DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,345,056

Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 13)

Wednesday, May 20, 20208:27 AM(View: 584)
Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 13)

Ngày N+… (kỳ 13)

Bản Tin Tức Cuối Cùng của Đài Phát Thanh Sàigòn ngày 29-04-1975 ...

Ngày N + 36, 7 giờ tối

Có tin đồn ông Thiệu muốn tẩu tán toàn thể số vàng dự trữ của quốc gia. Chuyến bay bị hủy bỏ, nghe đâu tới 16 tấn vàng, không lấy ra khỏi ngân hàng được, vì bị phó thủ tướng đặc trách kinh tế Nguyễn Văn Hảo chặn lại. E rằng lời hứa của ông Thiệu: “Tôi từ chức thì quân đội có thêm một người nữa” lại cũng cuội mà thôi. Bà Thiệu đã tẩu tán được bao nhiêu đồ cổ rồi, bây giờ ông Thiệu muốn gom một mớ nữa. Cú này ông chơi trội, ông mang vàng của cả nước đi, ông bán máu suốt tám năm làm Tổng thống, bà Thiệu lại phúc hậu, đâu có biết buôn bán như bà Khiêm.

Ông bận làm Tổng thống, giao cái vụ vàng trắng, vàng đen cho tướng Quang, giao vụ gạo, thuốc trụ sinh cho tướng Nghi, bà Thiệu thì chỉ được các anh Tỉnh trưởng đàn em, biếu cái gì cầm cái ấy, đâu có kế hoạch như bà Khiêm, đâu có giang sơn một cõi như bà Viên. Ông bán máu xương, vàng đen, vàng trắng vất vả mãi mới có số vàng gửi trong ngân khố, đó là tài sản của công ty “danh tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang”, bây giờ ông mang đi. Nhiều ngày nay loan truyền trong dân chúng một bài diễn văn đọc nhại theo giọng ông Thiệu: “Đất nước còn tôi ở Sài Gòn, đất nước lâm nguy tôi ra Phước Tuy, đất nước mất tôi lên Đệ Thất hạm đội. Máu là của đồng bào, xương là của chiến sĩ, nhưng đù mẹ, vàng là của tôi…”

Hèn nào, mấy năm ngồi chơi xơi nước, ông Kỳ cáu kỉnh đến thế.

 

Ngày N + 38, 8 giờ sáng

Lập trường của Cộng sản là không chịu nói chuyện với ông Thiệu. Ông Thiệu đã từ chức, đã cút thì bọn chúng cũng lại trở mặt, không chịu đối thoại với ông Hương. Chúng tuyên bố trên đài phát thanh: ông Hương với ông Thiệu không khác gì nhau. Chúng muốn nói chuyện với thành phần thứ ba như ông Minh Cồ chẳng hạn. Những người tự nhận là thành phần ở giữa nhặng xị cả lên, mặt mũi tự nhiên quan trọng hẳn ra. Nhà hát lớn, chỗ trước kia các đại diện của dân miền Nam, nhộn nhịp ra vào, các dân biểu “gia nô” và “đối lập cuội” trước kia gật đầu trước tất cả mọi điều ông Thiệu và ông Khiêm muốn, bây giờ lẹ làng đón gió gật đầu trước tất cả cái gì Việt cộng muốn. Chưa chi đã có chủ mới ngay được, tài thật. Tất nhiên một số cậu đã cao bay xa chạy, đã chuồn từ cả tháng trước. Chính cái bọn vận động cho ông Thiệu qua mùa độc cử năm 71, chính cái bọn a tòng sửa hiến pháp bằng một tu chính án, cho ông Thiệu được thêm một nhiệm kỳ nữa, chính cái bọn đó đang vận động ép ông Hương trao quyền cho ông “Minh Cồ”.

 

Ngày N + 38, 3 giờ chiều

Cộng quân mở một mặt trận mới tấn công vào Long Thành và Phước Tuy. Nhờ sự chiến đấu dữ dội của Nhảy dù, Thủy quân Lục chiến và Thiết giáp, đường Sài Gòn Vũng Tàu vẫn còn giao thông được. Họ sẽ giữ được trục lộ này tới bao giờ?

 

Ngày N + 38, 7 giờ tối

Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt đã dời về Long Thành. Lễ mãn khóa diễn ra trong một bầu không khí u uất, ở một doanh trại điêu tàn của Mỹ để lại. Những sinh viên sĩ quan của hai khóa chót ra trường cùng một lúc. Họ giống như những trái cây bị ép non, có một lớp vỏ ngoài đẹp đẽ của những trái chín, nhưng lớp ruột bên trong còn sượng, chưa đủ già. Họ đã mặc đồ đại lễ tiến ra mặt trận. Mặt trận đâu có xa xôi gì, nó lởn vởn ngay ngưỡng cửa Long Thành, và cách cổng quân trường chưa đầy một cây số.

 

Ngày N + 38, 8 giờ tối



Hồi ức ngày 29-4-1975 - TRE Magazine


Không biết phải làm gì cho hết những giây phút ngột ngạt, khó chịu, hết ra lại vào, ngay cả ba đứa nhỏ con anh Tư tôi dường như cũng bị lây sự lo sợ của người lớn, ra vào khép nép. Cha tôi bình thản lạ thường, mẹ tôi bồn chồn, nóng nảy, bà cụ lấy cỗ bài tổ tôm ra, bày trận phá hoài, lần nào cũng bí.

Tôi thưa với cha tôi về việc có tàu Hải quân do Yên chỉ huy đậu bến Sài Gòn, tôi có thể đi vào phút chót với Yên. Tôi nói với cha tôi:

– Các anh chị con, ai cũng đông con. Anh Phong bốn, anh Lưu sáu, anh Hoạt tám, anh Điệu bốn, chị Hiền ba, cô Hợi một, cô Nga ba, kể cả người lớn, nhân số toàn gia gần năm mươi người, vả lại, con không biết ý kiến các anh chị đi hay ở thế nào. Nhà con đã kẹt ở Cam Ranh, hay cậu mợ đi với con.

– Cậu mợ già rồi, chỉ quẩn chân anh thôi. Vả lại chắc gì đi được. Hơn thế nữa, bỏ con cháu ở đây, phiêu lưu tới một xứ sở xa lạ không ích gì. Anh đi một mình, bàn với anh Điệu coi. Anh ấy là sĩ quan Cảnh sát, cũng cần thoát hiểm như anh. Cậu muốn ở lại đây, chôn ở đây. Anh không cần bận tâm. Anh liên lạc với anh Yên chặt chẽ, đừng ham chơi, chán nản. Nếu ra được nước ngoài anh ráng học hành lại, cậu chết cũng mãn nguyện. Biết đâu trời còn thương, có ngày quay về sử dụng được cái sở học nơi xứ người.

– Con làm nhà trên Đà Lạt, những mong có ngày vợ con hầu hạ cậu mợ khi tuổi hạc đã cao, con biết đã làm cậu thất vọng nhiều. Cơ sự như thế này, con định mời cậu mợ đi sang Mỹ với con.

– Anh lẫn rồi, cậu đi làm gì? Cậu biết lòng anh là đủ. Ngày vợ chồng anh làm nhà trên Đà Lạt, tuy anh chưa nói ra, cậu cũng biết bụng anh muốn phụng dưỡng cậu mợ. Trời đã an bài, số cậu vất vả lúc già, không được hưởng chút an nhàn. Cưỡng lại vô ích. Sang Mỹ rồi cũng chết vì nhớ thương con cháu, có khi lại còn chết sớm hơn là đằng khác. Vả lại đa thọ là đa nhục. Bọn chúng vô đây, nếu sống được cậu hưởng thêm tuổi trời vài năm nữa. Cậu đã sáu lăm gần thất thập cổ lai hy rồi. Còn nếu không thể sống được với chúng thì chỉ một cái tặc lưỡi là xong. Anh đi một mình. Cần nhất là phải tiếp tục việc học bỏ dở của anh. Cậu tiếc cho anh lắm, cậu tiếc cái thông minh của anh, anh không có được cái chí của anh Phong, của chú Bảy. Anh mà có chí bằng nửa chú Bảy thôi, anh sẽ hơn người.

– Hay là con mai danh ẩn tích ở lại đây. Sài Gòn đông tới hai, ba triệu người, chúng không thể kiểm soát hết được. Con cũng không muốn bỏ nhà con với hai đứa nhỏ ở lại bơ vơ.

– Anh lại nghĩ quẩn rồi. Anh phải đi, nếu sau này bọn chúng có tử tế, mình vẫn tìm cách để sum họp được. Miễn là còn người và có lòng chung thủy thôi. Anh Yên là bạn như thế nào với anh? Sao cậu chưa bao giờ nghe anh nhắc tới tên?

– Dạ, Yên bạn học với Hải chồng của cô Hợi, anh ấy mơ làm hạm trưởng Hải quân từ ngày còn học trung học. Mộng của Yên như vậy kể như đạt được một nửa. Thỉnh thoảng hắn mới đi chơi với con. Chắc cậu không biết Yên đâu, ông cụ của Yên hồi xưa có dạo làm Trưởng ty Công an ở Hải Phòng.

– Như vậy cậu biết ông cụ anh ấy. Dường như ông cụ tên là Nguyễn Trường Cửu thì phải? Nếu đi được thì liên lạc với thằng Nguyên con anh Lưu ở bên Úc, hai chú cháu anh ở chung được với nhau thì càng tốt. Thằng bé ở bên ấy chắc cũng đang sốt ruột lo cho gia đình. Nếu không được qua Úc với cháu, cũng chịu khó liên lạc với nhau. Nó lớn nhất nhà, song tính nết hơi yếu đuối, không được như mấy thằng em nó, hay thằng Sĩ con anh Phong. Thằng đó tính hiếu thảo, cả nể, không biết sau này có bị vợ ăn hiếp không? Anh có điều gì căn dặn cậu không?

– Con xa nhà đã lâu, lần này chắc là biệt vô âm tín, lang thang nơi quê người. Con cầu xin ông bà tổ tiên phù trợ cậu mợ lúc nào cũng mạnh khỏe, bọn chúng vô đây, chắc không một ai có thể nhàn nhã được. Con chỉ cầu mong cậu mợ khỏe mạnh, vui vẻ. Con chỉ mong có bấy nhiêu thôi. Cậu có nhắn gì cháu Nguyên không?

– Anh nói cho cháu biết, ông nội lúc nào cũng thương nhớ đứa cháu du học phương xa. Dặn nó nhớ những điều ông nội nhắn nhủ trước khi lên phi cơ xuất ngoại. Thế là đủ.

Ngày N + 39, 10 giờ sáng

Giải pháp Dương Văn Minh mỗi lúc mỗi rõ nét. Cựu Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu, đương kim Thượng nghị sĩ, tiếp xúc nhiều nhân vật để thành lập nội các. Ông Mẫu chú trọng rất nhiều đến những chính khách trong thành phần thứ ba. Thành phần này được dân chúng gọi đùa là thành phần lủng lẳng ở giữa.

Mặt khác, tướng Kỳ hướng dẫn một phái đoàn tướng lãnh yết kiến Tổng thống Trần Văn Hương. Tướng Kỳ muốn nắm quân đội, muốn tử chiến. Cũng nên ghi nhận trong lần tiếp xúc này, luận điệu của ông Kỳ bớt quá khích, bớt hăng như lần ông xuất hiện ở nhà thờ Tân Sa Châu vài ngày trước. Một nguồn tin khác được loan truyền khá rộng trong dân chúng, trong trường hợp Mỹ bỏ Sài Gòn như bỏ Nam Vang, ông Kỳ và các tướng lãnh khác cùng với một số đảng phái chánh trị sẽ bắt cóc ông đại sứ Mỹ Graham Martin cùng toàn thể nhân viên tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Nhóm của ông Kỳ định dùng những con tin này ép chính phủ Mỹ tôn trọng những cam kết với Việt Nam Cộng hòa, viện trợ cấp bách vũ khí, đạn dược để miền Nam có đủ phương tiện chống trả Cộng sản.

Tôi suy gẫm về nguồn tin này thấy có hai điểm đáng ngờ đây chỉ là những tin vịt:

Một kế hoạch như thế không thể phổ cập rộng rãi, bộ bọn CIA đàn em của Polgar mù và điếc hết cả sao? Cả tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ, với những vũ khí tối tân nhất, chắc là những người gỗ hay sao? Quan trọng nhất là tướng Kỳ. Ông có phải là loại người dám làm những việc trọng đại như thế chăng? Tôi ngờ rằng không. Ông Kỳ là người thích nói, có cái phổi to và xốp, người ta quen gọi là phổi bò. Ngay cả ông Kỳ làm thật, tóm cổ được ông đại sứ Graham Martin thật, cũng không đi đến đâu, chỉ tổ làm tình hình nát thêm, sẽ đổ máu thêm vô ích. Những người làm chính sách của Mỹ cũng đã tiên liệu những việc có thể xảy ra, chắc chắn họ đã tính đến việc này. Chắc chắn họ sẽ có biện pháp của họ. Vả lại, lòng dân đã nát rồi. Số phận của Nam Việt Nam đã tận, không một ai có thể gỡ nổi.

Thứ hai, những tin đồn loại này sẽ làm cho tình hình rối loạn hơn lên, nó làm cho dân chúng không biết đường nào mà xoay trở. Nó có thể được loan truyền từ phía Cộng sản, nó có thể được loan truyền bởi những người thiếu ý thức, chỉ muốn mọi người tin rằng họ là những nhân vật quan trọng, am tường tình thế, nó cũng có thể được loan truyền từ CIA để chặn trước, vô hiệu hóa bớt những phản ứng của những người xốc nổi như tướng Kỳ.

 

Ngày N + 39, 4 giờ chiều

Áp lực của Cộng sản trên trục lộ Sài Gòn Vũng Tàu mỗi lúc mỗi nặng nề. Từ nửa tháng nay, những người có tiền mà không có điều kiện di tản bằng đường hàng không, đi Vũng Tàu tìm phương tiện tự túc. Rất nhiều nhóm trông cậy vào những ghe đánh cá lớn ở Vũng Tàu có thể mang họ ra thoát được Việt Nam. Trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chưa bao giờ dân Việt muốn bỏ nước đi nhiều như bây giờ. Ngay cả cách đây hơn một thế kỷ, lúc triều đình Huế dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức ban dụ cấm đạo gay gắt nhất, một số dân công giáo băng rừng tới Thái Lan lập nghiệp. Con cháu số giáo dân này, hiện vẫn còn là một lực lượng Việt kiều đáng kể ở Thái Lan, nhưng con số di dân hồi đó đâu có thấm gì với hiện tại.

Hơn một thế kỷ trước, dưới triều đại phong kiến, vi phạm tới luật triều đình bị xử trảm như chơi, thế mà số giáo dân còn ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ cao hơn những giáo dân muốn tị nạn gấp mười. Bây giờ Cộng sản mới ló mặt ra, chẳng có đạo dụ gì cả, chưa ban bố một hiệu lệnh nào, thế mà dân chúng đã co vòi lại, bỏ của chạy lấy người, thờ Phật cũng chạy, thờ Chúa chạy còn lẹ nữa. Đủ hiểu bọn chúng không khá được. Trục lộ Sài Gòn Vũng Tàu từ một tuần nay là lối thoát duy nhất cho những ai không đủ điều kiện chui lọt vào tòa đại sứ Mỹ, vào phi trường Tân Sơn Nhất. Giữ lâu được chừng nào, sẽ có nhiều người đi thoát chừng nấy. Các đơn vị một thời của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nào, các anh Nhảy dù nón đỏ, Thủy quân Lục chiến nón xanh và Thiết giáp nón đen đang đền ơn dân chúng miền Nam bằng cách cố giữ cho được lối thoát này.

 

Ngày N + 40, 2 giờ chiều



Nhớ Lại Đêm 29-4-1975: Đêm Dài Nhất của Sài Gòn

Tổng thống Trần Văn Hương, ông giáo già của miền Nam, của hội Liên trường, mới tuyên thệ nhậm chức được vài ngày đã bị các dân biểu “đón gió” trở cờ ép thoái vị. Ông khóc trước quốc dân, ông đọc diễn văn trước lưỡng viện, và nêu một câu hỏi lớn: “Người ta coi chủ quyền quốc gia, coi hiến pháp như món hàng đem bán.”

Cụ giáo Tổng thống ơi, cụ lầm rồi, để hậu sinh chúng cháu nhắc cụ một việc: Hơn hai ngàn năm trước dây, vào cái hồi thịnh nhất của Khổng học, cái bóng của Khổng Khâu còn in rõ nét nhất trên vòm trời Trung hoa, rõ đến độ ép cái hình ảnh an nhiên tự tại của Lão, Trang lu mờ, nhường chỗ cho đám môn hạ của Khổng Khâu như Tử Cống, Tử Lộ, Tử Tích… xôn xao xe ngựa, quyền uy ở khắp các triều đình. Vào lúc mà cái học của Khổng Khâu, cái đạo đức chính trị của các nhà lãnh đạo được đề cao tới mức tối đa, ở nước Tàu của cụ Khổng nảy ra một anh Lã Bất Vi. Anh này vốn là con buôn, một hôm hỏi bố:

– Buôn bán hàng hóa lời lãi như thế nào?

– Lãi gấp đôi.

– Buôn bán vàng bạc, châu ngọc lãi gấp mấy?

– Lãi gấp mười.

– Buôn vua thì sao?

– Lãi không biết đến đâu mà kể.


Thế là cậu Lã Bất Vi lân la làm quen với một anh con không có gì xuất sắc của vua Tần, lúc đó đang làm con tin ở nước Triệu. Họ Lã dùng mánh khóe con buôn, sau cùng cũng mang được anh này về Tần được làm vua, họ Lã còn mang cả vợ lẽ đã có thai gả cho anh vua cù lần này. Cái thai sau này trở thành Tần Thủy Hoàng, bạo chúa số một của Trung Hoa. Thời phong kiến ông vua là trên hết trong sự sắp xếp tôn ti trật tự xã hội: quân, sư, phụ. Có ông vua trong tay là có cả nước trong tay, xử anh nào chết phải chết, cho ai sống được sống. Lã Bất Vi buôn được món hàng vạn thặng này, xoay cả nước Tần trong tay, rốt cuộc cũng chết bởi chính anh con Tần Thủy Hoàng.

Hai ngàn năm trước, người ta đã mua bán được cả nước, huống hồ bọn lái buôn trong thời đại nguyên tử ngồi một chỗ, bấm những cái nút, mọi sự kiện của tất cả thế giới đều hiện lên màn ảnh TV. Bọn buôn nước đã tinh khôn gấp vạn lần họ Lã, bọn bán nước còn ngu độn, cù lần gấp trăm lần vua tần, ông vua này chẳng những không bán nước, lại còn được chọn làm vua, ngồi làm cha người ta, có tam cung lục viện, việc nước thì giao quách cho họ Lã còn muốn gì nữa. Nhưng bọn bán nước ngày nay, mỗi đứa bán một chút, mỗi đứa bán một mảnh. Bán mảnh lớn thì vồ nhiều tiền như cậu Thiệu, cậu Khiêm, cậu Quang, cậu Toàn, còn bán mấy mảnh vụn thì cũng vồ được xe hơi, nhà lầu, cơm ngon vợ đẹp.

Cụ giáo Tổng thống ơi, bọn hậu sinh chúng cháu xin trả lời câu hỏi của cụ: “…

Người ta coi chủ quyền quốc gia, coi hiến pháp như một món hàng để bán sao?…” Thưa cụ đúng vậy. Không tin, cụ hỏi mấy anh học trò của cụ coi, có anh còn thuộc sách của họ Lã hơn bài học cụ dạy nhiều. Cháu cũng xin thưa với cụ giáo Tổng thống một điều nữa: “Cháu không dám coi Lã Bất Vi như một anh bán nước, anh đó buôn nước Tần, dĩ nhiên đã đem vợ mình đổi lấy món hàng, thì món hàng đó phải ghê gớm cỡ nào. Họ Lã, xét cho cùng, có công với nước Tần, có công với Trung Hoa, nội việc gồm thâu lục quốc đã tiết kiệm biết bao xương máu cho dân Trung Hoa hơn hai ngàn năm trước. Thời Xuân thu Chiến quốc kéo dài cả ngàn năm. Thất quốc tranh hùng, đánh nhau trời sầu đất thảm thế mà đến tay họ Lã, rồi Tần Thủy Hoàng kế tục thu về một mối. Người như họ Lã, bây giờ người ta gọi là cphính trị gia. Các chính trị gia khôn ngoan giỏi giang thì có lợi cho đất nước, còn ngu muội thì chỉ có bán nước đi mà thôi.

Tiếc thay, phần đông những người hoạt động chính trị của miền Nam có rất ít người khôn ngoan giỏi giang, họ mới nhìn thấy cái ghế Tổng, Bộ trưởng là đã sướng run lên rồi, họ cần ngồi vào chỗ đó, ngồi để mà hưởng lợi. Còn họ Lã dĩ nhiên là lời to, nhưng họ Lã đã nhọc công gây dựng nước Tần, đã lao tâm tổn trí đến độ sau này, anh con ruột là Tần Thủy Hoàng ngứa mắt, ban cho một chén thuốc độc. Họ Lã còn đáng yêu một điểm là để lại cho hậu thế chúng ta một bộ sách Lã Thị Xuân Thu. Họ Lã đâu có tài văn chương, nhưng đã gom hết mấy anh nhà văn cỡ nhỏ, gom góp tài liệu, sách vở hoàn tất bộ sách để đời này. Khi bộ sách xong, đem treo ngoài chợ và rao ai sửa được một chữ thưởng ngàn lượng vàng. Chẳng có ai được lãnh giải văn học nghệ thuật của họ Lã cả. Mấy chính trị gia cỡ Tổng Bộ trưởng của miền Nam, và cả những chính trị gia độc lập nữa, có anh nào làm được cái gì hay ho đâu mà dám coi thường họ Lã.

Cụ giáo Tổng thống ơi, cụ chơn chất như thế mà nỡ lòng nào đi làm phó cho anh Thiệu. Cháu e rằng, hậu thế khi đọc lại sách cũ, có kẻ sẽ hiểu lầm cụ. Cái đức của cụ bạc lắm, cụ ngồi chung với bọn Thiệu Khiêm làm gì, để đến nỗi bây giờ mang tiếng với đám hậu sinh.

 

Ngày N + 40, 3 giờ chiều

Lại xuống xóm cho qua ngày giờ. Chưa chi các chị em ta đã tan đàn xảy nghé, biếng nhác phấn son, hành nghề… không tích cực. Tôi cũng chẳng hứng thú gì, có điều không biết làm gì cả. Từ Biệt khu Thủ đô ra, định chạy lên nhà anh Cả tôi, ngang qua chỗ rạp xi nê Khải Hoàn, chẳng hiểu sao khi thắng xe lại, tôi thấy mình còn cách cái vila hành nghề của chị em ta có một quãng đường ngắn. Giờ này, anh Cả tôi chắc chưa về. Tôi còn biết làm gì hơn là chui tọt vào đó.

 

Ngày N + 40, 5 giờ chiều

Anh Cả tôi vẫn chưa về, tôi ngồi chờ ở bàn giấy làm việc của ông. Xung quanh tường, những giá sách kê cao đến tận trần, anh tôi là người mê sách. Dễ chừng một thư viện nhỏ trong căn phòng này, cả ngàn quyển đủ mọi loại, loáng thoáng thấy một vài quyển sách do các bạn văn tặng, tôi vất vương vãi ở nhà, anh tôi đem về đây giữ hộ. Trên tường, một bức sơn dầu của Nguyễn Trí Minh, bức tranh này Trương Hồng Sơn tặng cho tôi, vì Sơn là em ruột họa sĩ Trương Thị Thịnh, vợ Nguyễn Trí Minh.

Bức tranh vẽ mấy con ngựa rừng đang g̣ặm cỏ trên một cánh đồng. Có cái bao la bát ngát của trời đất, có cái nghênh ngang của một con ngựa nghển cổ hí, khi tặng cho tôi, Sơn nói: Ông cũng giống như những con ngựa này, đang cố gắng chống trả lại những áp đặt trên người ông, ông cố hất những bộ yên, những sợi dây cương lủng lẳng cùng với hai miếng da che mắt. Ông vùng vẫy nhưng những yên, cương, những miếng da che mắt đó vẫn còn như bộ quân phục ông mặc trên người. Ông là con ngựa chưa được thuần nên ít có tên nài nào muốn cưỡi. Tôi mong ông giữ được cái không thuần này. Một bức tranh thiếu nữ của Thái Tăng An vẽ, và một bức khác của Hoàng Đăng Nhuận. Tranh của Nhuận là thủy thái họa. Tất cả những tranh này, trước kia tôi treo ở nhà tôi trên Đà Lạt. Khi phải đổi đơn vị, tôi mang về gửi anh Cả tôi.

Tranh của An gợi nhớ lúc tôi ở Pleiku, thơ có Kim Tuấn, Cao Thoại Châu và tôi, họa có Ngô Văn Đinh Hợi, Thái Tăng An. Chúng tôi dựng quán cà phê Tay Trái, tên này do Cao Thoại Châu đặt, vì anh lập luận “Tay Trái” là nghề tay trái đó mà. Bọn văn nghệ láo lếu như mình, trong thời buổi này, mười tên thì có đến chín tên thò tay mặt đặt tay trái. Nhưng tận trong đáy lòng, anh tôi biết anh nghĩ khác. Tay trái gần với trái tim hơn. Quán dựng lên được sáu tháng, lúc đầu rất đông, sau vài buổi đọc thơ chống chế độ, khách ít người lai vãng. Rút cục còn toàn các cậu chủ và bằng hữu đọc thơ cho nhau nghe. Riết rồi thân hữu cũng sợ liên lụy, nhìn lại còn có có mươi người khách, mà thường xuyên nhất lại chính là hai ông Trưởng ty An ninh Quân đội và Trưởng ty Cảnh sát. Thế là đóng cửa.

Tranh của Nhuận gợi cho tôi thời ở Đà Lạt. Thơ có Lê văn Ngăn, Nguyễn Xuân Thiệp và tôi, họa có Hoàng Đăng Nhuận, Thái Lãng, Trần Hoài, nhạc có Lê Uyên Phương, văn có Nguyễn Quang Tuyến, kịch có Lữ Kiều. Có nhiều người đứng chàng hảng như Lãng văn và họa, Lữ Kiều văn và kịch, Ngăn, Thiệp và tôi thơ và văn. Khách thập phương thì nhiều biết bao nhiêu mà kể, những bạn văn của chúng tôi ở khắp chốn thỉnh thoảng ghé chơi. Căn nhà tôi có một dạo như nhà vãng lai. Vợ tôi đã cầm nhẫn cưới, bông tai, dây chuyền không biết bao lần để tôi có thể đãi đằng bằng hữu.

Tranh của Nguyễn Trí Minh do Sơn cho gợi tôi nhớ tới những bãi biển tuyệt vời ở Phú Quốc, đến những hàng rào kẽm gai, đến những rừng cao su, đến tù binh, tôi nhớ đến một câu thơ tôi làm khi còn ở Phú Quốc, thấy mình cũng chẳng hơn tù binh là bao:

… Và vì vậy cũng như anh

Tôi chỉ là một tù binh không hơn kém

Bị vây bủa trong thời nội chiến

Bị cầm tù tuổi trẻ

Bị nghẽn lối ngày mai

Tất cả những vùng đất vừa kể, sớm hay muộn rồi cũng bị lật nhào. Máu xương đổ ra cho miền Nam suốt hai mươi năm, rút cục cũng không trổ được một nhánh hoa tự do đúng nghĩa. Thật ra cái cây của miền Nam trồng không thuần giống tự do, nó đã bị cớm, nó đã bị sâu, nó đã bị rỗng ruột. Đã đến lúc những giàn giá đổ, đã đến lúc cháy nhà ra mặt chuột, nên vì đó mà cây không trổ hoa, nó kết cho miền Nam một trái đắng. Trái đắng của tù ngục, của nhục nhằn.

Anh Cả tôi đã về, tôi ăn với anh tôi một bữa đạm bạc. Một người bạn với anh tôi xoay được một danh sách tị nạn do Mỹ chọn lựa, và đã điền tên gia đình anh tôi trong cái manifeste này. Anh tôi chêm cả tên tôi vào danh sách. Anh tôi cũng không hy vọng gì nhiều. Không một cái gì chắc chắn trong lúc này. Tôi không biết anh tôi nghĩ gì. Anh đã từng du học ở Mỹ một năm, tu nghiệp về sư phạm, dường như anh tôi cũng không thích Mỹ lắm. Anh muốn đi chỉ vì tương lai của mấy đứa nhỏ mà thôi. Ăn xong, tôi thấy anh hì hục với mấy kệ sách, anh muốn thu dọn trước những sách nào còn có thể lộ diện ở miền Nam, bóng anh tôi đổ dài trên đống sách vở ngổn ngang.

 

Ngày N + 41, 8 giờ sáng

Rốt cuộc, ông Minh Cồ cũng giựt được cái cờ để phất. Sáng nay, ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu trình nội các lâm thời với một danh sách vỏn vẹn có bốn người. Ông Mẫu, ngay khi nhậm chức đã tung ra một quả bom, làm cả miền Nam ngơ ngác. Ông chính thức gửi văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam, từ ông Đại sứ đến nhân viên các cấp, nhất là cơ quan DAO. Người Mỹ đâu có cần ông Mẫu đuổi, họ bỏ miền Nam vì miền Nam hết còn giá trị với người Mỹ. Họ đã biết chắc được mâu thuẫn giữa Trung cộng và Nga khó có thể hàn gắn được. Trung cộng mỗi lúc mỗi ngả dần theo Mỹ để được hưởng một chút tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Họ đã dùng Trung cộng để ngăn chặn Nga, họ thả miền Nam bởi vì đối với dân Việt, kẻ thù nguy hiểm nhất lúc nào cũng là Trung cộng. Nuốt được miền Nam, bọn Cộng sản ngoài Bắc sẽ phải ôm chân con gấu Nga ở xa, để chống con chó sói Trung cộng ở gần, nghĩa là Mỹ đã đẩy Việt Nam vào thế ngăn chặn Trung cộng ở phía Nam.

Kampuchia là lá bài của Trung cộng với Pol Pot và đám Khmer đỏ hiếu sát. Rồi đây, trong vài năm tới, tình hình Đông Nam Á đố có yên được. Ông Mẫu ơi, ông khỏi cần đuổi Mỹ. Họ đang kiếm cớ để đi. Giờ thì họ đã có cớ để ra đi sớm sủa. Ván bài miền Nam đã vật đến lá chót.

 

Ngày N + 41, 9 giờ sáng

Đài Phát thanh Quân đội đọc nhật lệnh của Tân Tổng Tham mưu trưởng. Tôi nghĩ tới văn phòng Đại tướng Cao Văn Viên trong Tổng tham mưu trống trơn, sáng nay ông đã không tới văn phòng, và tập hồ sơ trình ký còn dở dang trước bàn giấy. Trên đài phát thanh, người được bổ nhiệm chức tân Tổng Tham mưu trưởng là Trung tướng Vĩnh Lộc, có một thời được mệnh danh là “Anh Cả Trường Sơn”. Ông cựu cũng như tân không ai có mặt ở văn phòng. Ông cựu Đại tướng Viên có lẽ đã có mặt ở tàu Mỹ.



Vận Mệnh Nước Việt Nam


Mấy năm sau này, khi sự tranh chấp quyền lực giữa các tướng mới nhen nhúm, ông Kỳ phổi bò, bị ông Thiệu cho vào xiếc, ngồi chơi xơi nước, thỉnh thoảng ngứa miệng tuyên bố vài câu vớ vẩn vô hại. Hai tướng còn lại là ông Thiệu và Khiêm ở trên hai cái đỉnh của quyền lực. Mỗi người có một phe nhóm riêng, vây cánh riêng. Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng đứng giữa các tranh chấp quyền lực này. Ông được ông Thiệu tin cậy, và ông Khiêm nể mặt. Những anh nhà báo, nhà văn quân đội thay phiên bốc thơm ông Tướng “văn võ song toàn này”. Võ thì tôi chưa biết rõ, tôi là một đại úy, nghển cao cổ, kiễng hẳn chân lên thì tôi cũng chỉ với tới ông Đại tá sếp sòng của tôi. Khi tôi là thiếu úy, ông Viên là Thiếu tướng Tư lệnh quân đoàn III, thỉnh thoảng tôi được nhìn, chỉ đứng xa nhìn thấy ông to lớn, có dáng võ biền, chỉ có dáng võ biền thôi, còn thực sự tôi cũng không biết.

Còn văn thì ông Viên ra sao? Tôi biết ông học thi cao học văn chương Pháp. Trong các tướng thối thân từ quân đội Pháp, học lực trung bình thì có Trung học hồi xưa, khá thì có Tú tài, còn dốt đi từ khố xanh khố đỏ đi lên cũng không phải là ít. Giữa đám tướng lãnh như thế, có một ông có “Cao học văn chương” đâu phải bỡn. Tôi không bao giờ dám coi thường lòng hiếu học của ông. Có điều phàm làm tướng, chỉ huy cả triệu quân dưới cờ, thì trọng trách phải giữ cho quân đội được nghiêm minh, trên dưới rõ rệt. Quân ra quân, tướng ra tướng.

Những năm trước 70, quân đội còn có chút tôn ti. Từ đó trở về sau, quân đội do những thẩm thấu của chính trị, mỗi ngày mỗi nát ra. Ông làm Tổng Tư lệnh có bao giờ nghĩ đến điều này? Tệ trạng tham nhũng mỗi ngày mỗi lớn, đến độ lập ra một nha Tổng thanh tra Quân lực, rút cục cái nha này, mỗi lần đi tới đâu, là cả địa phương phục dịch, bưng bít. Những người lính chiến đấu thiếu giày, thiếu áo, thiếu lương khô và thậm chí cả đạn dược. Nạn lính ma, linh kiểng có mặt trên cả bốn quân khu. Có bao giờ ông nghĩ đến những điều này hay ông còn bận đi học? Giả dụ như một người khác trong địa vị của ông, có đi học cũng phải kín đáo, lén lút một chút, chứ đâu có lộ liễu đến độ cả nước biết ông thi cao học văn chương. Đám sinh viên văn khoa nhiều người đã vô cùng khó chịu, trước một ông Đại úy nào đó mỗi lần đi lấy cua cho Đại tướng, mặt vênh váo như mới dự trận về. Đó là văn của ông. Võ mãi hôm nay tôi mới thấy rõ, ông cuốn gói, không một lời từ giã ngay cả những người làm việc trực tiếp dưới quyền ông, trong văn phòng của ông. Ông bỏ cả ấn tín, phù hiệu, và cái cờ nhỏ có bốn sao của ông để lại nơi bàn giấy. Thật chẳng khác nào đám tướng cuối triều Trần.

Ông quên cả những nhật lệnh ông đọc mỗi dịp Tết về gửi toàn quân, cả triệu người đứng nghe im phăng phắc. Mãi tới hôm nay, tôi mới nhìn rõ cái nhân cách “văn võ song toàn” của ông Đại tướng. Giờ này đâu đó trên tàu Mỹ, không biết họ dàn chào ông Đại tướng của miền Nam với lễ nghi quân cách như thế nào?

 

Ngày N + 41, 12 giờ trưa

Đường Sài Gòn Vũng Tàu bị địch chặn ngang gần cầu Cỏ May, Cộng sản pháo vào phi trường Biên Hoà. Đại tá Tỉnh trưởng Biên Hoà Lưu Yểm cùng một số thuộc hạ bỏ đơn vị chạy về Sài Gòn. Không hiểu ông “Quế Tướng công” đang làm gì, còn có mặt ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn III, hay ông đã tháp tùng Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng “thăm viếng” Hải quân quân lực bạn? Thế là một phần đời nữa của tôi đã trôi ra biển. Bây giờ địch không còn tiến đánh từng thành phố, quân ta bỏ chạy trên nhiều mặt trận. Tôi nhớ những ngày tháng thụ huấn ở trường Quân cảnh Vũng Tàu năm 1964, rồi sau đó năm năm đi đủ nơi, trở về làm một sĩ quan huấn luyện viên bất đắc dĩ. Tôi nhớ tới những ngày ngắn ngủi ở Biên Hoà, năm 1965, tôi bị phạt chờ Tiểu đoàn III Quân cảnh tống đi nơi khác.

Dịp chờ đợi này, tôi là sĩ quan hộ tống đạn dược, mỗi ngày hộ tống hai chuyến xe bom. Một cho phi trường Biên Hoà, một cho phi trường Tân Sơn Nhất. Năm đó Bắc Việt đang bị Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ oanh tạc dữ dội. Bom đạn sao mà nhiều đến thế. Nếu Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ cứ oanh tạc Bắc Việt bằng gạo, có lẽ chiến tranh sẽ có những biến chuyển khác ngay từ dạo đó. Bởi Bắc Việt hàng năm hạn hán mất mùa, lại dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh, nên nạn đói luôn luôn đe dọa ngoài đó. Cứ oanh tạc bằng gạo, chắc chắn những xạ thủ phòng không ngoài Bắc sẽ bắn máy bay cách xa cả cây số, vừa đỡ tốn máu xương cả hai bên, mà có khi Bắc Việt còn thua xiểng liểng. Vả lại gạo rẻ hơn bom đạn cả ngàn lần.

 

Ngày N + 41, 1 giờ trưa


Dương Văn Minh – Wikipedia tiếng Việt
                                                                                               
     TT Dương Văn Minh
  


Nhiều phản lực cơ Phantom của Mỹ xuất hiện trên vòm trời Sài Gòn, sau đó hàng trăm chiếc trực thăng đủ mọi kiểu bay rợp một góc trời. Mỹ chính thức bỏ Việt Nam, quay lưng lại với người bạn đồng minh nhỏ bé mà một thời báo Mỹ ca tụng với những danh từ hoa mỹ: “Tiền đồn chống Cộng”, “Pháo đài Tự do”. Vài chiếc trực thăng bỏ hàng ngũ, bay đến những cao ốc có người Mỹ trú ngụ, đáp trên nóc những cao ốc này. Cả Sài Gòn nghển cổ nhìn lên trời, nhìn những chiếc máy bay lạ, đủ kiểu như những tín hiệu cuối cùng của sự sống.

 

Ngày N + 41, 2 giờ 30 chiều

Giao tranh giữa hai bên diễn ra khắp các nơi phụ cận Sài Gòn trong một bán kính không đầy hai mươi cây số. Sài Gòn mỗi lúc mỗi giống Nam Vang. Bên ngoài tòa Đại sứ Mỹ, dân chúng tụ tập hàng ngàn người. Những người có Pháp tịch cũ, đã trở lại Việt tịch bây giờ lại hốt hoảng xin trở lại Pháp tịch.

 

Ngày N + 41, 4 giờ chiều

Dân Sài Gòn đập cửa phòng thông tin Hoa Kỳ. Dân chúng lũ lượt khuân đi những bàn ghế, máy đánh chữ, dụng cụ văn phòng, sách vở. Sau cùng họ chất cả tấn báo chí, tranh ảnh lại và đốt những món đồ không quý giá này.

 

Ngày N + 41, 6 giờ chiều

Yên cho tôi biết, toàn thể đại gia đình anh đã thuê một số phòng khách sạn gần ngay bờ sông Sài Gòn. Vợ con Yên vẫn ở tại nhà anh ở đường Chi Lăng Phú Nhuận. Anh cho tôi biết là sẽ đi rất bất ngờ, anh dặn tôi đi đâu cứ cách vài tiếng là phải ghé bến tàu hoặc về nhà anh ở Phú Nhuận, hoặc trên khách sạn chỗ toàn thể đại gia đình anh tập trung.

 

Ngày N + 41, 8 giờ tối

Địch quân tấn công quận Hốc Môn và Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Sài Gòn bây giờ nằm trong tầm đại bác của Cộng sản. Chúng đã có mặt ở bốn phía. Thế mà không thấy ông Kỳ và cái plan biến Sài Gòn thành Stalingrad đâu cả.

 

Ngày N + 41, 10 giờ đêm

Suốt từ chập tối tới giờ, tôi nghe những tiếng nổ của súng lớn vẳng từ xa lại. Đêm nay 29-4-1975, trăng hạ tuần trông giống như một cái sừng trâu mỏng, nhọn. Tôi leo lên mái nhà, nằm dưới cái tàn cây trứng cá, ngửa mặt nhìn trời, thỉnh thoảng lao vụt qua màn đêm, những chiếc máy bay cô quạnh, đơn lẻ. Xóm đêm tĩnh mịch, tiếng những con vật ăn đêm mò mẫm trong bóng tối, và tiếng quả tim tôi đập mỗi lúc một to. Tôi chợt nghĩ tới số phận tôi qua lời tiên đoán của “Khôi cụt”, một người tài hoa ngày nào trên đất Đà Lạt. Khôi xuất thân khóa 16 Đà Lạt, ra trường xong được một thời gian, gửi lại cho miền Nam một bàn tay. Cách đây sáu tháng, có lần ghé nhà tôi chơi, ngủ đêm. Khôi hỏi tôi về ngày sinh tháng đẻ của tôi, anh nổi tiếng là một người coi tử vi giỏi. Tôi gạt đi vì chẳng bao giờ tin vào “khoa học huyền bí”.

– Tôi chỉ nhớ ngày tây, lại không rõ giờ nào làm sao ông hành nghề được.

– Bố khỉ, tôi biết ông không tin. Cho ông hay có nhiều thằng đặt bạc thước trước mặt tôi cũng không coi, tôi chỉ coi cho những người tôi quý thôi. Thôi được, đưa ngày sinh của hai đứa nhỏ đây.


Chập sau, Khôi nói với tôi bằng một giọng hết sức nghiêm trọng:

– Số hai đứa nhỏ kỳ lắm, tụi nhỏ sẽ phải xa bố, xa mẹ. Cứ theo như lá số của cả hai đứa, tôi thấy việc đó sắp xảy ra. Ông có xin du học hay chạy chọt làm Tùy viên quân sự ở đâu không?

– Không.

– Thế thì kỳ thật, cứ như tài nghệ của tôi về tử vi, tôi quả quyết với ông, hai đứa bé này hễ có bố thì không có mẹ và ngược lại. Và thời gian xa vắng này kéo dài lâu lắm, giá chót là 15 năm đổ lên. Đưa ngày sinh tháng đẻ của ông đây.

– Đã nói với ông rằng tôi không bao giờ hỏi bà cụ tôi về vụ tôi sinh giờ nào. Có đưa cũng vô ích.

– Mẹ kiếp, nước sắp đại loạn hay sao mà tôi bấm tử vi cho mấy đám, đám nào cũng có cái vụ xa cách, chia lìa, tan tác.

Giờ đây tôi biết Khôi đã đoán đúng. Cũng như tiếng tiêu của anh Biệt động quân ngày nào báo hiệu trước, đã đến lúc bách điểu chia ly, trăm hoa tàn tạ.

 

Ngày N + 42, 8 giờ sáng

Đài phát thanh Quân đội từ mấy ngày nay không hề có bình luận, thông cáo hay tin tức, thay thế vào đó là những bản nhạc hùng. Hôm nay thế chỗ cho những bản nhạc hùng tráng, quân hành, là những bản nhạc nặng tình quê hương, những bản nhạc có thể đúng dưới mọi chế độ.

Đài phát thanh Sài Gòn đọc hết thông cáo này đến thông cáo khác, kêu gọi dân chúng bình tĩnh, giới hạn di chuyển, và kêu gọi quân đội ở yên vi trí, tiết kiệm máu xương.

Đài phát thanh của Việt cộng loan báo tới tấp những phần đất chiếm được, và rêu rao chính sách mười điểm về cái gọi là “chủ trương hòa hợp dân tộc”.

 

Ngày N + 42, 12 giờ trưa

Giao tranh vẫn tiếp diễn xung quanh Sài Gòn. Quân lực miền Nam bây giờ không còn một ông tướng nào, ngay cả những ông tá cũng khó kiếm. Sự chống trả của miền Nam hiện nằm trong tay những sĩ quan cấp úy cỡ đại đội trưởng. Cả quân lực tan biến hết, đọng lại còn những đơn vị nhỏ chai lì cố giữ từng tấc đất trong phạm vi trách nhiệm của những quân nhân vô danh.

 

Ngày N + 42, 3 giờ chiều

Ghé nhà Nguyễn Trường Yên, Yên không có nhà, vợ con Yên đồ đạc sẵn sàng. Tôi có ý định chờ Yên về đi luôn một thể. Tôi nóng ruột muốn chạy về nhà đón anh Tư tôi, vừa ra khỏi ngõ nhà Yên, một trái đại bác nổ trên đường Chi Lăng, trái nổ làm tử thương ba người dân, bị thương nhiều người khác. Người chết nằm tênh hênh trên mặt lộ. Địch pháo tới tấp vào phi trường Tân Sơn Nhất. Nhiều cụm khói bốc cao tại phi trường.

 

Ngày N + 42, 4 giờ 30 chiều

Nhà đóng cửa im lìm. Cậu mợ tôi, anh chị Tư tôi và lũ nhỏ không một ai có nhà. Vừa ra khỏi cổng gặp Tô Thế Liệu, một anh bạn dạy võ bị. Anh đến tìm tôi kiếm đường chạy ra ngoại quốc. Tôi và Liệu chạy thẳng ra khách sạn nơi toàn gia đình Yên trú ngụ, dọc dường thấy dân chúng phá nhiều căn nhà trước đây do Mỹ trú ngụ. Liệu lái xe len lỏi giữa dòng xe cộ hỗn loạn ngược xuôi. Dường như không một ai tỉnh táo, biết mình phải làm cái gì, định làm cái gì. Cảnh bến tàu làm tôi không còn tin ở mắt mình. Dân chúng bị chặn lại ở cổng Bộ Tư lệnh Hải quân, một số xe du lịch bỏ lại đậu ngổn ngang trên bờ. Một số trẻ em bán báo, đánh giày hôi của, đập kính xe lấy đồ đạc bên trong. Tôi gặp Yên đứng đón người nhà ngay cổng Bộ Tư lệnh Hải quân.


Tôi hỏi Liệu:

– Sao, ông đi hay ở?

– Đi chứ, nhưng tao còn kẹt cái xe đi mượn của ông anh phải mang về trả.

– Giờ này còn sợ mất chiếc Honda này làm gì? Mạng còn không lo, lo gì cái xe.

– Không được, tao phải trả ông ấy cho đàng hoàng, tao sẽ quay lại.

– Tao cũng chỉ đi nhờ thôi, không một ai hứa với ai điều gì bây giờ.

– Mấy giờ tàu nhổ neo ông Yên?

– Không biết chắc giờ nào. Nhà tao cũng còn kẹt người, kẹt cả đống người, bây giờ mới có 6 giờ, chắc cũng phải tối mới đi được.

– Tôi quay về đón ông anh tôi, ông cho tôi một giờ, tôi trở lại, ông đón tôi ở ngoài này được không?

– Không được. Tao đâu có đưa gia đình tao vào bằng cổng Bộ Tư lệnh. Tao đón bằng ca nô.

– Sao ông Liệu?

– Tao phải về.


                                                             Hoàng Khởi Phong
                                                                                                                                                        (từ: VV)

                                                            * 


Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D



Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, June 22, 20207:50 AM(View: 390)
Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả. Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký. Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu. Một người lính Cộng hòa, đẫm máu trận mạc, là một thương binh, nạn nhân của một kẻ thù cùng chung họ hàng huyết thống, nay chống nạng đi giữa Sàigòn bán vé số, con cái bị
Saturday, June 20, 202010:39 AM(View: 402)
Nói cho rốt ruột, một ngày đời của tôi, hô hoán cho vênh vang, Đời một nhà văn, ngày nào cũng chỉ là một ngày cằm cụi làm ra “Cái-vô-dụng”. Nhân loại hôm nay có bao nhiêu nhu cầu thiết cấp đều đã được đáp ứng đầy đủ. Cần gì thì cần, chẳng ai cần văn chương. Đã qua thời văn chương là vũ khí, là vận động cách mạng, chấn hưng dân trí, tấm gương soi đạo lý làm người. Với “giặc corona”, người ta trữ gạo, thuốc men khẩu trang mỳ gói, chẳng ai mua về nhà vài quyển tiểu thuyết, tập truyện ngắn. Vậy mà “Vô dụng đã hơn sáu mươi năm?” Hẳn, tôi là một người vô-dụng-chuyên-nghiệp. Một đời thành bại nhục vinh, đói no lây lất cũng chỉ với ngòi bút và chữ nghĩa của mình. Xem Cái-Viết như một định mệnh, một hành nghiệp trọn đời. Nơi “nhất thốn tâm tư”, chỗ tấc lòng, nghiệp oan nghiệp chướng! chỉ tự nơi người thừa nghiệp riêng biết, riêng chịu. Tôi không ảo tưởng, chỗ tháp ngà, cho rằng việc cầm bút là một thiêng liêng cao cả, nhà văn là một kẻ cao quý hơn người. Chỉ là trời
Wednesday, June 17, 20209:21 AM(View: 740)
Tôi nhớ lại, ngày còn ở dân sự, tôi có mua một chiếc áo len màu xám nhạt. Chiếc áo len dày, nên bận vào rất ấm...Đến ngày vào lính, tôi để chiếc áo len đó lại cho cha tôi. Tôi nhớ lại, lúc đó, sao tôi chưa thấy cha tôi có một chiếc áo len nào. Về mùa đông, có lạnh lắm thì cha bận 2 cái áo bà ba, và chiếc quần dài...Cho nên, đi lính, tôi để chiếc áo len này lại cho cha, và nói với cha, con đi lính có quân đội lo hết rồi, không cần gì cả. Con để lại cho cha chiếc áo len này, cha mặc khi mùa đông tới nghe cha. Cha tôi cười nhỏ nhẹ, không nói lời nào, nhưng chắc ông cảm động lắm. Đó là tôi nghĩ thế thôi, bởi tôi lúc đó đâu có lường được cái lạnh của Đà Lạt thế nào, và nổi cam khổ của người lính như thế nào. Cha tôi và tôi ít nói chuyện với nhau. Lúc còn nhỏ lắm, hai, ba tuổi hay bốn, năm tuổi gì đó, cha tôi thường hay cộ công kênh tôi trên hai vai, đi từ nhà tôi lên xóm An Phú, rồi trở xuống xóm An Lương, đi loanh quanh như vậy đến mấy vòng. Tôi được ngồi trên vai cha tôi, hai chân nhỏ
Sunday, June 14, 20206:43 PM(View: 380)
Tôi biết tin quyển tiểu thuyết của tôi bị cấm khi vừa chia tay mấy người bạn bên bàn bia cỏ vỉa hè trở về nhà. Vốn không phải dân bia rượu, nhưng chiều hôm đó tôi đã hơi quá chén. Bởi cuộc bia ngẫu hứng này được tổ chức là vì tôi. Những vại bia lạnh thấu cổ, lạnh tới ngực, lạnh xuống tận bụng được mọi người nâng lên đặt xuống là để thêm men, thêm lời chúc mừng tập sách còn đang trong thời gian lưu chiểu nhưng đã ánh lên những tia sáng của một buổi sớm mai và sự cựa mình của gió. Nhiều người đã tìm mua, có người mua đến mấy chục quyển để tặng bạn. Người gọi điện, người viết thư chúc mừng. Cả những bức thư cảm ơn vợ tôi, “nhờ có chị mà những điều vô ngôn đã được nói thành lời”, “cầu cho cuộc đời chính thống biết chấp nhận nó”. Nhiều nhà thơ đã gửi cho tôi những bài thơ đầy cảm xúc viết ngay giữa đêm khuya khi vừa đọc xong tập sách. Rõ ràng nó đã tạo nên dư luận, hứa hẹn một thành công hằng mong ước. Rời bàn bia, lòng đầy ắp niềm vui, vừa bước vào cửa, đã thấy vợ tôi đi như chạy từ phí
Friday, June 12, 20208:23 PM(View: 431)
Anh sẽ đến bất ngờ ai biết trước. Miệng khô rồi nẻo cực lạc xa xôi. Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người. Em chưa đái mà hồn anh đã ướt... Hai đứa nhìn nhau bảo phải êm ru. Em sắp đái và hồn anh chết cứng. (Hợp Lưu số 47). Ngôn ngữ thân xác còn có khả năng gây sốc. Nó gây sốc vì nó bị cấm kỵ. Càng bị cấm kỵ càng gợi tính tò mò của người đọc. Khả năng gây sốc chính là đề tài những cuộc tranh luận về những từ ngữ được gọi là “tục tằn” được gã làm thơ ngông liên tiếp tuôn ra làm người đọc khó chịu. Ngôn ngữ ông dùng vừa tân, vừa cổ, vừa lãng mạn, vừa dung tục. Khi trắng, khi đen, phơi bày lồ lộ, lúc mờ, lúc nhạt, thơ thẩn, lượn lờ, kỳ ảo. Có thể nói, có hai cực trong con người ông, khi chánh, khi tà, khi thô ráp, lúc dịu dàng, âu yếm. Trong hình ảnh một con thú cần cù ẩn mình trong những đêm cát bụi, con thú đực nằm chơi bên bờ cỏ đêm để thấy hồn mình ướt và xôn xao như trăng, như gió. Có lần tôi viết thơ cho ông, nói về những cảm nhận của mình về lối ông làm th