DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,495,449

Vương Trùng Dương - Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ

Tuesday, April 6, 20215:52 PM(View: 395)
Vương Trùng Dương - Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ

                                                             Kỷ Niệm Với Song Ngọc,
                                    Hà Nội Ngày Tháng Cũ


       
Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ - Văn Nghệ - Việt Báo Văn Học  Nghệ ThuậtPhoto - Category: Song Ngọc - Hình: Tuyển Tập Tình Ca Song Ngọc - Âm Nhạc  Online         

 


Bài viết Song Ngọc, Dòng Nhạc Của Một Thời Để Nhớ của tôi vào Hè 2018. Khi viết bài nầy, chúng tôi đã gọi điện thoại trò chuyện và email cho nhau. Tôi nhận được những tuyển tập ca khúc của anh để dẫn chứng chính xác. Khi viết về nhạc sỉ, ca sĩ, tôi vào YouTube để thưởng ngoạn dòng nhạc và lời ca để tạo thêm nguồn cảm hứng. Với nhiều ca khúc của anh trước năm 1975 viết về lính khá quen thuộc, và ca khúc sau nầy ở hải ngoại, tôi đã nghe nhiều lần, rất thích “Hà Nội Ngày Tháng Cũ”.

Đoạn kết viết về ca khúc nầy:
“Viết về Hà Nội của thuở “ba mươi sáu phố phường, ngàn năm văn vật” qua các ca khúc thời tiền chiến vẫn tuyệt vời đã in sâu trong lòng người thưởng ngoạn. Song Ngọc của dòng An Giang đã sáng tác hai ca khúc nói về Hà Nội, ca khúc Nhớ Em Hà Nội:

“Một người con gái Hà Nội
Bên bờ Hồ Tây, se sắt tim buồn
Chiều vào thu, heo may hắt hiu
Mắt em lạnh đầy, mắt em lạnh đầy
… Hà Nội mùa thu, sương lam giăng mắc
Liễu buồn mong chờ, mù bóng thu sang
Trời đã vào thu, ai đi viễn khơi
Có nhớ thu xưa, nhớ em Hà Nội”.

Ca khúc nầy không được nổi tiếng bằng ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ khi sống ở hải ngoại, rất hay từ lời ca cùng giai điệu.

“Hà Nội ngày tháng cũ
Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ
Hà Nội ngày tháng cũ
Có tiếng oanh ca bên bờ tường vi
... Mùa Thu ngày ấy ta bên nhau
Ai ra đi mà không nhớ về
Hồ Gươm mù tối gương xưa
Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào
Nhớ cơn mưa phùn chạy ngang thành phố
Bên em cùng đội mưa mà đi
Đội mưa mà đi... mà đi
… Hà Nội còn sống mãi
Chiếc ao xanh lam áo trắng nghiêng nghiêng mặt hồ
Chiếc lá cô đơn lang thang trôi trên vỉa hè
Giờ đâu xa vắng... mây chiều”.

Tôi mê ca khúc nầy, lần đầu với tiếng hát Sĩ Phú rồi đến nhiều ca sĩ khác, nghe không biết bao nhiêu lần nhưng vẫn thấy hay. Có lẽ giữa anh và tôi cảm nhận giống nhau nơi chốn xa lắc xa lơ nầy.

Qua lời kể của bố vợ, năm 1973 ở Đà Lạt tôi viết bài Hà Nội, Giấc Mơ Mịt Mù để tặng đứa con trai đầu lòng nhớ về quê ngoại. Bài viết đăng trên đặc san Ức Trai của trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Nhà thơ Tô Kiều Ngân (Thiếu Tá Lê Mộng Ngân, Chủ Bút đặc san) cảm nhận và chọn những ca khúc viết về Hà Nội cho chương trình văn nghệ (2 kỳ) trên đài phát thanh Đà Lạt.

Quản đốc đài phát thanh Đà Lạt là nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, với nhà thơ nầy

“Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc. Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm... Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả. Thoáng khăn san nũng nịu với heo may... Hà Nội yêu, đẹp Trưng Vương mái tóc. Chiếc kẹp nghiêng, ba lá nép vào nhung”.

Và, sau nầy được nhiều người gọi là nhà thơ của Hà Nội như tập thơ Yêu Em, Hà Nội của ông.

Nếu lúc đó có ca khúc nầy thì hình ảnh xa xưa của thuở “vang bóng một thời” mà Song Ngọc gợi nhớ “Hà Nội người có nhớ. Tháp Bút chơ vơ liễu xanh vật vờ. Hà Nội người có nhớ. Hương lan vương vương bên hồ Thuyền Quang…”. Với một thời đáng yêu qua ngòi bút Thạch Lam (Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường), Nguyễn Tuân (Vang Bóng Một Thời), Vũ Bằng (Thương Nhớ Mười Hai), với “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm” (Quang Dũng), Hà Nội cổ kính với thiên nhiên hữu tình của thời xa xưa rất nên thơ. Nhạc sĩ miền Nam chưa ra Hà Nội nhưng “gợi” lại ngày tháng cũ với niềm tiếc nhớ vì hình ảnh thơ mộng đó đã tan theo thời gian!

Khi tôi nói với anh, ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ quá tuyệt. Anh nói, vì có vợ Hà Nội chứ gì. Tôi hỏi, còn anh?. Anh cười ha hả… bọn mình, thằng nào không lãng mạn nhưng vẫn chung tình cho đến cuối đời”.
Từ thời học sinh nơi phố cổ Hội An, bài thơ về 36 phố phường trong Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của GS Dương Quảng Hàm mô tả phố cổ Hà Nội:

“Rủ nhau đi chơi khắp long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”.

Từ đó, 36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy trở thành quen thuộc. Và, lịch sử nơi chốn đó vào thời kỳ vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La (1010) đặt tên Kinh đô là Thăng Long, thủ đô chia làm 2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương, dân quê gọi là phố Kẻ Chợ vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh gọi là Thăng Long ngoại thành.

Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh, có 61 phường. Đến đời Lê, tổ chức lại thành 36 phường... Theo dòng thời gian đến thế kỷ thứ 18, thương nhân các nước đến nơi đây làm ăn buôn bán nên 36 phố phường sầm uất.
Hà Nội xa xưa của xứ “ngàn năm văn vật” được ghi vào thơ văn trang trải với tha nhân khá nhiều từ đầu thế kỷ XX. Trong thi tập Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính (Hương Sơn, 1940)

“Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường.
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Có một người đi giữa đám tang”!

Nhà thơ Nhất Tuấn bày tỏ Những Vần Thơ Nhớ Nhung Hà Nội sau thời gian di cư vào Nam:

“Bao năm qua tôi vẫn cứ mong chờ
Ngày trở lại nẻo đường thành phố cũ
Ở miền Nam có nhiều đêm không ngủ
Nhớ vô cùng Hà Nội của ngày xưa
Đường Cổ Ngư còn những cảnh nên thơ
Hồ Tháp bút nước xanh hay ngả đục   
Những nẻo phố xưa có còn tấp nập
Trường Trưng Vương còn vạt áo lam bay…”

Vào thập niên 60, với các ca khúc viết về Hà Nội, thấp thoáng tên gọi hay hình bóng người tình nhưng cũng hình dung cả khung trời,điển hình như:
Hướng về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương

“… Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió ngây thơ, thấu chăng lòng khách bơ vơ…”
Ca khúc nổi tiếng nhất là Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành
“Lìa xa thành đô yêu dấu, một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn "em" mờ trong mây khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly!
… Nghẹn ngào thương nhớ em Hà Nội ơi!”

Tình khúc Gửi Người Em Gái của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh)

“… Hà Nội chờ đón Tết, vắng bóng người đi, liễu rủ mà chi
… Em tôi đi, màu son lên đôi môi
Khăn san baу lả lơi bên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền
Hà Ɲội thêm bóng dáng nàng tiên”

Khi định cư ở hải ngoại, tôi đã nghe nhiều ca khúc về Hà Nội nhưng không thích bằng những ca khúc xa xưa… cho đến khi nghe ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ của Song Ngọc. Khi chia sẻ với anh điều nầy, anh cũng cho biết có vài thân hữu di cư từ năm 1954, xa Hà Nội, nhớ Hà Nội nên thích nghe các ca khúc về Hà Nội nhưng mang “màu sắc chính trị” nên không phù hợp.
Trong mùa dịch Covid-19, không được đi nơi nầy nơi nọ, không có dịp gặp gỡ bạn bè, không ngồi chung ở quá cà phê để tấn gẫu với nhau. Ở nhà, xem tin tức cũng nhức đầu, lôi các quyển sách làm tài liệu ra đọc cũng chán, chỉ còn thú tiêu khiển với âm nhạc.

Song Ngọc đã ra người thiên cổ, mỗi lần nghe đến các ca khúc của anh, nhất là Hà Nội Ngày Tháng Cũ, nhớ lại vài kỷ niệm nên viết đôi dòng.


Little Saigon 4/2021

Vương Trùng Dương
Khóa NT1/TĐH/CTCT/ĐL
(Tác giả gởi)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 14, 20214:16 PM(View: 52)
Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)... Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yều cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng. Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca. * Ngược Dòng Thời Gian Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926
Monday, May 10, 20216:27 AM(View: 106)
Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện. (link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018,
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 103)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 141)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 248)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con