DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,095,210

KHUẤT ĐẨU - Viết Như Kinh Kha Buồn

Tuesday, July 30, 201911:11 AM(View: 209)
KHUẤT ĐẨU - Viết Như Kinh Kha Buồn

Viết Như Kinh Kha Buồn
 
 
blank
    Nhà văn Lữ Kiều
Cuối năm, ngồi đọc lại những đoạn viết rời của Lữ Kiều, bỗng bàng hoàng nhớ lại một thời khói lửa nhiễu nhương suốt 30 năm. Thời mà anh gọi là lịch sử chọn chúng tôi, chứ chúng tôi không chọn. Hay nói như Nguyễn Gia Thiều, “cái quay búng sẵn trên trời/ mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”. Còn hơn thế nữa, không phải đi mà bị lôi xềnh xệch trong đêm tối đen. Đó là số phận của những người nhỡ sinh ra trong khoảng 40, 50 thế kỷ trước.

Cho nên, cái tựa đề “Chàng nho sinh dưới gốc tùng” cũng chỉ là một cảnh viễn mơ ngậm ngùi mà thôi!
Sự thực thì: “ngày-hai-mươi-tuổi, có-những đêm-chong-đèn-ngồi”. Không phải “chong đèn ngồi nhớ lại”, mà ngồi nhớ tới.

Nhớ nỗi khắc khoải của Trang tử: ta hóa thành bướm hay bướm hóa ra ta? Nhớ một tiếng “được” thều thào của Nguyễn Du trước khi nhắm mắt, như dấu chấm hết cho nỗi đoạn trường. Và nhớ những lúc nghe Beethoven với khúc giao hưởng số 9, ở đó anh đếm được đến những 24 lần cái nét nhạc bừng bừng thất thanh hạt lệ nóng trong cái hành âm cuối-cái choeur ấy-như một âm thanh ma trơi, càng nghe càng rùng mình.

Anh cũng nhớ tới G. Nasser, người đã quyết liệt quốc hữu hóa kênh đào Suez trước sức ép nghẹt thở của Anh, Mỹ để phục sinh một Ai Cập huy hoàng của 6000 năm trước, nhớ tới Che Guevara, nhà cách mạng latinh cực kỳ lãng mạn, đã chết một cái chết đẹp như bài thơ.
Anh còn nhớ tới Hà Thúc Nhơn, một bác sĩ chống tham nhũng giống như chàng Don Kihôtê tự tin một cách ngây thơ, để rồi cuối cùng gục chết thảm thương ở quân y viện Nha Trang.

Và dù đau đớn đến xé lòng, anh vẫn không thể không nhớ tới những người điên nói cười ngô nghê trước cảnh chợ Đông Ba bị đốt cháy hôm mùng hai tết Mậu Thân và cầu Tràng Tiền bị Bắc quân giựt sập để chứng tỏ cho thế giới thấy được sự hiện hữu nghiệt ngã và tàn nhẫn của họ.
Anh cũng không quên những người tù không chịu trở về Bắc ở trại tù Phú Quốc, không phải ở lại để hồi chánh mà để khỏi bị loại khỏi cái bầy đàn gọi là “sinh Bắc tử Nam”.

Cũng không thể không nhớ tới hai cha con một anh địa phương quân hồn nhiên đi bắt cúm núm, cha tóc đen mũi tẹt còn con tóc vàng sợi nhỏ, để rồi cảm phục cái cách anh ta biến nỗi đau của mình thành niềm vui sống...

Và, đương nhiên rất nhớ tới Huế.

Anh gọi Huế là người tình cũ, một người tình có mái tóc dài đà đuột ngát hương, là Hương giang, cài chiếc lược ngà lóng lánh, là cầu Tràng Tiền. Người tình cũ ấy cực kỳ kiêu sa, đài các, nhưng cũng cực kỳ yếu đuối. Nàng đã hai lần bị tổn thương, hai lần bị làm nhục *. Nàng đáng yêu muôn phần, nhưng thật không dễ để cùng nàng đi trọn đường tình.
Anh, cũng như những trai Huế khác, Trịnh Công Sơn, Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư ... đều tự nhận mình là người tình phụ. Tôi phụ em một thời bé dại chứ không phải em phụ tôi.

Ngày chàng 20 tuổi, những đêm chong đèn ngồi nhớ, để mà chi?
Thưa để viết!
Hóa ra đây là những ghi chép, những suy tư, những chiêm nghiệm, những thao thức của một người muốn viết như một lần dấn thân.
Nhưng viết như thế nào?
“Viết như Kinh Kha cầm cây chủy thủ, “Viết như Kinh Kha buồn!”

Kinh Kha buồn.
Không phải vì sông Dịch lạnh.
Không phải vì đất Tần lang sói.
Chàng buồn.

Vì phải lên đường cùng với Tần Vũ Dương to xác nhưng hèn yếu. Buồn vì thái tử Đan quá nôn nóng không đợi được Cao Tiệm Ly. Nghĩa là buồn vì cảm thấy việc lớn sẽ không thành. Buồn nhưng không sợ, dù biết rằng “nhất khứ hề bất phục phản“. Ba ngàn tân khách tiễn đưa tóc dựng ngược khi nghe chàng cất tiếng hát. Trong cổ kim chưa có một cuộc lên đường nào bị tráng như thế.
Tần Thuỷ Hoàng chưa biết sợ ai ngoài chàng.

Chàng đã bị băm vằm, nhưng hơn 2000 năm qua chàng vẫn sống. Và chàng vẫn tiếp tục sống đến nhiều ngàn năm sau nữa. Chàng sống không phải vì đã vung con dao chuỷ thủ trước mặt Tần Thuỷ Hoàng. Chàng sống vì đã dám chứng tỏ sự bất khuất. Chàng sống bằng chính cái chết của chàng.

“Viết như Kinh Kha buồn”
“Viết như Kinh Kha cầm chuỷ thủ”.

Nghĩa là, biết chẳng đi tới đâu, biết là thất bại mà vẫn cứ viết. Phải viết. Vì đó là sứ mệnh của những nhà văn ở các nước nhược tiểu, những nước không chỉ có một Tần Thủy Hoàng ngất ngưởng trên ngai vàng đẫm máu, mà còn có rất nhiều bạo chúa ở khắp nơi, nhất là trong lĩnh vực văn chương và nghệ thuật.

Biết là thất bại nên “viết còn là một thú tội”
Vì, đã là nhà văn thì “không có sự thật nào là cấm ky."

Rồi chàng vẽ ra “một nền kiến trúc mới, tinh thần khí thế như tiền nhân những ngày xưa hào hùng... Phải giết con sâu bò trên giấy trắng. Sống hùng dũng và viết như chém đá”... Làm sao đừng ngụy tín. Bởi vì tự hạ giá mình, chúng ta hạ giá văn chương”.

Không nguy tín, không tự hạ giá mình nên ngay từ tuổi 20, anh đã xác tín mình không thể nào và không bao giờ là nhà văn cộng sản.
Anh viết: ”Người cộng sản không tin ở giá trị tự thân cô đơn của nhà văn...” Y là đám đông. Y bị lãnh đạo một cách tự nguyện”
Viết như thế quả thực rất khó. Vậy nên, cho dù những gì anh đã sống, đã hạnh phúc, đã khổ đau, đủ để làm nên một cây chủy thủ, nhưng anh vẫn ngại ngùng chưa viết, dù rằng trong anh vẫn luôn giục giã:

“Kinh Kha thôi đừng bịn rịn, hãy lên đường!”

Thực ra, chẳng phải anh không đủ tự tin để cầm lấy bút như Kinh Kha cầm cây chủy thủ. Anh dùng dắng, đắn đo chỉ vì tự trọng. Cái cốt cách rạng rỡ nhất của một nhà văn chính là lòng tự trọng. Viết hay không viết, còn hơn Hamlet tự hỏi “to be or not to be”.
Bởi vì, viết cho ai? Cho những em bé sơ sinh khi anh đang ở tuổi 20, hay viết cho thế hệ vừa bị cướp mất và vừa tự đánh mất cái “bản lai diện mục” của chính mình.

Viết làm sao, nếu không phải là khúc sinh ca của đồng lúa trỗ thì cũng đừng là bão giông, là hí luận để làm ngu dại cả một dân tộc. Theo anh, “nhà văn đích thực, là nhà văn bị đầy đọa, nhà văn của địa ngục”... Đó là nhà văn bị đóng đinh. Nhà văn bị trừng phạt: viết!

Vì vậy, những đoạn viết rời được bạn bè góp nhặt để in thành sách cách đây 10 năm chỉ được anh khiêm tốn gọi là: Thử Bút. Như thử test trước khi tiêm thuốc. Đó là tính cẩn trọng của một người vừa yêu vẻ đẹp ngất ngây của văn chương mà cũng vừa thấp thỏm ngại ngần trước uy lực phù thủy của ngôn ngữ.

Thử bút, nhưng có nhiều đoạn rất đẹp, gần như hoàn chỉnh. Như viết về Mẹ trong Sen. Viết về Huế trong Người tình cũ. Và, rất cá tính, rất đời trong Quán trên đồi.

blank
    Tranh phác thảo của Thân Trọng Minh
Ngày đầu năm, lên chơi điền trang Thân Trọng, ngôi nhà gỗ cũ kỹ đối với anh, quý nhất vẫn là những bức phác thảo, những bức tranh của Đinh Cường, Lưu Công Nhân, Dương Cẩm Chương. Chỉ vào một bức tranh do chính anh vẽ, anh bảo: “Một bức tranh ai hiểu thế nào cũng được... Nhưng nếu cần giải thích thì cũng có thể. Như bức này. Những mảng màu trắng đục là những trang báo. Con cá thì mắt không bao giờ nhắm. Cây đèn dầu tuy bé nhỏ nhưng vẫn tỏa ra ánh sáng. Tức là, người viết phải luôn tỉnh thức và viết dưới ánh sáng của lương tri”.

Vậy đó! Viết hay vẽ, đối với anh tuy là một hình phạt, một định mệnh, thì vẫn là một dấn thân hết sức nghiêm cẩn. Bởi thế, cho dù con đường anh đi chưa trọn, chỉ một tập truyện ngắn, 7 vở kịch, một tập thơ, đúng là thử viết, thử bước chứ chưa thực sự đi vào đất Tần bất trắc.

Nhưng chẳng phải vì thế mà tôi bớt kính trọng anh. Bởi vì, tuy có ít nhiều hồ đồ, tôi đã thực sự xúc động khi nhìn thấy mình trong Thử Bút những năm anh 20, 30. Ở tuổi đó, tôi cũng có những đêm thao thức: viết cái gì, viết cho ai, viết hay không viết?
Cứ tưởng tuổi tam thập là vừa đủ vốn sống để có thể phóng lên giấy trắng những con chữ chứ không phải những con sâu, thì, hỡi ơi, cả đất trời bỗng dưng sụp đổ.

Tháng 4, 1975 Lữ Kiều bẻ bút!

Đành nghe trong im lặng khúc giao hưởng số 9 ai điếu cho chính mình.

Ở đâu đó, anh viết, tình yêu như là sự chết. Và chết chỉ một lần. Nhưng rồi anh lại bảo, tình yêu cũng có thể phục sinh. Và anh đã làm sống lại chàng Kinh Kha bằng cách cầm cọ vẽ. Những nhát vẽ từ năm 1982 đến nay như chém vào đá. Và những con cá không bao giờ nhắm mắt, dù đã chết. Những con cá vẫn tỉnh thức.

Nhà văn bị bức tử giờ thành họa sĩ. Thì cũng như Trang tử mơ thấy mình hóa bướm. Tuy hai mà một. Có sao đâu!


Khuất Đẩu
(từ: hocxa.com)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 401)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 600)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 531)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)
Tuesday, April 2, 20198:39 PM(View: 791)
Bài báo «Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị» của Trịnh Cung trên mạng Damau.org ngày 01.4.2009 đã gây ra nhiều âm thanh và cuồng nộ. Là người có dính líu ít nhiều đến nội vụ, tôi đã được bạn bè yêu cầu lên tiếng. Đáp lại những yêu cầu chính đáng ấy – nhất là từ mạng damau.org – tôi xin nói ngay, vắn tắt: a) Tôi không đồng ý với bài viết của Trịnh Cung, về đại ý cũng như cung cách diễn đạt. Nhưng theo một châm ngôn, tương truyền của Voltaire: “tôi không tán thành những điều anh nói, nhưng nguyện phấn đấu đến tàn hơi, để anh được nói lên những điều đó”. Điều này, tôi học lóm được nơi các nhà tranh đấu cho dân chủ ở phương Tây. b) Bài báo của Trịnh Cung nêu lên một câu hỏi chính trị; cuộc tranh luận gay gắt từ lúc đầu, kéo dài đến hôm nay – hơn ba tuần – mang bản chất chính trị, không thấy soi sáng thêm được việc gì, mà càng gây thêm thương tổn. Có những tranh luận nâng cao, mở rộng tư cách người viết và người đọc. Có những tranh luận làm con người thấp xuống, nhỏ lại. Biết vậy
Saturday, March 30, 20199:26 AM(View: 287)
Thơ Lưu Quang Vũ có các chủ đề: tình yêu, chiến tranh, thế sự. Anh chú ý nhiều đến khía cạnh đạo lý của người Việt Nam. Ngay từ những năm sáu mươi, khuynh hướng thế sự đã tỏ ra sắc bén ở Lưu Quang Vũ. Không có gì đáng ngạc nhiên là sau đó, những năm tám mươi, anh trở thành nhà viết kịch lừng lẫy (*). Lương tâm của người viết, ý thức công dân làm nên động lực của những vở kịch cũng như thơ của anh. Adrienne Rich: bạn phải viết, và đọc, như thể đời sống của bạn hoàn toàn phụ thuộc vào điều ấy (**). Câu nói ấy đúng cho Lưu Quang Vũ. Một ý thức về dân chủ, ý thức công dân, vốn dễ phát triển trong một xã hội ổn định lâu dài, đã xuất hiện ở anh ngay trong thời chiến và sau đó. Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ Những câu nhạt phèo chiếu lệ. Những lời nhàm tai ai cũng quen rồi. Mọi người quanh ta mang nỗi khổ oằn vai. Ngược đất nước tai ương xé rách. Ta viết mãi những điều vô ích. Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười. Như phường bát âm thánh thót. Mong cuộc đời xuôi tai.