DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,560,096

Lê Thiệp - Nhà Báo Nông Dân

Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 536)
Lê Thiệp - Nhà Báo Nông Dân

Nhà Báo Nông Dân

Image result for báo chí VNCH


Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi :

- Xếp có dính dáng đến Duy Dân không?

Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói :

- Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái.

- Xếp là nhà báo.

- Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân.

Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi nhạc hơn thằng Duy và giỏi tiếng Pháp hơn ông Khiêm.” Ông Hoàng Hải, nhạc sĩ trong ban Tam Ca AVT rất nổi tiếng của Lữ Liên, là anh ruột của chuẩn tướng Không Quân Lưu Kim Cương.

Nay nếu người xếp của tôi bảo ông là nông dân thì tôi cũng chỉ biết cười tự hỏi người cầm chịch tờ Chính Luận ngày ngày đối phó với dư luận lại phải điều khiển những ông nhà báo coi trời bằng vung như các ông Phan Nghị, Hồng Dương, Thanh Thương Hoàng hay phải chạm mặt với những văn nghệ sĩ nổi danh như Hoàng Hải Thủy, Văn Quang và đối mặt với những ông như Cao Dao, Như Phong hoặc cả lô trí thức khoa bảng thì liệu ông ta có phải là một anh nhà nông không? Câu trả lời là cả một quá trình.

Tôi gặp ông lần đầu tiên vào khoảng tám giờ sáng khi đến xin việc tại tòa soạn Chính Luận. Quang cảnh tòa soạn vào giờ báo lên khuôn như một cái chợ vỡ và chỉ sau này tôi mới biết đó là lúc gay go nhất. Ông đang lui cui chúi mũi vào một tập bản thảo ngẩng lên nhìn tôi hỏi:

- Thế ông học đến đâu rồi?

Câu hỏi bất ngờ và có vẻ khó chịu khiến tôi dở giọng du côn :

- Thưa cũng vầy vậy thôi. Tôi không rõ phải học đến đâu thì mới được vào làm báo Chính Luận.

Hình như ông đang chú tâm vào công việc nên cũng chẳng trả lời mà nhặt hai bản tin teletype rơi vãi đưa cho tôi bảo :

- Ông thử dịch cái này.

Tôi lóng ngóng ngồi xuống một cái ghế nhìn quanh nhìn quẩn hỏi :

- Thưa ông, tôi có thể xin một tờ giấy trắng không?

Ông cầm bản in teletype lòe nhòe lật mặt sau bảo :

- Ông cứ viết vào đây được rồi.

Đó là một bản tin AFP và một bản AP. Hai bản tin không dài lắm và khi tôi bí một chữ thấy cả chồng tự điển thì hỏi :

- Thưa ông, tôi có thể dùng tự điển không ?

Ông đẩy mấy cuốn tự điển ra trước mặt tôi không nói năng gì, lui cui làm viêc. Khi dịch xong tôi đưa, ông không hề liếc mắt, cầm bản dịch bỏ trong ngăn kéo, bảo :

- Mai ông đến nhá.

Khó mà tưởng tượng một cơ quan ngôn luận uy tín như Chính Luận lại có cung cách tuyển người như vậy. Tôi bước xuống chiếc cầu thang tối om ở đường Lê Lai nghĩ chắc ông nhà báo lớn này giễu tôi cho vui. Hôm sau, ông anh rủ đi Mộc Hóa chơi, tôi bèn làm một chuyến xuống thăm bà chị cả và lũ cháu, không tơ tưởng đến vào làm phóng viên cho tờ báo mà tôi vẫn ngưỡng mộ.

Khoảng hai tuần sau khi trở về, vào một buổi chiều, tôi mò đi gặp anh Nguyễn Trọng của tờ Tự Do cũng với toan tính xin việc và nhân đi qua tôi tự nhủ “Tại sao không vào hỏi xem sự thể thế nào.” Khi vừa thò đầu vào thì tòa soạn vắng tanh chỉ có hai ba ông đang ngồi. Vừa nhìn thấy tôi, ông Thái Lân hôm trước khác hẳn, tươi cười bắt tay tôi, ân cần mời tôi ngồi bảo :

- Thế ông đi đâu mà hôm nay mới ghé. Ngày mai đi làm được không ?

Trời đất ơi, thế này là thế nào? Tôi như từ trên trời rơi xuống, dạ lia dạ lịa.

- Chúng tôi làm việc sớm, năm giờ sáng đã bắt đầu rồi. Ông muốn làm phóng viên thì phải làm quen với mọi việc trong tòa soạn trước đã, rồi từ từ tính.

Cái mà ông bảo làm quen với mọi việc đó khiến tôi đi từ người sửa tin xe cán chó, viết lại bản tin lem nhem của ông Phúc tòa án, đọc những tin bá cáo của Cảnh Sát đô thành và đủ thứ tin câu cú không thành câu cú của ông Văn Đô để đăng vào mục Từ Thành Đến Tỉnh. Hai tháng sau, ông lôi tôi khỏi mục xe cán chó này, bảo từ nay tôi chuyển sang ban dịch thuật.

Thực ra, tôi đọc nhiều hơn là dịch. Mỗi buổi sáng tinh mơ, ông Kiếm đến VTX mang về một chồng bốn bản tin viễn ấn UPI, AP, Reuter và AFP. Nhiệm vụ của tôi là đọc thoáng qua cái nhập đề (tiếng báo chí là lead ) tất cả tin của các hãng này phân loại ra và xếp lại cho có thứ tự coi xem tin nào lớn tin nào nhỏ. Như vậy có nghĩa tôi phải tới rất sớm để đọc trước rồi sau đó tường trình vắn tắt chuyện gì xảy ra trong ngày cho ông Thái Lân liệu định.

Lúc đầu tôi cũng lao đao lận đận với công việc này vô cùng. Trước hết là phải dậy sớm để đến tòa soạn cỡ chưa đến năm giờ sáng, sau đó là toét mắt ra đọc. Những bản tin viễn ấn do VTX thầu in lại bằng chất hóa học khỉ gì không rõ sặc mùi cồn và chữ màu tím lòe nhòe rất khó đọc cho nhanh. Nhưng rồi cũng qua, chỉ dộ hai tháng sau tôi nắm vững mọi thứ. Phải nói là mọi thứ tin tức từ chiến sự chỗ nào đang đụng lớn, cuộc hành quân nào đang tiếp diễn và mọi chuyện trên trời dưới biển ở khắp thế giới, chuyện chính trị Mỹ, chuyện tả phái Tây hay những chuyện lằng nhằng ở Trung Đông. Mãi sau này, tôi mới nghiệm ra chính những lúc tờ mờ sáng ngồi cạnh ông là lúc tôi học hỏi nhiều nhất.

Tin tức thường được ghi nhận liên tục từng giây phút một và chỉ một tin nào đó có thể bốn hãng tin cùng loan một lúc với tin sơ khởi và sau đó là những chi tiết được bổ túc. Mỗi buổi sáng tinh mơ ông lò dò đến có lẽ chỉ sau tôi nhưng chắc chắn là trước những ông làm tin và câu hỏi bao giờ cũng là “Hôm nay có gì lạ không?” Câu hỏi rất tầm thường nhưng là cả một thách đố với tôi. Phải có cái nhìn bao quát mọi việc diễn ra hàng ngày với con mắt báo chí. Phải phán đoán nhanh cái gì là chính cái gì là phụ. Đôi khi phải nhìn sau sự kiện và đôi chiếu với quá khứ mới hiểu tại sao. Từ đó mới biết để lượng định tình hình trong ngày ngõ hầu trình bày tin tức với người đọc sao cho chính xác và hấp dẫn. Vốn ngoại ngữ của tôi có lẽ đong không đầy lòng bàn tay nhưng chính thời kỳ này tôi lờ mờ thấy mình đọc nhanh hơn, dễ hơn. Mấy cuốn tự điển chỉ có tôi dùng và sau một thời gian tất cả bươm ra.

Một hôm, trong lúc buổi chiều rỗi việc ông hỏi tôi “Ông thấy News Week với Times tờ nào hay hơn.” Tôi nghĩ sao thì nói vậy “Tôi thấy News Week viết có góc cạnh hơn và nhiều tính tin hơn trong khi Times thì đào sâu và hơi bảo thủ.” Ông gật gù và hỏi về nhà, tôi có làm việc thêm không, tôi hiểu lầm rằng tôi có làm thêm việc gì để kiếm tiền không nên trả lời không. Ông ngạc nhiên, nhỏ nhẹ nói “Tối nào tôi cũng phải đọc thêm đến hai ba giờ sáng. Làm báo mà không chịu học thì khó mà tiến được.” Tôi thấy hôm nào ông cũng ôm cả chồng báo ngoại quốc về nhà nên không ngạc nhiên. Trong khi đám bạn bè cùng ra nghề đã đi săn tin thì mỗi sáng tôi lại lủi thủi thức dậy, lóc cóc đến Ngã Sáu Sài Gòn tạt vào tiệm hủ tíu Tàu làm một ly xây chừng và chính trong dịp này tôi được làm quen với ông Trần Việt Sơn. Tuổi tác chênh lệch và tiếng tăm của ông nên dù ông bảo “Thôi, anh em đi”, nhưng tôi không dám và luôn luôn gọi ông là Bác. Ông Sơn lúc đó làm tin quốc tế cho tờ Tự Do, tòa soạn ở cạnh Chính Luận.


Tôi và vị ký giả đàn anh đó mỗi sáng xà vào tiệm hủ tíu Tàu giữa lúc tờ mờ sáng gọi một ly cà phê bít tất nóng sủi bọt và một cái xíu mại. Hai bác cháu đổ cà phê ra dĩa, bưng dĩa lên húp từng ngụm nhỏ như những bác xích lô và những người lao động khác trước khi đến tòa soạn để vật nhau với tin tức. Vóc dáng của ông Sơn khiến ai không biết thì khó nghĩ ông là một nhà báo và hơn nữa là một người hoạt đông cách mạng. Tóc ông phủ gáy, dáng hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ. Sau 1975, tôi nghe loáng thoáng rằng ông có thể bị bắt nên tìm đến nhà ông ở đường Hai Bà Trưng để báo động. Khi mở cửa nhìn thấy tôi, ông không mở hẳn mà nói rất vắn tắt “Cám ơn anh nhưng anh đi ngay đi đừng vì tôi mà mang họa.” Ông khép cửa không nói gì thêm. Tôi nghe nói sau đó ông chết trong trại tù. Từ một thư sinh mặt trắng tôi bỗng ngồi với những người mà thực ra cả đời tôi không bao giờ mơ tưởng sẽ là đồng nghiệp của tôi. Hãy nói về ông Nhượng. Tôi gọi ông là tự điển sống vì khi dịch gặp chữ bí, lười tra tự điển tôi quay sang hỏi “Bác ơi chữ này nghĩa là gì.” Ông giảng chữ này gốc La Tinh là thế này nhưng khi sang tiếng Pháp thì đổi ra sao và đến tiếng Anh lại có nghĩa khác.


Ông Nhượng là tác giả bài Tà Áo Văn Quân và có lẽ vì đi dậy học từ lâu nên khi nói gì cũng nói tới nơi tới chốn. Một lần sau khi công việc đã vãn, tôi hỏi ông về hát chèo và tò mò tại sao các cụ lại mê cái bộ môn sân khấu khó hiểu này. Ông Nhượng bèn giảng cho tôi và để dẫn chứng ông nhảy hẳn lên bàn, đóng vai Quan Công. Ông dùng cái chổi phất trần làm ngựa và cất giọng sang sảng làm cả tòa soạn trố mắt ngạc nhiên. Ông lúc đó đã khá lớn tuổi, răng thì lung lay, hơi móm nữa nhưng giọng hát chèo và những bộ dạng, động tác của ông khiến tôi như đang ngồi nghếch mắt ở sân đình thuở nhỏ xem hát chèo vào những dịp tết.

Những đàn anh quanh tôi mỗi người là một cá biệt như ông Lê Văn Anh, người đã cho tôi chữ húy là Do Hoan trích từ câu chữ Hán “Chước tham tuyền nhi giác sảng. Xử hà diệc nhi do hoan.” Nguyên khi Nixon sang Tàu, có một số hình chụp trong đó có biểu ngữ bằng chữ Tàu và khi phải viết lời chú thích tôi bí, hỏi thì ông Anh dịch ngay “Hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ” và giảng câu đó ở trong Luận Ngữ. Thấy ông giỏi chữ Nho, tôi hỏi về thơ Đường và hôm sau ông đem đến cho tôi cuốn Thơ Đường của Trần Trọng San bảo đọc. Từ đó thỉnh thoảng ông lại dạy tôi một bài thơ và ban cho tôi cái tên húy Do Hoan với nghĩa rằng dù lâm vào lúc cùng túng mà lòng vẫn vui. Tôi chưa bao giờ ký Do Hoan nhưng cả đời tôi, tôi vẫn tâm niệm phải sống như lòng mong mỏi của người đàn anh này.

Rồi còn ông Lưu Duyên Hoàng Hải vừa là nhà báo vừa là nghệ sĩ trong ban AVT nhưng thật khó hình dung giữa một ông Lưu Duyên cặm cụi hiền từ với ông ca sĩ Hoàng Hải ôm cây đàn nguyệt hát “Ba bà đi bán lợn con…” đầy nét trẻ trung nghịch ngợm trên sân khấu. Sau 1975, một lần gặp lại, ông hỏi tôi có nhớ Lâm Thao không và khi biết chúng tôi thân nhau ông kể một chuyện vui “Bây giờ nó phải gọi tôi là bố chứ không anh anh em em như ngày xưa.” Nguyên khi di cư vào Nam, ông có một người con gái còn nhỏ bị kẹt lại không ngờ có một gia đình nhận cô bé làm con và đem theo vào Nam. Hai bố con không hề biết để liên lạc lại cho đến sau 1975. Cô bé đó lớn lên ở miền Nam và lập gia đình với Lâm Thao là phóng viên đài phát thanh quân đội.

Khi kể chuyện này ông cười bảo tôi “Lâm Thao lần đầu tiên gọi tôi bằng bố có vẻ lúng túng tệ”. Ông Đặng Văn Sung là người Nghệ An và tòa soạn Chính Luận có lúc được dân làng báo coi là báo của mấy anh Xứ Nghệ, có lẽ vì hai ông Võ Xuân Đình và Đậu Phi Lục. Hai ông này đều theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn của Việt Minh, đều là bộ đội chính qui nhưng ngay sau đình chiến đã bỏ ngũ và di cư vào Nam. Có thể vì hiểu Cộng Sản nên họ là những người ghét Cộng Sản đến tận xương tận tủy. Ông Đình kể cho tôi một chuyện mà mãi đến sau 1975 tôi mới hiểu và thông cảm hơn.

Nguyên khi bỏ trốn về Hải Phòng tìm cách đi Nam, ông tạm trú tại nhà một người quen và buổi sáng khi họ pha cà phê thì bên cạnh có để một hộp sữa đặc. Ông Đình kham khổ quá lâu, nhìn hộp sữa cầm lòng không được, mắt trước mắt sau không thấy ai đã cầm hộp sữa hút một hơi hết nhẵn. Sau này, tôi đã thấy đứa em con ông chú là bộ đội uống bia pha với cả nửa lon sữa đặc mà không ngạc nhiên vì nhớ đến ông Đình.

Tờ mờ mỗi sáng, ông Thái Lân phân phối công việc và ai nấy cặm cụi. Tôi chưa thấy trong cái tập hợp nho nhỏ đó ai to tiếng với ai và mọi người đều coi trọng nhau khiến tôi cũng không dám ba hoa khi thấy những người đáng tuổi cha chú vẫn gọi tôi là ông mặc dù tôi luôn luôn thưa anh, thưa bác. Tôi vẫn nghĩ chính trong hai năm đó tôi học hỏi rất nhiều và phải chăng cuộc đời, cách suy nghĩ và hành xử của tôi phần nào được hình thành trong khoảng thời gian này, nhất là ảnh hưởng từ ông Thái Lân?

Nhưng khi chuyển sang làm phóng viên săn tin thì mọi chuyện khác hẳn. Nó nhộn nhịp ồn ào sống động hạp với tuổi trẻ của tôi hơn, nhất là không còn phải dậy sớm nữa. Xếp trực tiếp của tôi là anh Thanh Thương Hoàng. Anh Hoàng thấy tôi lúc nào cũng ăn mặc lôi thôi lếch thếch, tóc thì phủ gáy nên gọi tôi là hippy Thiệp và sau đó thành thằng Híp.

Phóng viên Chính Luận khá đông gồm Trần Nguyên Thao, Phương Thúy, Đường Thiên Lý, Lê Phú Nhuận, Duy Sinh, Nguyễn Sĩ Yên, Tâm Chung, Văn Chi… mỗi người được phân phối săn tin một lãnh vực riêng nhưng cái vui nhất là không có chuyện kiểm soát hay phải có bài có tin hàng ngày.

Từ khi không phải mỗi sáng lò mò toét mắt đọc teletype, liên hệ giữa tôi với ông Lân chuyển sang một hình thái khác. Mặc dù do anh Thanh Thương Hoàng điều động, lâu lâu ông Lân cũng hỏi và rất nhiều lần ông chỉ cho tôi manh mối nguồn săn tin, nhất là dặn dò về những gì quan trọng đằng sau tin xảy ra. Đôi khi tôi hung hăng quá thì ông chỉ cười hoặc lẳng lặng không nói năng gì. Một kỷ niệm khó quên cho thấy cá tính của ông.

Nguyên khi có cuộc tranh cử vào Quốc Hội Lập Hiến, tôi viết bài tường thuật cuộc nói chuyện của đối thủ tranh cử của ông Sung. Bài viết hình như có hơi ca tụng nhân vật đối thủ của ông Sung — tôi nhớ là Hồ Ngọc Cứ — và khi báo ra thì ông Sung gọi tôi vào vẻ mặt giận dữ “Việt Cộng có phá tôi thì cũng chỉ đến thế này.”

Thú thật, tôi mặt nghệt ra và ngượng chín người, nhưng lanh trí biện bạch “Viết tin xong tôi có trình tòa soạn và quyết định đăng hay không là do tòa soạn.” Ông Thái Lân có mặt ngay đó lên tiếng “Lỗi ở tôi. Tôi nhờ Thiệp lo tin này và sơ ý không đọc kỹ, vả lại lúc đó báo lên khuôn vội quá.”

Cung cách của ông là như vậy. Nếu cần, ông sẵn sàng nhận trách nhiệm. Ông không buộc ai phải thế này thế nọ mà chỉ lẳng lặng hành xử. Không bao giờ to tiếng với ai, ngay cả nhiều trường hợp nếu gặp người khác thì thái độ e khó giống ông. Một lần tất cả nhân viên ký giấy đòi tăng lương và khi mọi người đã ký chừa tên ông trên đầu. Ông lắc đầu không ký, chỉ thản nhiên cầm bản chữ ký bỏ vào ngăn kéo. Tòa soạn xầm xì khá lớn để ông nghe thấy “Đồ hèn, phản bội anh em.” Có một ông còn nửa đùa nửa thật nhái thơ Dương Khuê “Bác Lân thôi đã thôi rồi. Lương cao bổng hậu bác xơi một mình.”

Ông ngậm hột thị làm thinh. Không khí căng thẳng cả hai tuần lễ. Anh Thanh Thương Hoàng với chức Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả hậm hực ra mặt.

Cuối tháng bỗng mọi người được tăng lương theo đúng đòi hỏi và không ai nói năng gì nữa. Tôi cũng tức anh ách vì thái độ của ông nên hỏi thẳng “Tại sao Xếp không ký?” Ông nhẹ nhàng bảo nếu ông ký thì cũng chỉ là một người bất mãn đòi tăng lương. Ông không ký mà chỉ nhân danh tất cả anh em tòa soạn mời ông Sung đi ăn, trình bày hoàn cảnh khó khăn của mọi người. “Phải biết mình biết người. Ông Sung không phải là người chịu khuất phục trước áp lực, nếu tôi không bình tĩnh thì sự thể chả ra thế nào cả, có khi lại nát bét.”

Vụ này chỉ vì tôi hỏi, ông mới nói ra cho mình tôi nghe. Vào một buổi chiều, tôi đang lúi húi viết lách thì thấy ông khi cúi xuống nhặt tờ giấy bỗng cứ khom người không đứng dậy được. Tôi đỡ và dìu ông xuống ghế lo lắng hỏi. Một lúc sau, ông mới nhỏ nhẹ “Tù ông ạ! Việt Minh nó đánh.”

Thái Lân không có nhu cầu tâm sự hay kể lể và tôi không thấy ông ngồi nói chuyện tầm phào hay tham dự vào những dịp chúng tôi tán phét đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nhưng sau hôm đó, khi tỉnh lại ông đã ngồi khá lâu với tôi :

- Ông còn trẻ lại được đeo đuổi học vấn có qui trình tử tế chứ bọn chúng tôi khác. Tôi đang đi học sắp sửa thi Diplome thì đại chiến bùng nổ và như ông biết sau đó là Việt Minh. Bố mẹ tôi lôi tôi về quê bảo học là để làm người đâu cần bằng cấp. Chưa đến hai mươi và cũng bị cuốn hút vào cao trào chung của cả nước tôi lăn xả theo Việt Minh, xung phong vào Đội Bảo Vệ Hồ Chí Minh. Khi đó quê tôi ở Thanh Hóa nào có thấy ông Hồ nhưng tâm tưởng tôi coi ông là bậc thánh. Nhưng khi lăn vào hoạt động mới thấy chính cán bộ Cộng Sản lại là những ông vua con còn cường hào ác bá hơn cả địa chủ. Tâm hồn trong trắng của tôi bị giao động và tôi tìm đọc sách vở Cộng Sản, đồng thời chú tâm quan sát những gì xẩy ra xung quanh. Dần dần tôi nhận ra Cộng Sản không phải là giải pháp cho nước mình. Ông nghĩ tôi làm gì?

Tôi chống họ. Suy nghĩ nông cạn và lòng hăng say của tuổi trẻ, tôi và vài người bạn làm báo chống Cộng. Ấy, thời buổi đó làm gì có phương tiện in ấn, tụi tôi viết tay in thạch bản và nghĩ mình đang làm một việc gì kinh thiên động địa. Không lâu sau, tôi bị công an bắt. Chỉ hơn một tháng sau tôi vượt ngục, ông ạ. Dễ quá vì chỉ bị giữ ở trại giam cấp huyên. Tôi tuy vậy không hề sợ hãi mà còn hăng say hơn, lại viết truyền đơn và in báo chống chúng nó. Tất nhiên tôi bị bắt lại ngay và lần này bị đem đi giam ở một nhà tù trong núi tứ bề vách đá cheo leo không thể trốn được. À, không phải trại Lý Bá Sơ. Trại tù tôi ở cách đó khoảng ba bốn cây số gì đó, nhưng so với Lý Bá Sơ thì chẳng thua gì. Ông còn trẻ chưa trải qua tù đày nhất là tù đày Cộng Sản, khó mà tả cho ông hiểu. Theo tôi, cái đáng sợ nhất là bản tính ác của con người.

Từ lâu, tôi vẫn chiêm nghiệm về câu “Nhân chi sơ tính bản Thiện.” Theo tôi, con người sinh ra trong trắng không có “Bản” gì, nhưng khi cái ác được dung dưỡng và khuyến khích thì là thảm họa cho loài người. Ông đọc Trại Đầm Đùn rồi, phải không? Tôi bị đánh, bị hành hạ không thua gì nhân vật chính trong cuốn này. Cái đáng sợ nhất không phải là những trận đòn mà là gương mặt hả hê của đám cai tù Công Sản khi hành hạ tù nhân. Tôi coi như mình sẽ chết trong xó tù hẻo lánh. Bỗng dưng chúng lôi tôi lên bảo nhà nước khoan hồng và quyết định thả tôi vì đã biết ăn năn hối lỗi, đã giác ngộ cách mạng. Nhưng không phải như vậy.

Về đến nhà hai hôm thì một người bà con trong họ báo cho biết tôi phải trốn ngay vì sẽ có phong trào thanh toán địa chủ và phản động để trấn áp quần chúng mà gia đình tôi, đặc biệt là tôi đứng đầu danh sách. Chúng tha tôi để định đem tôi ra xử làm gương. Tôi trốn ra được Hà Nội. Ông hay giễu cợt tôi là đứa chống Cộng đến chiều. Vâng ông còn trẻ có thể ông nhìn vấn đề Cộng Sản khác tôi, nhưng ông phải tin tôi điều này. Cộng Sản là thảm họa cho dân mình.

Mặc dù kính trọng, tôi vẫn nhìn ông như một ông già bất cập thời thế, bo bo giữ những thói quen suy nghĩ thủ cựu và nhất là không chấp nhận thay đổi. Có thể từ nhiều yếu tố khác nhau như dáng đi cục mịch của ông với cái lưng hơi gù và đôi vai ngang, hoặc thái độ đôi khi có vẻ lầm lỳ luôn giữ khoảng cách không tham dự của ông. Hoặc là ông thiếu cởi mở, không có phong thái của một nhà báo phóng khoáng. Nhiều lần úp mở đùa cợt hay đôi khi sỗ sàng, tôi vẫn tấn công về chuyện này nhưng ông thường né tránh và nếu quá nữa thì cười nói “Thì tôi nhà quê, cái máu nông dân nó ăn vào xương vào tủy rồi, làm sao bây giờ.”

Phải chăng vì có cái nhìn nông dân nên đôi khi từ ông có những chuyện nho nhỏ mà bây nhớ lại tôi tủm tỉm cười. Tin cho biết một thiếu nữ tên Hoa vì thất tình đã mướn phòng ngủ, mua rất nhiều hoa hồng chất trong phòng và rải cánh hoa trên giường, xong uống một liều thuốc ngủ tự vẫn, ông đặt tít “Cô Hoa Chết Vì Hoa.” Một lần buổi chiều ông bỗng cười lớn và đưa tôi tờ Tia Sáng bảo “Đặt tít như thế này là nhất.” Tin liên quan đến vụ hai phe Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự tranh nhau chùa trên đường Trần Quốc Toản, giữa đêm gậy gộc choảng nhau có nhiều người bị thương. Báo Tia Sáng đặt tít tám cột “Sư Sãi Giành Chùa Máu Loang Cửa Phật.” Quả là cát tít để đời mô tả sự kiện ngắn gọn đầy mỉa mai và hết sức cải lương. Tin về một sản phụ sinh năm ông đặt tít “Đẻ Một Lứa Nuôi Phờ Râu.” Ông tự nhận cách suy nghĩ của ông là nông dân và có vẻ hãnh diện về điều này :
- Bố mẹ tôi có chút ruộng nương và ngay từ ngày bé, tôi đã hít thở cái không khí ruộng nương cày cấy, đã bị ảnh hưởng từ những người cả đời chưa bước chân khỏi mảnh vườn thửa ruộng. “Tính Tập Thành” ngay từ thuở nhỏ khó mà đổi được. Tất nhiên tôi đi học chữ Tây, đọc sách tiếng Tây nhưng đó là kiến thức, không phải giáo dục. Ông đừng quên là chúng tôi hồi đó thù ghét Tây vô cùng. Nếu không vì những xáo trộn thời cuộc thì chắc tôi chả bao giờ bỏ làng bỏ nước ra đi.

Nhưng ông đã phải bỏ trốn khỏi làng ngay từ khi chớm hai mươi ra sống ở Hà Nội và chỉ khoảng sáu tháng sau có tin thân phụ ông chết trong tù sau đợt trấn áp địa chủ và những người có uy tín. Sau đó, ông di cư vào Nam, làm việc cho một hãng tư. Ông kể :
- Tôi đi làm để mà đi làm nhưng tâm tưởng lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện nước non. Ông nghĩ tôi đại ngôn? Các ông may mắn hơn chúng tôi vì được sống một đời sống tương đối thanh bình thời ông Diệm và chỉ mới đây vài năm cuộc chiến mới thật sự ảnh hưởng tới ông.

Tôi nhìn ông ngạc nhiên về nhận xét này. Kiểm lại những đứa như tôi quả đã có cả chục năm được học hành tử tế, không bị cuốn hút vào những xáo trộn như thế hệ ông. Chúng tôi được hưởng một chút thời tuổi trẻ mà thế hệ ông không có. Tôi nhìn ông thông cảm.
- Tôi ngày thì đi làm nhưng lúc nào rảnh là đọc sách, là chiêm nghiệm. Tôi không nhớ rõ là 1956 hay 1957 gì đó manh nha có vụ trung lập nên tôi viết một bài bàn về vấn đề này và gửi cho báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh. Bài của tôi được đăng và ông Hồ Anh mời tôi đến tòa soạn. Mãi sau này tôi mới biết bài báo được ông Ngô Đình Nhu ghé mắt tới và hỏi tác giả là ai. Chúng ta đều biết báo bổ hồi đó lệ thuộc chính quyền đến độ nào. Khi gặp, tôi đã đề nghị xin vào làm không lãnh lương cho Ngôn Luận chỉ với dụng ý học hỏi và đằng sau đó là niềm tin chỉ có giáo dục và truyền thông là những đóng góp hữu ích nhất. Chẳng bao lâu sau tôi trở thành nhân viên chính thức của Ngôn Luận. Đấy, chả có gì là ghê gớm như thỉnh thoảng ông vẫn thắc mắc. Tôi trở thành người viết báo vì lòng ham học hỏi và một niềm tin rằng báo chí có thể là một phương tiện để chống lại chúng nó.

Ngôn ngữ đôi khi phản ánh cách nhìn. Ông ăn nói nhỏ nhẹ, đối với những người xung quanh, lúc nào cũng lễ độ và tôi chưa thấy ông chửi thề hay văng tục bao giờ. Ông gọi tôi và các bạn tôi là ông nhưng khi nói đến Cộng Sản thì “Chúng Nó” và ông dùng chữ “Thằng” để gọi tất cả lãnh tụ Cộng Sản từ Hồ Chí Minh trở xuống. Dưới thời ông Diệm, báo chí bị gò bó và ngay cả những tờ bán chạy nhất như Dân Đen, Tự Do, Sài Gòn Mới, Ngôn Luận… thật sự không đóng được vai trò Đệ Tứ Quyền, không bao giờ đăng tải lập trường của những người đối lập. Dư luận vẫn coi tờ Ngôn Luận là báo Cần Lao, báo của Văn Phòng Chính Trị và ông Hồ Anh là đảng viên đảng Cần Lao. Trong một môi trường như vậy, hoài bão đóng góp e có phần bị lung lay chăng ?
- Ông phải nhớ làm báo cũng như bất cứ công cuộc kinh doanh nào đều phải nhìn vào vấn đề tài chính. Tôi và nhất là ông Từ Chung đều đồng ý về chuyện này. Tờ Ngôn Luận là một kinh doanh thành công. Sau đó là vấn đề giáo dục. Nếu nhìn lại tờ Ngôn Luận, chúng tôi đã có ít nhiều thành quả trong cung cách viết lách, cho dù là báo hàng ngày chúng tôi luôn luôn cân nhắc chữ nghĩa và khi lựa bài vở dù chỉ giải trí chúng tôi rất cẩn trọng. Ông chắc ở trong lứa tuổi đọc Bé Ngôn Bé Luận thì phải, ông nghĩ thế nào? Phải chăng cứ chống đối chính quyền mới xứng đáng là nhà báo? Tôi vẫn nghĩ cần đặt lại vấn đề này nhất là vào hoàn cảnh Việt Nam. Nếu chỉ vì lợi nhuận, vì nhu cầu câu khách, vì quyền lợi phe nhóm, mà quên đi chuyện chung thì thật đáng buồn. Ông nghĩ sao?

Hình như từ “Chúng Tôi” bao hàm không chỉ riêng ông mà là một tập thể nho nhỏ quanh ông trong đó có ông Từ Chung, một người ông rất trọng. Từ Chung đỗ tiến sĩ Kinh Tế nhưng nhìn ông khó ai nghĩ ông là một trí thức khoa bảng. Dáng người mảnh khảnh, ăn mặc xuề xòa ăn nói thì tuy nhỏ nhẹ nhưng “đầy chất nhà báo.” Bao giờ cũng vậy khi nói về Từ Chung, giọng ông Lân cũng ngậm ngùi nuối tiếc :

- Tôi kể ông nghe chuyện này. Ông Từ Chung khi làm Ngôn Luận vẫn tơ tưởng đến huyền thoại Kháng Chiến, đến lý tưởng Cộng Sản. Tôi đã cùng Từ Chung cãi nhau, tranh luận suốt một tuần, có hôm tôi đến nhà ông, hai đứa lý luận với nhau đến sáng. Từ từ ông Từ Chung phải đồng ý với quan điểm của tôi. Theo tôi, bản án tử hình có lẽ được Cộng Sản treo lên cổ ông ngay từ khi ông đang theo học tại Thụy Sĩ. và mãi sau mới được thi hành. Hồi đó khi ở Thụy Sĩ, ông lân la và hay gặp những cán bộ Công Sản Bắc Việt thuộc tòa đại sứ của chúng nó hay những đứa sang dó công tác. Trong những lần gặp gỡ đó, Từ Chung đã tranh luận để chứng minh Cộng Sản không phải là giải pháp cho dân tộc và có lẽ điều làm chúng nó bực nhất là Từ Chung đã vạch rõ chân dung Hồ. Với chúng nó, đụng đến Hồ là kỵ húy, là đáng tội chết.

Tôi phải nói với ông đây là suy nghiệm của riêng tôi, vì dù lý do nào thì rõ ràng chúng nó sợ những người cầm bút có lập trường dứt khoát nên phải dùng bạo lực để thanh toán. Vâng, ông Từ Chung là người trí thức có khả năng. Chính ông là người đã viết những vấn đề rắc rối chuyên môn về kinh tế như lạm phát, cung cầu, kinh tế vĩ mô, khiếm dụng nhân công… bằng ngôn từ giản dị với các thí dụ thực tế khiến những độc giả bình thường có thể hiểu được những gì đang xảy ra. Nhưng với tôi thì cái lòng, cái tâm quan trọng hơn nhiều. Không chỉ với anh em bạn bè gia đình mà nhất là đối với chuyện chung. Từ Chung chết đi để lại một khoảng trống rất lớn trong đời tôi, không cách gì trám được.

Tờ Chính Luận ra đời khá giản dị. Ông thuật lại :
- Sau khi ông Diệm chết, mấy ông tướng ra lệnh đóng cửa tất cả báo và chúng tôi thất nghiệp. Ít lâu sau đó, bọn tôi, Từ Chung hình như có Thái Linh và Phan Nghị nữa, đăng báo để tìm người cộng tác bỏ vốn làm báo. Ông Đặng Văn Sung là người duy nhất tìm đến và Chính Luận ra đời. Vâng chúng tôi chẳng ký kết gì với ông Sung mà tất cả chỉ là giao ước bằng lời. Ông còn trẻ nên khó thông cảm với những người ở lứa tuổi tôi. Hay có khi vì cung cách đó mà chúng tôi gặp nhiều thất bại chăng. Tôi vẫn nghĩ tin nhau là đủ. May mà giữa chúng tôi và ông Sung lúc đầu có đụng chạm, một phía là chuyên nghiệp một phía là những liên hệ rắc rối của ông Sung trong hoạt động chính trị. Cái khó là cá tính cương cường của bọn tôi và cá nhân ông Sung. Nhưng mọi khó khăn lúc đầu vượt qua được có lẽ vì ông Sung biết người biết ta và chỉ khoảng ít lâu thì tờ báo hoàn toàn do chúng tôi lo liệu, thoảng lắm, ông Sung mới đóng góp ý kiến, ngoài ra, ông chỉ đóng vai trò của một ông chủ báo tài tử, lùi ra ngoài để chúng tôi lo phần chuyên môn. Trong suốt những năm tôi viết lập trường trên Chính Luận chưa một lần nào ông Sung đặt vấn đề cả .

Ông thuật lại một sự việc mà theo ông rất ít người để ý, ngoài “Bọn Chúng Nó.” Nguyên Hồ Chí Minh chết đúng vào ngày 2 tháng 9 năm 1969 nhưng Hà Nội giấu kỹ chưa loan báo vội có thể vì muốn tránh đó là ngày kỷ niệm tuyên ngôn Độc Lập, hoặc có thể vì chia chác nội bộ chưa xong. Nhưng Chính Luận do theo dõi kỹ và phối kiểm tin tức đã loan vào ngày hôm sau, tin Hồ Chí Minh chết. Tin đó được tất cả các hãng tin thế giới trích thuật và Hà Nội buộc lòng phải công bố sự việc Hồ Chí Minh qua đời. Hình như cho đến bây giờ, Cộng Sản vẫn chưa nguôi ngoai lòng bực dọc đối với Chính Luận. Trong cuốn Báo Chí Ở Thành Phố Hồ Chí Minh của Trương Ngọc Tường và Nguyễn Ngọc Phan, nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn trang 300 có đoạn nguyên văn: “Tháng 9/1969 Hồ Chủ tịch mất, nhân dân trong nước và cả thế giới bùi ngùi trước tin đau buồn ấy. Thế mà tờ Chính Luận, tờ báo duy nhất đã viết bài xúc phạm đến sự nghiệp và cuộc đời của Bác. Nhiều thanh niên sinh viên học sinh và nhiều đồng bào các giới khác đã tới tấp gọi điện thoại đến tòa soan cảnh báo đòi đốt tòa báo đòi trừng trị những tên viết bài hỗn láo. Vì vậy Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn đã phải huy động một lực lượng công an để bảo vệ nghiêm ngặt cho tòa báo. Tháng 12/1969, tòa báo Chính Luận ở đường Lê Lai bị lực lượng vũ trang bí mật của Thành Đoàn dùng mìn đánh xập, phải dời qua đường Hai Bà Trưng.”

Nhiều năm sau ôn lại chuyện cũ, Thái Lân tâm sự :
- Tôi không ngờ khi Chính Luận loan tải tin Hồ chết lại ảnh hưởng đến bọn chúng nó lớn đến độ như vậy. Có thể tin đó đã khiến Bộ Chính Trị phải thay đổi toàn bộ dự tính để đối phó với dư luận thế giới và những dàn xếp nội bộ giữa các phe phái đang tranh giành nhau tại Hà Nội. Thời điểm này, 1969, cuộc chiến ở mức độ cao nhất nên Hồ chết là một biến cố rất quan trọng. Lúc đó, anh em mình không hiểu tại sao bỗng bị đặc công tới tấp dọa sẽ đặt mìn nổ tung Chính Luận, nhưng nay thì mọi sự đã rõ. Ông có nhớ vụ này không ?

Tôi nhớ chứ. Vài ngày cả tòa soạn lại nháo lên vì bị đe dọa, đôi khi phải di tản từ Võ Tánh sang tòa soạn cũ ở đường Lê Lai. Một hôm, tôi vừa lò dò leo lên cầu thang thì anh Phan Nghị ôm cái máy chữ lao xuống khiến cả hai ngã chỏng gọng. Anh Phan Nghị la oai oái “Mày lên làm gì, chạy cho mau, tụi nó đặt mìn chết cả đám bây giờ.” Xin đính chính cùng hai tác giả Báo Chí Ở Thành Phố Hồ Chí Minh rằng đặc công Thành Đoàn đặt mìn ở trụ sở tòa soạn Chính Luận đường Võ Tánh chứ không phải đường Lê Lai. Điều nữa là chả có lực lượng công an nào của Tổng Nha Cảnh Sát đến bảo vệ những tên nhà báo cả. Tôi nhớ sáng hôm đó khi đến thì chỉ thấy láo nháo một số đông cảnh sát trước tòa báo và nhân viên tòa soạn tụ cả phía bên kia đường nhìn sang. Đặc công Thành Đoàn đặt mìn khiến một em nhỏ thợ in thiệt mạng. Đó là thành tích duy nhất trong công tác của Thành Đoàn, nhưng không làm suy chuyển thái độ của Chính Luận mà Thái Lân là linh hồn.

Cũng xin ghi nhận thêm là cuốn Báo Chí Ở Thành Phố Hồ Chí Minh có nội dung hoàn xuyên tạc với ngôn ngữ sặc mùi tuyên truyền, vùi lấp sự thật về báo chí miền Nam một cách trắng trợn. Mong rằng sau này mọi sự kiện sẽ được ghi nhận xác thực để các thế hệ sau hiểu rõ những gì đã thực sự xảy ra trong giai đoạn lịch sử này.

Kể từ sau Mậu Thân, chiến tranh thực sự đã làm đời sống người dân Miền Nam bị đảo lộn đến gốc rễ. Bom đạn không chỉ nổ ở Khe Sanh, Mỏ Vẹt hay Chư Pao mà có thể ở bất cứ đâu giữa Huế, Sài Gòn, Cần Thơ. Cuộc sống của mọi người bị xoáy hút vào cơn bão, không một cá nhân nào có thể đứng ngoài lề. Hơn giới nào khác, người làm báo nay phải đối phó với những vấn nạn lớn nhất của nghề nghiệp. Họ chạy đua với thời sự tin tức. Họ phải cân nhắc để có những chọn lựa cho chính xác và trình bày tin tức cho hợp với chủ trương tòa báo. Họ phải đương đầu với áp lực không chỉ từ chính quyền mà còn dư luận và những khuynh hướng chính trị luôn luôn mâu thuẫn nhau. Tin tức về chiến tranh Việt Nam ngày ngày chiếm những chỗ quan trọng nhất không chỉ trên báo Sài Gòn mà cả thế giới.

Trong bối cảnh đó, Thái Lân vẫn lẳng lặng lui cui mỗi ngày viết một bài bình luận và điều động tờ Chính Luận. Công việc nói thì thật giản dị, nhưng phải có một sức làm việc vượt mức bình thường và một tinh thần chịu đựng vô bờ bến. Có thể vì đa đoan với công việc hàng ngày, ông không còn thì giờ ,giao du với bên ngoài, bạn bè hay những sinh hoạt bù khú của đám anh em cùng nghề. Rất nhiều người trong làng báo Sài Gòn lúc đó không biết Thái Lân hoặc có biết thì cũng chỉ nghe loáng thoáng. Quần chúng độc giả lại càng không biết đến tên Thái Lân cho dù ngày ngày họ đọc ông trong mục bình luận thời cuộc. Khi Từ Chung bị Cộng Sản ám sát, mọi người đều nghĩ tên ông sẽ được ghi như Tổng Thư Ký Tòa Soạn Thái Lân thay cho chỗ vẫn ghi Từ Chung. Nhưng ông lắc đầu cương quyết từ chối để Chính Luận cuối vẫn giữ hàng chữ cũ và ghi Cố Tổng Thư Ký Tòa Soạn Từ Chung. Không những thế, trong những ngày tờ báo còn ở đường Lê Lai, ông vẫn ngồi làm việc ở chỗ cũ lẫn lộn với tất cả nhân viên khác của tòa báo, không rời vào ngồi ở phòng nhỏ phía trong trước đây vẫn dành cho ông Từ Chung. Mới đầu có tiếng xì xào “Làm bộ làm tịch” hoặc “Gàn dở!” Ông tỉnh bơ bỏ ngoài tai giữ mọi sinh hoạt bình thường để rồi cuối cùng mọi người đều thấy Thái Lân vẫn là Thái Lân không có gì thay đổi.

Khoảng 1972, bỗng có dạo trông ông đờ đẫn hẳn, càng ít cười ít nói và trông như người mất hồn. Hỏi thì ông chỉ lắc đầu. Ông bán chiếc xe hơi mua một xe đạp, ngày ngày đạp xe đi làm. Mãi sau này khi gặp lại lúc ông đã ngoại tám mươi, ngồi ôn lại chuyện xưa ông nói với tôi: “Hồi đó tôi thấy chắc chắn chúng mình thua. Không cách gì cứu vãn được. Tôi xuống tinh thần, định bỏ nghề, bán hết tài sản và tìm một chỗ nào vắng vẻ sống cho qua ngày. Tôi không thể nói ra suy nghĩ của tôi vì e sẽ có người nói tôi điên hay trở chứng chết. Nhưng rồi vì nhà tôi và các cháu nhỏ, tôi lại ngày ngày viết báo nhưng nếu ông có chút tinh ý thì những bài bình luận của tôi từ dạo đó về sau bi quan nhiều hơn lạc quan.”

Nhận định đó của ông có thể vì ông là người ngày ngày đương đầu với thời sự, với chính trị và do óc nhận xét phân tích để đi kết luận “Chúng mình thua.” Nhưng ngẫm nghĩ lại, ông nhẹ nhàng bảo “Có thể là như vậy nhưng có lẽ đúng hơn là cái nhậy cảm trong con người nông dân của tôi”.
Cái gốc gác nông dân của ông phản ảnh rõ nét khi hơn hai chục năm trước, tôi ghé thăm ông ở California và nhìn thấy thửa vườn sau nhà với cà bát, cà pháo, cải vồng, rau muống, mồng tơi, mướp và đủ loại rau thơm. Mới đây khi hỏi thăm thì ông bảo “Giống cà bát chỉ trồng được hai mùa, sau đó cà ra trái lớn hơn nhiều nhưng ăn dai nhách không giòn như ở quê mình. Thổ ngơi nó khác ông ạ, gió khác, nắng khác, ấm lạnh khác thành mình nay cũng khác giống như cà bát, có cố lắm cũng chỉ được một hai mùa.”


Lê Thiệp
(từ: DĐTK)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 16, 20216:20 AM(View: 416)
Trang "Bạn Văn Nghệ" từ ngày thành lập đến nay đã là 11 năm. 11 năm với biết bao cố gắng của Ban Chủ Biên, đã tạo một sợi dây thân quen với các bạn văn và bạn đọc trong và ngoài nước. Nay, chúng tôi vì một số điều kiện, hoàn cảnh nên không thể tiếp tục điều hành trang mạng này nữa...
Sunday, September 5, 202112:30 PM(View: 91)
Dân Việt Nam ai cũng phải biết Nguyễn Trãi. Đó là một trong những khuôn mặt rạng rỡ nhất của lịch sử Việt Nam. Tôi gặp Nguyễn Trãi từ rất sớm khi xem vở kịch thơ “Hận Nam Quan” của Hoàng Cầm. Hình như tại nhà hát lớn Hà Nội, tôi không nhớ rõ lắm. Chỉ biết khi đó tôi còn rất nhỏ. Vở kịch diễn tả cảnh xảy ra ở biên giới Hoa-Việt khi Nguyễn Trãi lén gặp cha là Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Tầu. Nguyễn Phi Khanh ngồi trong chiếc cũi gỗ, Nguyễn Trãi núp sau hàng cây. Vở kịch không dài nhưng tôi chỉ nhớ được mấy câu Nguyễn Phi Khanh giục con trở về khôi phục giang sơn trả thù cho cha. Có lẽ tôi nhớ được vì mấy chữ “con về đi” được lặp đi lặp lại một cách hào hùng: Con về đi! Cha vui lòng vĩnh biệt Con về đi! Rửa nhục cho non sông Con phải nhớ: con là dòng tuấn kiệt Trong người con cuồn cuộn máu anh hùng. Chuyện hai tôi sớm biết về Nguyễn Trãi là giai thoại ông dùng mỡ viết lên lá hàng chữ : “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”, kiến ăn mỡ, đục khoét thành chữ,
Saturday, September 4, 202111:39 AM(View: 91)
Tháng Tám chưa qua, hạ chưa hết. Thu còn xa lắc, lá chưa kịp chín vàng, mà ông đã rụng rơi. Nguyễn Mạnh Trinh, nhà thơ, nhà biên khảo và truyền thông đã lên đường, đã thong thả rong chơi về miền phương ngoại (1949-2021). Tác phẩm Tạp Ghi Văn Nghệ của Nguyễn Mạnh Trinh Xuất thân là một quân nhân thuộc binh chủng Không Quân, văn thơ của ông phản ảnh nhiều suy tư, thao thức về cuộc chiến. Ông yêu thi ca, làm thơ và viết rất nhiều bài nhận định trong những lãnh vực văn học nghệ thuật khác nhau. Ông cộng tác và viết thường xuyên cho các báo nhất là ở Úc, Canada và Hoa Kỳ. Tôi mãi nhớ nụ cười hiền của ông, một Nguyễn Mạnh Trinh nho nhã, điềm đạm. Tôi không quên những lần trò chuyện cùng ông, tuy ít ỏi nhưng đầy ấn tượng và sâu sắc. Tôi cũng sẽ vô cùng tiếc nuối cho sự mất mát của một tài hoa, một ngòi viết hết lòng với văn học nghệ thuật tại hải ngoại. Đôi lần tôi được gặp gỡ ông tại nhà chị Bích Hạnh, Thùy Hạnh. Tuy nhiên, có lẽ lần tôi nói chuyện
Friday, August 27, 202112:17 PM(View: 298)
Tác giả Trần Yên Hòa vừa mới cho trình làng 2 tác phẩm : một, tập truyện ‘’ Những chuyến mưa qua’’ và thứ hai, tập thơ ‘’ Khan cổ gọi tình, về’’. Hình như, ở những tác phẩm đầu tay, chất chứa tinh hoa của một người cầm bút. Ở mức đến, đã có sẳn từ buổi khởi đầu, và ở thành tựu, phải nẫy mầm từ lúc ban sơ. Với thơ, ông là người mơ màng, lãng mạn và dù bây giờ, ở tuổi trên năm mươi, vẫn còn nuối tiếc thuở học trò và nhắc lại ngày xưa, lúc mắt còn xanh và lòng còn mở rộng. Với truyện ngắn, thì là một người kể chuyện thành thật, phát họa lại một thời buổi nhiễu nhương, của chiến tranh tàn bạo và một hậu chiến tranh gấp mấy mươi lần. Nói chuyện với Trần Yên Hòa, chúng tôi ở cương vị độc giả, muốn làm một nhịp cầu người cầm bút trình bày những chất chứa và những điều có thể trong tác phẩm chưa nói được hết. Nhất là, với hai tác phẩm mới, sẽ có nhiều giãi bày bất ngờ thích thú. Một điều nhận xét, trong phong cách diễn tả, cũng như ý tưởng trình bày, Trần Yên Hòa đã có nhiều tính chất của
Saturday, August 21, 20217:21 AM(View: 227)
Mình đã đi hỏi một số nhà đòn, trong đó có nhà đòn lớn nhất TP HCM hiện tại. Các anh chị nhà đòn cho mình những thông tin sau: -Giá cả tất cả các dịch vụ đều tăng. Do thiếu người làm + công việc nguy hiểm và áp lực + thiếu phương tiện + tăng giờ làm + quá tải tại lò thiêu Bình Hưng Hòa. + Giá hòm trước dịch thấp nhất là 2-3 triệu đồng. Trong dịch, cao điểm gần đây người chết thêm hai ba trăm người mỗi ngày, quan tài đóng không kịp, nhà đòn muốn lấy thì phải trả giá hơn lên. Cộng vào đó, giá vận chuyển tăng do chở về TP khó khăn hơn và thêm chi phí phát sinh (đồ bảo hộ, khử khuẩn, xét nghiệm tài xế, chờ đường lâu…) + Giá thuê xe vận chuyển tăng. Lúc trước một chuyến xe chở hòm vô lò Bình Hưng Hòa mất khoảng vài tiếng cả đi lẫn về, chi phí khoảng 3,5 triệu đồng. Nay do quá tải ở Bình Hưng Hòa nên xe phải xếp hàng chờ. Thời gian chờ trung bình hai, ba ngày mới vô tới được cửa lò. Xe nhích từng tấc, cả ngày chỉ đi được vài trăm mét. Nằm đường lâu, tài xế lấy giá vận chuyển tài