tôi phải viết một bài riêng về thơ Hà Nguyên Du nhưng xin hẹn để lần khác. Bây giờ xin trích một bài thơ trong tập “anh biết, em yêu dấu”, mà tôi rất “cảm”:

Em có về ta

Hãy hót vườn ta chim xanh nhỏ

Nắng đã vơi rồi tia lãng quên

Chiều qua lá chết nơi đầu ngõ

Mưa chẳng thương cây một chút tình

Hãy hót vườn ta chim xanh nhỏ

Số kiếp tang bồng vườn cũng khô

Tình như lá úa rơi đầy ngõ

Em cũng như mưa giọt xuống mồ

Đá nẻ cơn buồn theo sông núi

Em nức lòng không đợi long đong

Ngàn sông muôn suối đi về biển

Em có về ta một đóa hồng

Hãy hót vườn ta chim xanh nhỏ

Cứu vớt linh hồn bao lá xanh

Tình em chấp cánh bay từ đó

Ta bước chân xiêu vẹo bóng mình

Tôi có thể nói, thơ Hà Nguyên Du, như Du Tử Lê đã nói: “Từ những ao, vũïng rung cảm cũ, cách diễn đạt cũ, Hà Nguyên Du có được một sinh phần thơ mình, một thổ ngơi, một khí hậu, khác. Anh quăng, ném mình một cách dữ dội, vào những cái mới.

Trái tim thi ca Hà Nguyên Du, do đó, đập được nhịp đập hiện đại.

*

Và...

Buổi sáng thứ bảy tại cà phê Factory, tôi gặp người bạn văn Đặng Phú Phong, Phong nói buổi chiều có buổi ra mắt sách của Huy Trâm ở hội trường nhật báo NV. Phong mời tôi tham dự. Phong làm “cái gì đó” cho buổi ra mắt sách. Tôi nghĩ vậy. Vì nễ bạn, tôi gật đầu đồng ý buổi chiều sẽ tham dự.

Thật ra, buổi ra mắt sách này không hợp với khẩu vị của tôi. Tác giả Huy Trâm, tôi biết, nhưng thơ ông thì thật ra, tôi không cảm lắm. Hình như thấp thoáng đâu đó, thơ HT đăng ở Việt Tide hay Người Việt...Nhưng chưa bài thơ nào của Huy Trâm gây ấn tượng ở tôi.

Vào buổi ra mắt sách, thông báo bắt đầu 7 giờ chiều nhưng khi tôi đến cũng 7 giờ mười lăm, mà chỉ có khoảng năm, mười người. Tôi rất thương, cảm mến những người làm thơ, và cảnh ra mắt sách về thơ, nếu người làm thơ không nổi tiếng và không quen biết, không có hội đoàn và đồng hương ủng hộ, thì sẽ “như phiên chợ chiều”. Tôi biết và tự dưng thấy thương HT trong buổi “bán thơ” trong phiên chợ chiều này.

Tập thơ Bụi Phấn Hoàng Hôn của Huy Trâm kỳ này rất mỏng, tính đúng thì 72 trang. Hình bìa như là một quyển sách quảng cáo “tạp hóa” hơn là bìa một tập thơ. Bụi Phấn Hoàng Hôn nghĩa là gì? Tôi không hiểu. Dù cố diễn giải cách nào cũng không thấu đạt nhan đề cuốn sách.

Sách khoảng 40 bài thơ, bài nào cũng ngắn, 1 trang, bài dài thì 2 trang. In ấn và trình bày rất sơ sài.

Xin ghi ra đây bài thơ chính:

Bụi Phấn Hoàng Hôn

Đời sắp hết mà sao sầu chưa hết

Bao lo toan - không một chuyện ra hồn

Ngước mắt trông lên - bụi phấn hoàng hôn

Trong mờ nhạt - chứa lẽ gì sâu thẳm

Về đấng Thiêng Liêng - anh không rõ lắm!

Em cảm sao, em nói thử anh nghe!

Mình sống hôm nay - thuyền lạc dòng mê

Trước khi chết - muốn dò la cõi chết

Thôi, nói cho qua, chớ chiều nay trời rét

Không gì hơn là ghé quán cô liêu

Tâm sự cùng nhau dưới ngọn đèn cheo

Nhẩn nha kể - mọi buồn vui, trái ý

Anh dại, nên anh theo cô gái Mỹ

Nhờ biên thư - người ta nói anh điên!

Con thuyền của em là nhẹ dạ triền miên

Gặp toàn thứ gì đâu - không thành thật

Anh đã già nua, không có gì để mất

Nhưng nơi em - còn vớt vát thanh xuân

Hãy chọn cho ra - người có tâm thuần

Biết dìu dắt - biết thương và biết xót

Phận hồng nhan, lưu lạc giữa quê người

Tôi (đành) phải cố ghi ra cho hết bài thơ, nhưng không có một chút gì thích thú. Một bài thơ không hay, không diễn tả được một điều gì. Ý, lời thô thiển, như nói.

Trong lời của người MC, với ngôn nghữ dao to búa lớn, đại ý: “với lý tưởng lớn lao sợ rằng nền văn học nghệ thuật VN hải ngoại sẽ bị mai mọt đi, vì không có người làm thơ, vì không ai thích đọc thơ nữa, nên tác giả mới cố gắng nuôi dưỡng và tiếp nối thắp lửa cho nền văn học nghệ thuật VN ở hải ngoại được sống mãi, nên mới có cuộc ra mắt sách này.”

Ý tưởng của lời phát biểu thật hay, nhưng sự thực lại khác, đây là tập thơ có những bài thơ không mang dáng vẻ văn học nghệ thuật chút nào, nên, nếu có cả hàng chục tác phẩm, như tác phẩm này, của Huy Trâm, thì cũng không nói lên một chút văn học nghệ thuật nào, mà còn nhận chết chìm “nó” đi.

Văn Học Nghệ Nghệ Thuật là một cái gì thật cao quý, nhưng qua tập thơ Bụi Phấn Hoàng Hôn, có mang hình dáng văn học nghệ thuật nào đâu.

Trần Yên Hòa

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 27077)
Thuở đó, lúc tuổi tôi vừa lớn, tuổi còn đi học, mỗi lần được dịp đi phố là không bao giờ tôi bỏ quên các tiệm sách. Thuở đó, Tam Kỳ có các tiệm sách như Quảng Thành, Nam Ngãi, Thư, đều nằm trên đường Phan Chu Trinh. Tiệm Quảng Thành bán sách giáo khoa nhiều hơn sách truyện. Tiệm Nam Ngãi lớn hơn, chỗ ngã ba đường, bán nhiều sách văn học và báo chí nên thu hút được nhiều khách hàng, nhất là giới học sinh, giáo sư, công tư chức. Tiệm Thư, có cô chủ tên là Lệ Ngọc, tên đẹp như người,
28 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 26298)
Trường Trần Cao Vân nằm trên con đường cùng tên, một con đường thuộc loại tỉnh lộ, nhỏ và đầy bụi. Lúc tôi vào học, trường còn mái tôn, tường gạch quét vôi màu vàng nhạt. Trường có một cây đa cổ thu cành lá sum suê, thường vào những tháng sắp vào đông, có hàng trăm, nhiều khi đến hàng ngàn con chim sáo, bay về đậu đầy trên cây đa cổ thụ này. Học ở đây mấy tháng, tôi chợt khám phá ra một một người học sinh học trên tôi một lớp, thường chống nạng đi học. Người nam sinh trông rất dễ thương, da trắng, môi hồng như con gái, dáng người mảnh khảnh, nhưng tiếc thay anh bị liệt hai chân nên đi học phải chống nạng.
28 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 23656)
Tên thật NGUYỄN TUẤN KHANH, sinh năm 1941, Nam Vang Quê cha: Xuân Lũng – Vân Cương – Lâm Thao – Phú Thọ. Quê mẹ: Tịnh Thới – Cao Lãnh – Sa Đéc (Đồng Tháp) Bút danh Hội họa: Rừng Bút danh viết văn: Kinh Dương Vương Bút danh thơ: Dung Nham Trước 1975: Viết các báo Bách Khoa, Văn, Văn học, Ý Thức, Tân văn . . . Sài Gòn. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1964, ông là giáo viên hội họa của Trường Sư phạm Quy Nhơn; nguyên hội viên Hội Họa sĩ trẻ Sài Gòn, hội viên Hội Mỹ thuật TPSG, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Sang định cư ở Mỹ năm 1994, đến nay ông đã có nhiều cuộc triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới. Lúc đầu cư ngụ ở Oregon, sau về Los Angeles, California, và rồi thỉnh thỏang vẫn về Việt Nam. Hiện viết cho Văn, Văn học, Sóng văn. Triển lãm tranh nhiều lần trong và ngoài nước
26 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 32494)
Những năm đầu thập niên 60, ở các tỉnh miền Trung bỗng rộ lên phong trào “làm văn nghệ” của các cây bút trẻ. Quả vậy, thời đó anh em chúng tôi còn rất trẻ, tuổi đời chưa tròn đôi mươi, còn ngồi ghế nhà trường trung học nhưng lòng đam mê văn chương thì gần như vô bờ, đã tập tễnh cùng nhau dấn bước vào con đường thi ca. Xuân Thao là một trong số những nhà thơ trẻ ấy ở thành phố Đà Nẵng. Ngay đầu năm 1964, anh cùng hai người bạn thân thiết là nhà thơ Phương Tấn và Uyên Hà, tập hợp thêm sáng tác của một số thân hữu khác, nỗ lực xuất bản hai thi tuyển Rừng và Vỡ
26 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 30289)
Tên thật Phan Bá Dương. Sinh năm 1940 tại quận Tuy Phong, Bình Thuận. Khởi viết từ 1958 với các bút hiệu Thùy Dương, Người Áo Xanh, Vương Hầu, Phan Bá Thụy Dương. Ngưng viết sau khi Luật Báo Chí 1972 ban hành. Trước 75: quân nhân, công chức. Sau 75: Tư chức. Hưu trí sớm và hiện sống tại USA. * Từ 1959 – 1972 - Viết cho tuần báo PNDĐ, PNNM, VNTP, tạp chí Thời Nay, Gió Mới, Mai, báo chí QĐ như: Tiền Tuyến, Diều Hâu, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Tiền Phong… Phụ trách Trang Thơ, Trang Của Lính, viết truyện dài Gió Đi Trên Tóc cho nhật báo Ánh Sáng.