DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,376,982

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" - Vào chuyện (1)

Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 572)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" - Vào chuyện (1)
                                                  Tháng ngày "lính lác"


Sach TYH

                                                                                      Hồi Ức


1.


Thi vào...trường đại học lính


Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe...""Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...".

Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968.

Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng.

Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2.

Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ  nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy xe lửa. Ở đây toàn là động "chị em ta". Các cô gái mặt hoa da phấn đứng giữa đường mời gọi, níu kéo khách qua đường. Mới đầu, tôi ngu ngơ không biết là gì, sau đó, nghe người bạn giải thích, "động đĩ đó mi" tôi mới vỡ lẽ, cho nên sau đó, khi đi ngang qua khu đường rầy xe lửa này, tôi phải cắm đầu, cắm cổ đi thật mau.

Ở đây một tuần, chỉ lo chuyện thi cử, thi xong là ra bến xe về Tam Kỳ liền. Nên tôi vẫn không biết Đà Nẵng đường ngang ngõ dọc thế nào?

Lần thi này cũng vậy. Tôi không có ai thân thiết ở Đà Nẵng. Thì phải làm sao đây?

Tôi chợt nhớ hồi ở quê, nghe nói, các anh như Phan Đắc Lộc, Nguyễn Văn Lục ở Cẩm Khê, Kỳ An, Tam Kỳ... hiện nay đang sinh sống tại Đà Nẵng.

Hai anh Lộc và Lục (sau này anh Lục đổi tên Lâm) là bạn của anh tôi, anh G. Khoảng những năm 62, 63, tình hình an ninh ở Kỳ An không yên ổn, nên gia đình các anh đã dọn về Đà Nẵng.

Tôi chỉ biết hai anh Lộc, Lục qua anh tôi, nhưng "cùng tắc biến", tôi phải đi tìm. Khi được biết gia đình anh Lộc, Lục..., nhà ở khu chợ Cồn, nên tôi cố tìm cho ra. (tôi chỉ có mẫu tin nhỏ, anh Lục có người cha (cũng tên Lục) đang bán thuốc Tây tại khu chợ Cồn, khoảng ngã tư đường Khải Định & Hùng Vương.)

 Tôi đi xe đò ra Đà Nẵng và "ngơ ngác" đi tìm.

May mắn thay, tôi tìm ra ngay được bác Lục. Gặp bác, tôi trình bày hoàn cảnh của mình, và được bác vui vẻ đón tiếp, rồi chỉ đường về nhà bác. Tôi còn được bác cho biết, là hai gia đình anh Lộc, anh Lục cùng mua một ngôi nhà, ở chung nhau. Nhà có căn gác nên nhiều người bạn ở quê ra Đà Nẵng vẫn đến đây ở nhờ.
Bác nói với vẻ rất hào hứng:
- Ô, mấy thằng Thái, thằng Tân, thằng Giảng ra ở đây, đi dạy kèm. Bây giờ nghe nói tụi nó cũng đi lính hết rồi. Mình ở quê với nhau nên giúp đỡ nhau là chuyện nên làm mà mi.

Theo địa chỉ và sự hướng dẫn của bác Lục, tôi tìm ra nhà và gặp anh Lộc. Anh nồng nhiệt tiếp đón tôi. Anh Lộc rất vui khi biết tôi là em anh G. Anh ân cần lo chỗ ngủ, và nói:
- Ăn uống không bao nhiêu, mi cứ ở đây mấy ngày lo thi cử, còn gia đình có gì ăn nấy. Còn đi thi thì tau chở đi cho, mi đừng ngại gì hết.
Biết làm phiền như vậy, nhưng tôi cũng mừng là có chỗ ăn chỗ ở yên tâm lo ôn bài để thi. Xong, hôm về, tôi gởi tiền ăn, gia đình anh Lộc không lấy đồng nào.
 Tôi biết thêm, mấy năm trước đó, anh Lộc thi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, ra trường dạy tại Đà Nẵng, anh được hoản dịch vì lý do gia cảnh, vì là con trai độc nhất trong gia đình...
Hai lần thi như vậy. Tôi còn nhờ anh Lộc dò coi kết quả dùm nữa chứ.
 
*
 
Ngày tôi còn học trung học đệ nhất cấp, nhìn các anh và các chị ở Cẩm Khê đi học trung học ở Tam Kỳ, chạy xe đạp trên đường tỉnh lộ từ Cẩm Khê xuống Chiên Đàn (Ngã ba Kỳ Lý), rồi từ đó đạp xe vào Tam Kỳ. Các anh/chị ở Cẩm Khê, tuy ở xa thị xã Tam Kỳ hơn tôi, nhưng tôi vẫn thấy các anh chị này rất đẹp, rất tân thời, ăn diện mốt miết thời trang lắm, như các chị Lan, chị Nga, chị Kiều. Các anh Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Duy Anh, Phan Đắc Lộc, Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Trung Vân, Lê Trung Dung...Bửu, Hạn...đều nổi trội hơn tụi tôi về hình thức.

Sau nay, qua mấy năm, tôi vào học ở Sài Gòn...thì các bạn, có người còn chưa qua ải tú tài 1. Rớt và Đậu. Cái bằng tú tài 1 tuy là nhỏ, nhưng rất quan trọng lúc này, là có thể thay đổi cuộc diện tương lai của một con người.

Đó là, nếu Rớt thì: "Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con", câu ca dao (cạo) thời hiện đại, tuy có ý bông đùa, nhưng nghe cũng mỉa mai chua chát, đã nói lên một tình trạng bế tắc của xã hội đang thời kỳ chiến tranh.
Còn Đậu thì, tiếp tục học lên, hay cùng lắm, là vào trường bộ binh Thủ Đức, tốt nghiệp ra trường được đeo lon chuẩn úy, là sĩ quan, nếu không xanh cỏ thì ba, bốn năm sau cũng trung úy, đại úy.

Vì tình trạng rớt/đậu trên, nên để được hoản dịch, các bạn bị rớt, thường thay đổi khai sinh, thay tên đổi họ. Thường, sự thay tên đổi họ này, các anh tự khai sụt tuổi xuống, người thì sụt hai, ba tuổi, người thì sụt bốn, năm tuổi. Nghĩa là khai làm sao cũng vừa với tuổi thật, để nếu có đi ra đường, có bị cảnh sát hay quân cảnh chặn đường xét hỏi giấy tờ, thì nhìn cũng "vừa chạng". Những bạn, mới đầu mang cái tên lạ, khi gặp bạn mình, có người thật ngỡ ngàng, người quen thường gọi tên cũ, còn tên mới thì lạ hoắc...nhưng rồi thời gian qua, cái gì cũng êm, xuôi chài mát mái.

                                                                                              *

Chuyện kết quả đậu vào trường đại học Chiến Tranh Chính Trị, cũng làm tôi suy nghĩ đến số phận con người. Lúc ấy, tôi vẫn còn đang đi dạy ở trung học Lý Tín, thì được điện tín anh Lộc gởi vào báo tin tôi đậu. Tôi liền chạy xe ra Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh QĐI & QK1, Khối Chiến Tranh Chính Trị, coi xem sao. Có hai, ba tờ giấy niêm yết kết quả dán bên ngoài tường của Khối CTCT, thế mà tôi tìm tên tôi lòi tròng con mắt, vẫn không thấy. Tôi buồn bã đành lủi thủi chạy xe về...đi dạy lại. Lúc này thì tôi buồn thật sự, vì nghĩ mình học yếu nên bị rớt, nên tôi (tạm tính), vừa đi dạy lại, vừa làm hồ sơ xin đi thụ huấn 9 tuần theo giáo chức. Hồ sơ cũng đã được trường chuyển đi.

Cũng nửa tháng sau, lại có một tin nhắn bằng miệng của anh Phan Lý Long, từ Đà Nẵng nhắn vô. Anh Long cũng chỗ quen biết, hiện là trung úy, sĩ quan truyền tin ở QĐI. Anh Long nhắn vào Lý Tín cho K.Y, là tôi đã đậu...Và (lại được) thêm một cái điện tín nữa (lần thứ 2) của anh Lộc, nói, chắc chắn là tôi đã đậu. Cho nên, từ chỗ Rớt, qua chỗ Đậu, tôi không còn lý trí nữa, để xét cái nào tốt hơn cái nào? Biết mình đậu nên tôi rất vui mừng, quyết định đi trình diện ngay.

Sau này, khi ra trường, đi hành quân tác chiến khổ như con..., nhìn thấy các bạn tôi như Tú, Hào, Viên, chạy Honda đi dạy tà tà, tôi lại tự chữi tôi ngu, số mình là số con rệp.

(Xin mở ngoặc, sau 1975. Tôi được tin anh Lộc chết, một cái chết rất thương tâm, là một buổi chiều tại nhà, anh đứng trên chiếc ghế cao, để sửa điện, chiếc ghế bị ngã, làm anh té, bị chấn thương sọ não, nên chết ngay tại chỗ. Nghe tin mà tôi cảm thương anh quá! Một người anh hiền lành, tốt bụng, mà số phận không may.)
 
*
 
Lần này, vào trình diện Khối Chiến Tranh Chính Trị, sau khi trình thẻ căn cước cho một vị sĩ quan, thì được sĩ quan này, sau khi dò bản kết quả, nói với tôi:
- Anh đã đậu vào Khóa 2/CTCT. Trước đây đã có một toán trình diện và đang thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Anh vào lần này theo đợt thứ 2, đợt này đang ở Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Bây giờ chúng tôi cấp Sự Vụ Lệnh, anh qua trình diện ở Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, nhé.

Tôi cầm tờ giấy trình diện Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, mà lòng nhẹ tênh. Không biết vui hay buồn. Lúc này vào trường sĩ quan, tôi cũng chưa phân biệt được hai chữ Trừ Bị và Hiện Dịch là như thế nào? Cảm giác tôi thật mơ hồ. Khi chiếc lưới hiện dịch đang bủa vây tôi, đó là theo nguyên nghĩa, hiện dịch là tình nguyện, xung phong, ký tên đồng thuận, chấp nhận gia nhập suốt đời vào nghề lính.

Dù khù khờ, thật thà, nhưng tôi vẫn biết là khi đã trình vào trại nhập ngũ rồi, thì đường lui ra cũng rất khó, nên buổi chiều và đêm hôm đó, tôi ở lại nhà anh Tôn chơi. Buổi tối, anh Tôn, một người anh làm việc ở điện lực, đã cho tôi uống một chầu bia say mềm môi...say đến đổ gục xuống bàn, không biết trời trăng gì nữa cả.

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Tôn chở tôi đi ăn sáng và sau đó chở vào trại nhập ngũ số 1. Hành trang tôi đem theo chỉ hai bộ đồ dân sự, đôi giày dân sự, bàn chải và kem đánh răng...thế thôi, vì ai cũng nói, vào lính, sẽ được phát ăn, uống và áo quần, giày giép...Nói chung là quân trang quân dụng đầy đủ, nên tôi đem theo chỉ bấy nhiêu.
 


Trần Yên Hòa
(còn tiếp)

* 



*

Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks!

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 265)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 218)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 572)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 402)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 322)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,