DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,381,176

Lê Thanh Phong - Cái chuồng bò vẫn còn trơ ra đó

Wednesday, May 29, 20197:21 AM(View: 1373)
Lê Thanh Phong - Cái chuồng bò vẫn còn trơ ra đó

Cái chuồng bò
vẫn còn trơ ra đó
Bạt của Lê Thanh Phong cho tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập



Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người



Xin bắt đầu từ những ký ức vụn để đến với “Kiến, chuột và ruồi”.

Những mẩu chuyện rất vụn của Nguyễn Quang Lập quăng tưng tửng lên các trang văn của anh đã thu hút lượng bạn đọc rất lớn. Bạn đọc say với những mẩu chuyện vụn của Lập, và tuồng như, anh đã phát hiện được thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc, để từ đó định hình một lối viết mới, tạm gọi là “phong cách ký ức vụn”.

Và Nguyễn Quang Lập đã sử dụng phong cách này cho tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”. Từ đầu đến cuối tiểu thuyết, không có đoạn văn nào dài, đoạn nào cũng vài chục chữ. Đoạn nào dài lắm chỉ trên 100 chữ. Với bạn đọc hiện đại, cách viết văn chia từng đoạn ngắn này rất phù hợp vì dễ đọc, không chán, nhất là khi đọc trên các thiết bị công nghệ.

Văn phong của “Kiến chuột và ruồi” giản dị, gần gũi. Tác giả sử dụng nhiều ngôn ngữ đời thường, văn nói quen dùng. Kể chuyện những năm 50 của thế kỷ trước nhưng văn phong hiện đại. Chữ nghĩa dung dị, không tả cảnh tả tình mất thời gian, không đại ngôn, không triết lý cao siêu, không dông dài lý luận. Bạn đọc bị các loại tiểu thuyết đại ngôn, đại tư tưởng làm cho mệt mỏi và lắm khi sợ hãi. Cho nên, cách khai mở cho tiểu thuyết hiện đại bằng con đường đơn giản ít khoa trương có lẽ cũng rất cần. Mỗi thời đại, văn hóa đọc khác nhau, người thời nay không cần răn dạy, họ có nhiều công cụ và tri thức để tự dạy mình. Triết lý ẩn trong những câu chuyện, bạn đọc sẽ tự tìm thấy và tự khai ngộ. Nhà văn không nên áp đặt triết lý cho người đọc như một thứ thần quyền mà người đọc là thần dân. Đây là một điểm thành công của tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”của Nguyễn Quang Lập.

Câu thuần triết lý như: “Đánh thức tính nhân văn trong con người chính trị thật khó như đơm đó ngọn tre nhưng không phải không có những ngoại lệ” rất hiếm trong tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi”. Thay vào đó, Nguyễn Quang Lập rất chú trọng xây dựng nhân vật. Nhân vật của Lập được ký họa bằng ngôn ngữ rất tài hoa. Nét nào ra nét đó, chỉ cần một đoạn văn ngắn mấy chục chữ là xong. Đặc biệt là nhân vật ác như “Thủ trưởng”, “Đội trưởng”. Lối đặc tả bằng vài nét bút như đường dao cực bén rất gây ấn tượng, găm vào đầu người đọc ngay, không phai được.
Một lũ quan lại ngu dốt, lật lọng và độc ác gồm Thủ trưởng, Trần Ngô Đống tiên sinh, Đội trưởng, lão kéo xe lôi làm phó chủ tịch thị trấn nhưng đọc chữ không thạo, được tác giả viết một cách rất đơn giản, không cay độc, có khi rất hài hước, nhưng rõ nét đến tận cùng, thối tha đến tận từng tế bào.

Nếu tách ra các nhân vật như Kiểm Hát, Tiên sinh Trần Ngô Đống, anh Tư, anh Cả, chị Hiên, vợ Phạm Vũ… thành từng chuyện cũng là những “ký ức vụn” theo phong cách văn chương Nguyễn Quang Lập, đọc rất thú vị và có không ít điều để nghiền ngẫm.

Cho dù nhân vật nào, độc ác tới đâu, hung dữ đến mấy, bi kịch của con người và xã hội dù thật đau đớn, thì trong tiểu thuyết không thiếu những đoạn văn hài hước, ngôn ngữ chân quê Quảng Bình trở thành đặc sản Nguyễn Quang Lập không nhầm lẫn với ai khác. Những đoạn văn đó làm người đọc bật cười thích thú, nhưng ẩn giấu đằng sau tiếng cười là những cay đắng, suy tư.

Nguyễn Quang Lập đặc tả một đám dân bị nhồi sọ, bị biến thành bầy cừu, bị lên đồng tập thể với giọng văn trào phúng nhưng càng đọc càng xót xa. Ví dụ như đám rước của anh Tư, trẻ con cũng bị nhồi sọ, nhắm mắt hô đả đảo và muôn năm. Để sau này chỉ biết đấu tố, hò hét giết người theo đám đông. Lúc đó, họ hoàn toàn mất đi nhận thức cá nhân. Con người bị tước đoạt đi cái tôi cá nhân để tàng hình vào tập thể gọi là quần chúng từ khi còn là đứa trẻ.

Tuyến nhân vật trong tiểu thuyết đơn giản, không đan chéo nhiều không gian và thời gian khác nhau nên người đọc dễ “quản lý” nhân vật. Nhân vật “tôi” dẫn dắt câu chuyện, làm “trạng sư” phân tích hết tâm lý của từng nhân vật, phán xét cái công án thời đại qua độc thoại của chính mình. Nhân vật ấy là cậu bé trước khi trồi ra ở cửa mình của mạ chỉ thấy cái chuồng bò và cái háng của bà đỡ.

Cảm tưởng tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi” là một tự truyện, hình như phần lớn nhân vật đều là nguyên mẫu của chính gia đình, làng xóm của tác giả, không cần phải hư cấu thêm nhiều. Nếu không phải vậy thì cũng là những nguyên mẫu có thực ở ngoài đời. Và cuộc sống làng quê của tác giả chính là nguyên liệu, chất liệu cho tiểu thuyết. Cái làng đó, cái chuồng bò đó là điển hình cho mọi làng quê, thôn xóm của xã hội miền Bắc một thời và hơn thế.

Thị trấn Kô Long trong “Kiến, chuột và ruồi” chật hẹp, ngột ngạt hơn cái làng Vũ Đại của Nam Cao từng xây dựng. Ở làng Vũ Đại, cùng lắm chỉ có một gã say hay phá phách và một lão Bá Kiến gian manh. Còn thị trấn Kô Long của Nguyễn Quang Lập, không phải là một gã say mà ngược lại, có nhiều thằng tỉnh táo, khôn ngoan, mưu chước, thủ đoạn và độc ác.

Trong cái không gian bức bí của thị trấn Kô Long, có một cái chuồng bò của ông chủ tịch Phạm Vũ còn tối tăm hơn. Cái chuồng bò hôi hám như vậy, mà con người phải sống, phải chịu đựng, phải làm nơi trú ẩn cho chính mình. Vợ và con chủ tịch Phạm Vũ không dám phản kháng, chỉ biết vâng theo lệnh ông để sống chui rúc trong cái chuồng bò.

Về phía chủ tịch thị trấn Kô Long – ông Phạm Vũ – thừa biết cái chuồng bò là bẩn thỉu nhưng ông vẫn bắt vợ con sống. Bởi vì ông cũng biết rất rõ, chỉ trung thành với cái chuồng bò đó ông mới chứng minh được thành phần bần cố nông của mình. Ba chữ “bần cố nông” chính là tấm giấy thông hành cho ông trèo cao hơn. Phạm Vũ không dám từ bỏ cái chuồng bò, ông khư khư bám vào nó cho dù vợ con ông quá khốn khổ, quá chán ngán, quá sợ hãi mùi tanh hôi và sự gớm ghiếc của nó. Nhưng mà Phạm Vũ đã đúng, hiểu theo nghĩa chức tước tạm thời, từ cái thành phần đặc biệt bần cố nông và trung thành với chuồng bò, ông ngoi lên tới chức chủ tịch tỉnh.

“Kiến, chuột và ruồi” cũng là một câu chuyện kể về sự kiện cải cách ruộng đất của thị trấn Kô Long, được lột tả qua hai nhân vật là Phạm Vũ và bà Mai. Chủ tịch Phạm Vũ khi bị bắt giam trong xà lim, trong bóng tối, ông lần tay xuống nền nhà và mò mẫm ra dòng chữ “Tôi bị oan”. Khi có ánh sáng, trên khắp bốn bức tường của nhà ngục chi chít ba chữ “Tôi bị oan”. Tất cả những người đi qua xà lim này chỉ ghi lại được ba chữ đó trước khi bị “Đội trưởng” hành hình bằng một mệnh lệnh là đập vỡ ống thuốc lào. Hết.

Số phận và mạng sống con người phụ thuộc hoàn toàn vào một tay “Đội trưởng” vô học và tàn ác cùng sự lên đồng a dua của một đám quần chúng mê muội. Bà Mai đã bị giết chết man rợ đến con chó Ba Đốm của bà cũng phải phẫn nộ. Con Ba Đốm lao lên như tỏ thái độ phản kháng hành động giết người và để được chết cùng với chủ.

Đọc tiểu thuyết “Kiến, chuột và ruồi” của Nguyễn Quang Lập có cảm giác bị hụt hẩng. Hình như sau hơn 170.000 chữ, nhà văn chưa vẽ bức tranh trọn vẹn của thời đại. Bởi vì, không chỉ thị trấn Kô Long với cái chuồng bò những năm 50, mà còn cả một giai đoạn mấy chục năm về sau với những cái chuồng bò khác.

Nhưng không, bữa ăn văn chương chỉ đến thế, đủ để suy tư và đau buồn. Cái khái quát nhất từ thị trấn Kô Long chật hẹp chính là luôn có một lũ gian ác khoác áo đạo đức giả khắp nơi. Người làm quan có chút thiên lương như chủ tịch Phạm Vũ, nếu không đạo đức giả được thì sẽ thần kinh, và rồi chỉ làm được cái việc diễn thuyết dông dài vô bổ và bắt ruồi.

Đi theo con đường bám riết cái chuồng bò mà chủ tịch Phạm Vũ chọn, thì trên đầu luôn có một bóng ma rùng rợn, ám ảnh đến nỗi mỗi lần nghe đến là Phạm Vũ chảy cả nước đái. Bóng ma đó là một ông “Thủ trưởng” độc ác và dối trá. Bên cạnh ông ấy luôn có một sát thủ giết người không gớm tay là “Đội trưởng” với cây dao phay man rợ sẵn sàng xuống tay theo mệnh lệnh của Thủ trưởng. Nỗi ám ảnh đó ngày nay vẫn nguyên xi.

“Kiến, chuột và ruồi”, cái tựa như truyện ngụ ngôn. Có thể đúng, nhưng không phải ẩn dụ để rút ra bài học làm người đơn giản như thường thấy của ngụ ngôn.

Hãy nhìn một cái chuồng bò, gồm những thứ dơ bẩn nhất, hèn mạt nhất, gớm ghiếc nhất, phá hoại nhất, đó là kiến, chuột và ruồi; và tự hỏi có nên thiêu hủy nó như ông Kiểm Hát đã làm để gia đình ông chủ tịch Phạm Vũ có cơ hội được ở trong một căn nhà mới.
Vẫn còn đó cái chuồng bò với những đàn kiến, lũ chuột và bầy ruồi.


                                                          Lê Thanh Phong
                                                                                                                                                                             (từ: VV)


*

Mời đọc

Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ của Trần Yên Hòa

Sấp Ngửa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, June 27, 20206:01 PM(View: 499)
Bất cứ vì lý do gì, một nhà văn khi còn sức viết mạnh mẽ, mà không thể viết được nữa là một bất hạnh. Khi “Không còn được viết nữa”, vì những lý do áp bức, cường quyền, vì chữ-nghĩa-bị-gông-cùm, ta phải cố mà thoát khỏi cái bất hạnh ấy. Trong hoàn cảnh một Việt Nam Hôm nay, một nhà văn khi còn sức viết mà không được viết, chỉ là bất hạnh thứ nhất. Nếu anh buông xuôi, chữ nghĩa anh sẽ chết, anh đành phải sống, trong thảm cảnh chết dần. Nếu anh viết tiếp với lòng trung thành, nhân văn, với cái gan nói ra sự thật, bất hạnh sẽ được nhân đôi. Đó là sự trừng trị từ phía nhà đương quyền. Anh bảo rằng ngòi bút tôi sung mãn, sâu sắc, về sau? Chính một giai đoạn lịch sử cuồng nghịch, xã hội con người dần biến ra một nhung nhúc tử thi, xú uế tối tăm, chính đó, đã tạo ra cho mỗi con người một sức bật mạnh mẽ để thoát ly. Mỗi thoát ly một tính cách biểu hiện. Có người dương khẩu hiệu, cầm đao kiếm. Tôi là nhà văn, tôi trút vào chữ nghĩa. Chữ nghĩa, cũng là một loại thuốc nhuộm màu
Wednesday, June 24, 202010:29 AM(View: 716)
Tôi là giọt máu lai Việt- Pháp. Đứa trẻ lai nào sinh ra cũng kháu khỉnh dễ thương. Nghe cha nuôi kể, lúc tôi chào đời ở bệnh viện Xanh Pôn, các bà xơ làm hộ lý tranh nhau bế bồng, khen tôi xinh đẹp, quý tướng. Cha tôi là con một chủ đồn điền trồng nho giàu có ở miền Nam nước Pháp. Mẹ tôi là con gái họ Ngô ở làng La Khê, một trong tứ quý địa ở ven kinh thành Thăng Long xưa. Ông ngoại tôi đi lính sang Pháp đánh trận từ hồi thế chiến lần thứ nhất (1914- 1918). Sau khi giải ngũ, cụ được Chính phủ Pháp trợ cấp một khoản tiền về quê tậu ruộng, xây nhà mái ngói hiên tây, vườn sau ao trước, sống đời thanh sạch được dân làng nể trọng. Nhờ thế, mẹ tôi được ra Hà Nội học trường Tây rồi làm việc ở tòa Công sứ. Cha mẹ gặp và yêu nhau say đắm nên tôi là kết quả cuộc tình lãng mạn khác màu da ấy. Cuối năm 1953, khi tôi vừa đầy tháng thì cha nhận lệnh phải về Pháp, hẹn sẽ quay lại đón hai mẹ con sang đó. Thế rồi chiến tranh kết thúc. Hà Nội được giải phóng, mẹ tôi có nhà ở phố Sinh Từ bị tịch thu
Monday, June 22, 20207:50 AM(View: 580)
Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả. Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký. Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu. Một người lính Cộng hòa, đẫm máu trận mạc, là một thương binh, nạn nhân của một kẻ thù cùng chung họ hàng huyết thống, nay chống nạng đi giữa Sàigòn bán vé số, con cái bị
Saturday, June 20, 202010:39 AM(View: 632)
Nói cho rốt ruột, một ngày đời của tôi, hô hoán cho vênh vang, Đời một nhà văn, ngày nào cũng chỉ là một ngày cằm cụi làm ra “Cái-vô-dụng”. Nhân loại hôm nay có bao nhiêu nhu cầu thiết cấp đều đã được đáp ứng đầy đủ. Cần gì thì cần, chẳng ai cần văn chương. Đã qua thời văn chương là vũ khí, là vận động cách mạng, chấn hưng dân trí, tấm gương soi đạo lý làm người. Với “giặc corona”, người ta trữ gạo, thuốc men khẩu trang mỳ gói, chẳng ai mua về nhà vài quyển tiểu thuyết, tập truyện ngắn. Vậy mà “Vô dụng đã hơn sáu mươi năm?” Hẳn, tôi là một người vô-dụng-chuyên-nghiệp. Một đời thành bại nhục vinh, đói no lây lất cũng chỉ với ngòi bút và chữ nghĩa của mình. Xem Cái-Viết như một định mệnh, một hành nghiệp trọn đời. Nơi “nhất thốn tâm tư”, chỗ tấc lòng, nghiệp oan nghiệp chướng! chỉ tự nơi người thừa nghiệp riêng biết, riêng chịu. Tôi không ảo tưởng, chỗ tháp ngà, cho rằng việc cầm bút là một thiêng liêng cao cả, nhà văn là một kẻ cao quý hơn người. Chỉ là trời
Wednesday, June 17, 20209:21 AM(View: 1036)
Tôi nhớ lại, ngày còn ở dân sự, tôi có mua một chiếc áo len màu xám nhạt. Chiếc áo len dày, nên bận vào rất ấm...Đến ngày vào lính, tôi để chiếc áo len đó lại cho cha tôi. Tôi nhớ lại, lúc đó, sao tôi chưa thấy cha tôi có một chiếc áo len nào. Về mùa đông, có lạnh lắm thì cha bận 2 cái áo bà ba, và chiếc quần dài...Cho nên, đi lính, tôi để chiếc áo len này lại cho cha, và nói với cha, con đi lính có quân đội lo hết rồi, không cần gì cả. Con để lại cho cha chiếc áo len này, cha mặc khi mùa đông tới nghe cha. Cha tôi cười nhỏ nhẹ, không nói lời nào, nhưng chắc ông cảm động lắm. Đó là tôi nghĩ thế thôi, bởi tôi lúc đó đâu có lường được cái lạnh của Đà Lạt thế nào, và nổi cam khổ của người lính như thế nào. Cha tôi và tôi ít nói chuyện với nhau. Lúc còn nhỏ lắm, hai, ba tuổi hay bốn, năm tuổi gì đó, cha tôi thường hay cộ công kênh tôi trên hai vai, đi từ nhà tôi lên xóm An Phú, rồi trở xuống xóm An Lương, đi loanh quanh như vậy đến mấy vòng. Tôi được ngồi trên vai cha tôi, hai chân nhỏ