DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,217,179

VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”

Thursday, January 16, 20204:40 PM(View: 343)
VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
                      “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
 




DTL đầu gió


Dùng nguyên thành ngữ 4 từ trên làm tên cho một nhà xuất bản xuất hiện vào  những năm cuối của cuộc chiến 1954-1975, chắc hẳn người sáng lập-nhà thơ Du Tử Lê-đã gửi gắm vào đó nhiều ước vọng!
 
Đó là một nhà xuất bản chuyên in các sáng tác văn chương (thơ, truyện). “Vàng”, và “Ngọc” ở đây là những gì,  có đúng là “thứ thiệt” hay không?
 
Các ấn phẩm đầu tiên của Gìn Vàng Giữ Ngọc trong đầu năm 1974 lại là những…tập thơ (thường khó bán chạy như trào lưu sách diễn tình thời thượng). Đó là “Đời Mãi Ở Phương Đông” của chính “ông chủ” NXB, và Thơ Kim Tuấn của Kim Tuấn-một nhà thơ đã sống và đang là quân nhân ở tận chiến trường cao nguyên (Pleiku).
 
Trên tạp chí Tiền Phong của Quân đội VNCH cuối năm đó, dưới bút danh Lê Thụy Du, trong bài điểm sách “Thơ Kim Tuấn”, Du Tử Lê đã viết : “Tôi vẫn nghĩ văn chương của chúng ta, nhất là thi ca, thiếu hụt hẳn cái mầm xanh của trời, cái óng ả của cây cỏ, cái tươi mát, hùng vĩ của rừng núi. Bởi thế, Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một cơn mưa hiếm muộn đến với vườn đời khô nẻ. Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một phiến trời xanh, giữa không gian xám, úa”…
 
Những năm này ở miền Nam, do các biến động về mặt tinh thẩn xã hội sau những “hoá thân” , “sống vội” hoặc “nghi ngờ”, “phủ định tất cả” mà chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng triết học mang lại, giới cầm bút  đang có khuynh hướng “về nguồn”.
 
Bốn chữ “Gìn Vàng Giữ Ngọc” mà thi sĩ Du Tử Lê dùng, hình như cũng nằm trong xu hướng đó? Nhưng nếu thật sự đó chỉ là khát vọng trở về với thiên nhiên, về với :tình tự dân tộc”, thì …đơn giản quá. Ai cũng có thể làm được!
 
Mãi đến gần đây, sau nỗi bàng hoàng và tiếc nhớ khi anh Du Tử Lê  xa rời cõi tạm, ngồi  đọc lại những tàng thư liên quan, tôi mới hiểu hơn những gì ở phía sau 4 chữ của thành ngữ mà anh đã dùng làm tên gọi nhà xuất bản!
 
Ở Việt Nam trước đây cũng như hiện nay, các nhà văn nhà thơ thường có thu nhập chính từ một nghề nghiệp  không phải là sáng tác. Đa phần là nhà báo, đi dạy học, hoặc là công chức, quân nhân. Người làm nghề báo, tức cũng sống bằng nghề cầm bút, nhưng không phải để làm văn chương mà là chạy theo thời sự, cái viết ra phải theo ý kiến của người cầm chịch-tức chủ báo hoặc nhóm quyền lực sáng lập ra tờ báo. Nhà văn mà đi làm báo thời sự thì sau đó thường rất khó viết văn-vì dễ “đá lộn sân”!
 
Thi sĩ Du Tử lê cũng đã từng nhiều năm làm báo, là phóng viên chiến trường do Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính Trị quản lý. Khoảng năm 1973, anh được cử về làm Thư ký Toà soạn tạp chí Tiền Phong. Tạp chí ra hàng tháng; đứng tên chủ nhiệm là Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu (tức nhà thơ Cao Tiêu). Anh đã không “đá lộn sân”!
 
Vừa về nhậm chức “nồi niêu soong chảo” cho tờ tạp chí này, Du Tử Lê đã “trình diện” trên đó hai bài thơ mới sáng tác (ghi sáng tác ngày 25-7-1973) của mình:
 
   
DTL Chủ biên tặng sách Đầu Gió
                                                                                                 thủ bút Du Tử Lê
 
 

Lạ lùng thay, trên tờ tạp chí văn nghệ “chính thống” của quân lực VNCH, vẫn là một Du Tử Lê  trong thay đổi nhịp điệu thơ lục bát; và cách chấm, phẩy theo hình tượng ý và chữ (ví dụ trong bài trích dẫn: …gió đi, tôi động, lòng rào rạt, xưa). Thơ không mang mệnh lệnh, cổ vũ, hô hào ra trận…đáng lẽ phải có ở một tờ tạp chí văn nghệ dành cho các chiến sĩ.
 
Tạp chí Tiền Phong từ đó không chỉ “khác lạ” với hơi thơ Du Tử Lê. Những quân nhân là các nhà thơ thời danh như Cao Tiêu, Hà Huyền Chi, Tạ Tỵ, Y Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Bắc Sơn, Thái Tú Hạp, Vũ Hoàng, Hạ Quốc Huy, Phạm Lê Phan, Phan Lạc Giang Đông; lớp mặc áo lính trẻ hơn như Trần Dạ Lữ, Lê Nguyên Ngữ, Bùi Đức Long, Chu Ngạn Thư… xuất hiện thường xuyên ở đây. Báo mời được  cả các “lão thành văn nghệ” như Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Song Hồ, Mai Trung Tĩnh..; cả những người không mặc áo lính vẫn có bài đăng, như Đỗ Nghê, Lê Phổ Đức, hay mới xuất hiện như Hoàng Trần từ Pleiku. Thơ đăng trên tờ Tiền Phong lúc này đa phần có chủ đề về tình yêu (thậm chí là tình phụ) và những cảm xúc về thiên nhiên, tình người…
 
Năm 2014, trong chuyến du lịch đến Mỹ, tôi được gặp lại thi sĩ Du Tử Lê. Và  anh đã xác nhận: Du Tử Lê coi như là chủ biên của tuyển tập thơ Đầu Gió xuất bản năm 1973. Sách dày 570 trang, bìa ghi rõ: tuyển tập những bài thơ thép; và “dành để tặng các chiến sĩ”. Tập hợp hơn 160 nhà thơ hiện thời của miền Nam, đa phần in lại những bài thơ hay, đã được nhiều người biết. Lạ lùng là trong “Tuyển tập những bài thơ thép” này, có mặt cả những nhà thơ không dính dáng gì với chiếc áo lính, như Nguyễn Đức Sơn, Lê Văn Ngăn, Phạm Ngọc Lư, Võ Chân Cửu, Hà Nguyên Thạch, Phạm Cao Hoàng…
 
Qua những gì thi sĩ Du Tử Lê ứng xử, tôi hiểu thêm rằng: những sáng tác hay chính là vàng, là  ngọc, cần phải gìn giữ cho đời. Và sau 1975 ở Hoa Kỳ, anh lại tự nguyện dành thời gian làm công việc đó.



                                                                           Võ Chân Cửu
                                                                                                                                  (Tác giả gởi)



Image result for Chung chúc tân xuân 2020                                                               

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-contentTRần Yên Hòa 20
TYH và 3 con gái



 

 
 
 
 
 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, February 19, 20208:21 PM(View: 64)
Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy. Sững như một ngọn gió. Đôi mắt tròn to, long lanh. Mãi long lanh với miệng cười. Như Niêm Hoa Vi Tiết. Bỗng ông bật dậy đi rót cốc nước lọc cho tôi, cho ông. Tôi im lặng dõi theo dáng nguòi nhỏ bé di động, lắng nghe tiếng vạt áo lam phất phất trong căn phòng nhỏ một buổi chiều. Rồi chắp tay cung kỉnh, thưa Thầy khoẻ không? Miệng cười nở rộ hơn, ánh mắt tinh nghịch hơn, Tuệ Sỹ đáp như reo, anh thấy tôi khỏe không hè? Tôi cười nheo mắt, Thầy khoẻ con mừng. Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được đúng một tháng. Ngày ấy đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng. Nay da đầu đã nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân mình. Quá khổ đối với thế tục. Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại. Tuệ Sỹ luôn cười, bằng “đôi mắt ướt tuổi vàng cung
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 128)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 314)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 111)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 146)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một