DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,322,553

Bán nguyệt san Mai (1960-1966) - TRẦN HOÀI THƯ

Thursday, May 5, 201612:00 AM(View: 8430)
Bán nguyệt san Mai (1960-1966) - TRẦN HOÀI THƯ

Bán nguyệt san Mai (1960-1966)


blank
 Bán Nguyệt san Mai

Mai là tạp chí phát hành mỗi tháng 2 kỳ, ra ngày 1 và 15. Chủ nhiệm: Hoàng Minh Tuynh. Giám đốc chính trị: Huỳnh Văn Lang. Tòa soạn 80 Hồng Thập Tự Sài Gòn. Báo có mặt 6 năm từ 1960 đến 1966. Từ tháng 7-1962 đến tháng 11- 1966, Mai bắt đầu đánh số trở lại, gọi là Mai bộ mới. Chủ nhiệm vẫn là Hoàng Minh Tuynh.


Báo khổ nửa giấy báo nhật trình, dày 40 trang, có trang quảng cáo. Chỉ bắt đầu từ tháng 12-1964, khổ giấy được đổi lại nhỏ hơn như khổ của tạp chí Văn, và cũng được đánh số trở lại. .. Số 16-17 phát hành ngày 1-8-1966 là số cuối cùng, với các bài của Lê văn Hảo, Vũ Đình Lưu, Hoàng Minh Tuynh, Père Jean Subra..


Có thể nói Mai là một Bách Khoa thứ hai. Chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh và giám đốc chính trị Huỳnh văn Lang là hai rường cột của tạp chí Bách Khoa. Tuy nhiên Bách Khoa là một tạp chí chỉ phổ biến tư tưởng, văn hóa, khoa học, chính trị, hầu giúp độc giả mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn về những vấn đề quan trọng của thời đại, còn chủ trương của Mai thì dấn thân tích cực, chú trọng vào việc xây dựng xã hội, nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên.


4

Riêng phần văn nghệ, có thể nói, Mai là tờ báo rất trân trọng với tác giả, dù người viết mới hay cũ. quen tên hay không quen tên. Ở Mai, tác giả được xem như bình đẳng, có nhiều cây bút trẻ, đặc biệt là từ miền Trung đóng góp. Một phần là nhờ dịch giả Bửu Ý – người chăm sóc về bài vở từ năm 1963, và một phần là do tánh tình cởi mở của chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh, mặc dù ông đã ở vào gần tuổi ngũ tuần. Ông luôn luôn đứng vào hàng ngũ thanh niên sinh viên, thay mặt nói giùm họ:

Đám thanh niên và sinh viên kêu gào thảm thiết đòi quyền sống, quyền làm người, họ nóng lòng muốn được đem toàn tâm toàn lực để cứu vãn một tình thế hầu như không còn cơ cứu vãn.


Song họ đã vấp, cái vấp đau khổ trước sự thiếu sáng kiến, thiếu cản đảm của lớp đàn anh muốn che giấu sự bất lực của mình dưới hình thức chẳng che giấu được ai: khiếp nhược mà bảo là thận trọng, hèn nhát mà bảo là khôn ngoan, lười làm lười nghĩ mà bảo chẳng nên hấp tấp vội vàng. (Mai số 36 &37)

Nhà nhận định văn học Đặng Tiến nhớ lại thời gian ông và bè bạn làm báo Mai như sau:

….Khoảng 1962-1963 gì đó, anh Hoàng Minh Tuynh làm chủ báo Mai, Sàigòn, bán nguyệt san. Anh Tuynh là người công giáo tiến bộ, có uy thế lúc ấy, và ưa giao thiệp với các bạn trẻ mà anh tin cậy, chung quanh Nguyễn Hữu Thái là sinh viên kiến trúc. Thái kéo bè với đám bạn trẻ như Phạm Công Thiện, Quỳnh Tân, Lê Hiếu Đằng, Bửu Ý và tôi. Có lúc anh Tuynh sang Đức vài tháng, giao phó tờ báo cho chúng tôi “muốn làm gì thì làm”. Thái và Thiện viết vung vít sao đó, tòa Tổng giám Mục có lưu ý và anh Tuynh kiểm soát lại tòa soạn. (Đặng Tiến: Nhớ thương Phạm Công Thiện – nguồn: Internet)

Riêng nhà văn và dịch giả Bửu Ý xem thời gian làm cho báo Mai là những ngày tháng khó quên nhất của đời ông;

Năm 1963 ở Sài Gòn không đủ ăn. Nhiều khi hai, ba ngày không có ăn, không có tiền đi xe buýt, phải đi bộ bốn cây số đến nhà in. Những đồng xu lẻ không đủ ăn 2 bữa/ngày. Sống cơ cực song bù lại đó là thời gian hào hùng của tôi, tôi được thỏa sự mê viết văn, mê viết báo, tôi thấy tôi sinh ra mình trên từng con chữ. Muốn viết được, phải sống thiếu đi một chút. Tôi không viết nhanh. Hồi đó sống thuê căn gác gỗ cùng với hai người con trai chủ nhà ở đầu cầu Trương Minh Giảng, kêu thêm bạn về ở chung để bạn khỏi trả tiền: đó là Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn. Sơn là một người viết rất nhanh. Bù lại, tôi viết rất khổ sở, như rặn đẻ, có khi cả tuần mới được một trang. Không nên viết đùa, đem giá trị ra mà bỡn cợt. Tôi viết không dám đùa bỡn bất cứ ai”. (Bửu Ý – hồi ký Ngày tháng thênh thang)

Nhìn tờ báo, dù không lòe loẹt như Nghệ Thuật nhưng chúng ta cảm thấy cả một sự trân trọng của Tòa soạn đối với người viết. Không có trang “dạy viết văn làm thơ”, không có trang cây bút mới cây bút cũ.. Lần đầu tiên chúng tôi mới đọc được kịch của Bửu Ý (lấy bút danh là Nguyễn Phước), truyện Bửu Ý (bút danh là Bửu Uyên) trong khi tôi chỉ biết Bửu Ý là dịch giả. Tôi cũng được đọc những bài của Nguyễn Đức Sơn viết nghiêm túc về tuổi trẻ, về tạp chí Sáng Tạo… và Nguyễn Xuân Hoàng trong những vở kịch vô tuyến truyền thanh, những bài viết nhận định về âm nhạc của Phạm Thế Mỹ hay hội họa của Đinh văn Cường (tức họa sĩ Đinh Cường), Lâm Triết, Nguyễn văn Liểu (tức họa sĩ Trịnh Cung), xen kẻ với những cây viết rất quen thuộc trên Bách Khoa về triết học như Cô Liêu, Vũ Đình Lưu, Phạm Công Thiện….


Đọc Mai, tôi tìm thấy những tiếng kêu trầm thống của tuổi trẻ trí thức miền Nam trước viễn ảnh đen tối của đất nước. Nó không phải là tờ báo khuynh tả như Trình Bày. Nó không phải là tờ báo thuần văn chương như Văn. Nó cũng không phải nghiêm túc không ồn ào như Bách Khoa. Nó là tổng hợp của ba tờ báo vừa kể. Vai trò của Hoàng Minh Tuynh với những cây viết cùng lứa của ông cọng vào vai trò của Nguyễn Hữu Thái là thanh niên sinh viên, và Bửu Ý là thành phần trẻ trí thức đặc biệt miền Trung.


Tháng 12-1964, báo đổi khổ. Việc đổi khổ này cũng mang theo sự thay đổi về nội dung bài vở. Rất ít sáng tác văn chương, không thấy sự xuất hiện của những cây bút trẻ từng cộng tác thường xuyên với MAI như Bửu Ý, Nguyễn Hữu Thái, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn , không còn mục Thanh niên sinh viên, hay Sổ Tay trái lại là nhiều bài khảo luận liên quan đến chính trị, tôn giáo, văn hóa…


Điều này Mai đặt nặng phần thời sự chính trị lên hàng đầu, như tiêu đề trên bìa: tạp chí Xây dựng Xã Hội Văn Nghệ.


Về Chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh


Trong văn học miền Nam hiện đại, chúng ta ít thấy có cảnh những nhà văn, triết gia hay nhà thơ nổi tiếng lại chịu ơn ai. Nhà thơ Bùi Giáng chỉ ca ngợi Ni cô Trí Hải qua cái nhìn chiếc áo tu hành khoác lên một người nữ, Phạm Công Thiện thì khỏi nói, bởi thần tượng của ông là Nietzsche, còn Nguyễn Đức Sơn thì càng khủng khiếp:

“Anh tin rằng tất cả những đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản).

Vậy mà cả ba đều một mực dành cho một người một sự nể vì và trân trọng. Người đó là Hoàng Minh Tuynh.


Bùi Giáng, trong phần mở đầu một chương của cuốn Tư tưởng hiện đại, viết:

“Bài này trước kia chúng tôi đăng ở tạp chí MAI, ký tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh đã có nhã ý muốn bày tỏ niềm thông cảm đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn chịu nhiều những hững hờ của độc giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông Tuynh đã chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là những tiếng tôi quen dùng”.

hay Phạm Công Thiện:

… Tôi và ông Hoàng Minh Tuynh khác nhau như Thiên đàng và Địa ngục. Ông Hoàng Minh Tuynh không có gì khả dĩ là tương hợp với tôi cả. Nhưng một điều lạ là nếu tôi không gặp ông Hoàng Minh Tuynh thì có lẽ tôi không bao giờ viết quyển này [1]. Hình như có những người sinh ra trên đời để làm đất cho cỏ mọc lên.

Riêng Nguyễn Đức Sơn đã dùng nhận xét của Hoàng Minh Tuynh về truyện ngắn Cái Chuồng Khỉ của ông đăng trên Mai số 31 & 32 để đăng lại trên trang bìa sau của tập truyện cùng tên do An Tiêm xuất bản vào năm 1969:

“Đây là truyện của một bạn trẻ thuộc thế hệ mới. Lời văn trẻ, hơi văn mạnh, cốt truyện bố trí chặt chẽ một cách tài tình, tư tưởng nhiều khi táo bạo đến nỗi làm cho người đọc bất bình […]. Một dấu hiệu của thời đại! Thảm thay! Mà cũng ghê thay!” (Hoàng Minh Tuynh viết riêng cho truyện ngắn “Cái chuồng khỉ” đăng trên Tạp chí Mai số 31 và 32 năm 1963)

Và nhà thơ Du Tử Lê xem Mai là trạm đầu cho cuộc hành trình thi ca của ông, khi ông nhắc đến cái bút hiệu Du Tử Lê được chính thức khai sinh bằng bài Bến Tâm Hồn được đăng trên tạp chí Mai vào năm 1958. (Sự thật là tạp chí Mai chỉ bắt đầu có mặt vào năm 1960 – chú thích của THT)


Riêng họa sĩ Đinh Cường, thời sinh tiền, luôn luôn nhắc đến tạp chí này như là nơi mà người bạn thiết của anh là Bửu Ý đã hợp tác trong một thời gian dài.


Sau 1975, Ông Hoàng Minh Tuynh về sống tại Bảo Lộc. Không hiểu sao ông lại về đây? Vì tự chọn hay vì ẩn tránh? Hai năm sau ông chết. Thọ 61 tuổi. Cái chết của ông được cuốn Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử VN của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế ghi là: Dư luận hồi đó cho rằng ông bị đầu độc. Tuy nhiên, rất ngạc nhiên là trong những ấn bản được tái bản sau này , chúng tôi không còn thấy phần tiểu sử của Hoàng Minh Tuynh nữa.


Hiện nay, chúng tôi có trong tay những chứng từ của thân nhân của học giả Nguyễn Bá Thế về sự mờ ám khi cuốn tự điển đồ sộ này được thực hiện. Khi có dịp chúng tôi sẽ phổ biến.


Đây là tiểu sử Hoàng Minh Tuynh được tìm thấy trên trang nhà http://vansu.vn trích từ ấn bản xuất bản đầu tiên:

Chuyên viên ngân hàng, nhà báo, sinh năm 1916 tại Nam Định, con ông Hoàng Văn Tuân và bà Lê Thị An (bà là nguời sinh ở Long An Nam Bộ), từ năm 1948-1950 định cư ở Sài Gòn.


Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội, đậu Tú tài rồi vào học Trường Đại học luật khoa Hà Nội, tốt nghiệp cử nhân luật chuyên về kinh tế, tài chính. Sau năm 1945 ông làm công chức trong ngành kinh tế ngân hàng, thường đi tu nghiệp ở các nước Tây phương (Pháp, Mĩ), sau năm 1950 định cư ở Sài Gòn, Bảo Lộc cho đến cuối đời.


Sau hiệp định Genève, ông giữ chức Phó Tổng giám đốc Viện Hối đoái Sài Gòn (Tổng giám đốc là ông Huỳnh Văn Lang).


Năm 1957 ông là một trong 3 người (Huỳnh Văn Lang, Lê Ngộ Châu và ông) sáng lập tạp chí Bách khoa ở Sài Gòn (1957-1975) giữ chức chủ bút tạp chí (1957-1963) rồi đến năm 1960 ông sáng lập tạp chí Mai giữ chân chủ nhiệm tạp chí này…..


Sau năm 1963, ông từ bỏ đời sống công chức, sống với nghề tự do, đến năm 1977 ông mất tại Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) thọ 61 tuổi.


Dư luận hồi đó cho rằng ông bị đầu độc. (Nguồn: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – Nguyễn Quang [2] Thắng, Nguyễn Bá Thế)

Riêng tạp chí Mai, sau 1975, dù toàn bộ của tạp chí này được lưu giữ tại thư viện tổng hợp TP HCM, nhưng muốn đọc nó phải có người hộ tống, không được phép copy, không được chụp hình (Xin mời đọc hồi ức của nhà văn Lữ Quỳnh trong số này)


Có thể nói, đây là tạp chí quý hiếm và giá trị nhất cho những ai muốn tìm hiểu về lịch sử miền Nam trong thời chiến (để chứng minh chúng tôi đăng lại Sổ tay – Nhật ký tháng 8-1964 ở phần sau) cũng như lý do tại sao những tác giả có tầm vóc như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn , Du Tử Lê, Bửu Ý, Đinh Cường… đã nhắc đến nó với tất cả sự trân trọng và tự hào.


Hiện tại thư viện đại học Michigan có lưu trữ Mai năm 1962, 1963, 1964, 1965, 1966 (thiếu năm 1960, 1961).


Riêng Thư viện đại học Cornell thì giữ ba năm: 1964, 1965 và 1966.


Riêng chủ nhiệm Hoàng Minh Tuynh, theo sự sưu tầm của chúng tôi, trong thời gian 1957 đến 1962, trên Bách Khoa có đến 109 bài viết của ông mà hầu hết thuộc đề tài chính trị biên khảo . Trên Mai chỉ thấy bài viết của ông xuất hiện nhiều vào hai năm 1965, 1966.


Trần Hoài Thư

Thư Quán Bản Thảo số 69, Tháng 4-2016
Giới thiệu Bán Nguyệt san Mai (1960-1966)

blank


[1] “Hình ảnh thanh niên thời đại trong tác phẩm Henry Miller”

[2] Sự thật là Quyết chứ không phải là Quang (TQBT)





 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, July 4, 20202:11 PM(View: 25)
“Trai khôn tìm vợ chợ đông / Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”. Câu dạy khôn này ngày nay đã lỗi thời. Từ lâu rồi. Chốn “ba quân” ngày xưa, trước 1975, tại Việt Nam đã có bóng hồng. Đó là các nữ quân nhân. Nhưng hoạt động của những anh thư của đảng kaki ngày đó chỉ giới hạn trong phạm vi xã hội và y tế. Không ai nỡ mang hoa ra chiến trường. Ngày nay, chị em phụ nữ Việt chúng ta ở bên Mỹ cũng mang đồng phục nhưng oai phong hơn nhiều. Họ cũng xông pha ra chỗ mũi tên hòn đạn ngang ngửa với các nam nhi. Nam nhi người Việt cũng như nam nhi người Mỹ, to như những ông hộ pháp. Cạnh tranh trong một tình thế lép vế như vậy nhưng chị em phụ nữ oai hùng chẳng kém chi ai. Chẳng phải là ngày phụ nữ, chẳng lễ mẹ chi, tự nhiên tôi muốn nhắc tới những bậc anh thư Việt Nam lỗi lạc này bởi vì tôi ngợp với những con cháu bà Trưng bà Triệu nơi xứ người. Tướng gốc Việt trong quân đội Mỹ có năm vị. Dẫn đầu là Thiếu Tướng Lương Xuân Việt của Lục quân. Vệ Binh Quốc Gia có Chuẩn Tướng Lập Thể Flora.
Thursday, July 2, 202012:35 PM(View: 57)
Ngay từ thuở nhỏ ta được dạy nói cảm ơn khi ai đó giúp mình. Lời cảm ơn không phải để xã giao mà thật sự biểu lộ lòng biết ơn chân thành của mình đối với người đó. Thế nhưng có lẽ chưa bao giờ ta được dạy nói cảm ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cảm ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục, không cần thiết! Trái lại nhiều khi ta còn có khuynh hướng nói xấu mình, bất mãn với mình, thậm chí… nguyền rủa mình. Nhiều người lớn tuổi nhìn vào gương mỗi ngày thấy mình già đi với những dấu chân chim ở đuôi mắt, vết hằn ở khóe miệng, nếp nhăn nhúm ở bàn tay… đã không thể chấp nhận được mình, đã âu sầu buồn bã, có người phải căng da mặt, bơm xóa vết nhăn hy vọng giữ mãi vẻ trẻ trung nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi cũng “hiện nguyên hình”, có khi tệ hơn! Xây dựng hình ảnh về chính mình (self image) rất quan trọng. Nếu đó là một hình ảnh tích cực, nó sẽ giúp cho mình tự tin hơn và từ đó ảnh hưởng đến “môi trường” xung quanh, còn nếu là một hình ảnh tiêu cực thì sẽ rất không hay.
Tuesday, June 30, 20208:37 AM(View: 78)
Năm 1993, Nhà xuất bản Tân Thư in tập truyện Thằng Bắt Quỷ, gồm các truyện của tôi đã đăng trên tạp chí Hợp Lưu cùng vài truyện viết trước 1975. Ngay sau đó xuất hiện bài viết của Dịch giả Phan Huy Đường, ký tên Trần Đạo, tựa đề Thằng Bắt Quỷ, Ba mươi năm nung nấu một ngọn lửa [bài đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số đặc biệt về nhà văn Mai Thảo]. Gần một năm sau tôi mới nhận được một thư tay, từ Paris của ông. Sau thủ tục thăm hỏi, ông đề nghị, và đã dịch tác phẩm của tôi sang Pháp ngữ. Trải mấy mươi năm, rất mong được gặp mặt nhau, dzô một ly rượu, ông đã qua đời năm 2019 tại Paris. Tháng Ba năm 2008, tôi nhận được một thư của một Kẻ Xa Lạ, nhà văn Đặng Thơ Thơ. Cô thông báo với tôi là Ban Biên tập tuần báo mạng Văn chương Không biên giới Da Màu sẽ thực hiện một số Đặc biệt Văn chương Cung Tích Biền. Số đặc biệt này khá phong phú, từ 23 đến 28 tháng 8-2008. Cô là chủ biên, viết bài nhận định, có thêm một bài phỏng vấn 4 [bốn] triền miên phiêu bồng dài dặc. Hai năm sau, nhân dịp cô từ Mỹ
Saturday, June 27, 20206:01 PM(View: 109)
Bất cứ vì lý do gì, một nhà văn khi còn sức viết mạnh mẽ, mà không thể viết được nữa là một bất hạnh. Khi “Không còn được viết nữa”, vì những lý do áp bức, cường quyền, vì chữ-nghĩa-bị-gông-cùm, ta phải cố mà thoát khỏi cái bất hạnh ấy. Trong hoàn cảnh một Việt Nam Hôm nay, một nhà văn khi còn sức viết mà không được viết, chỉ là bất hạnh thứ nhất. Nếu anh buông xuôi, chữ nghĩa anh sẽ chết, anh đành phải sống, trong thảm cảnh chết dần. Nếu anh viết tiếp với lòng trung thành, nhân văn, với cái gan nói ra sự thật, bất hạnh sẽ được nhân đôi. Đó là sự trừng trị từ phía nhà đương quyền. Anh bảo rằng ngòi bút tôi sung mãn, sâu sắc, về sau? Chính một giai đoạn lịch sử cuồng nghịch, xã hội con người dần biến ra một nhung nhúc tử thi, xú uế tối tăm, chính đó, đã tạo ra cho mỗi con người một sức bật mạnh mẽ để thoát ly. Mỗi thoát ly một tính cách biểu hiện. Có người dương khẩu hiệu, cầm đao kiếm. Tôi là nhà văn, tôi trút vào chữ nghĩa. Chữ nghĩa, cũng là một loại thuốc nhuộm màu
Wednesday, June 24, 202010:29 AM(View: 207)
Tôi là giọt máu lai Việt- Pháp. Đứa trẻ lai nào sinh ra cũng kháu khỉnh dễ thương. Nghe cha nuôi kể, lúc tôi chào đời ở bệnh viện Xanh Pôn, các bà xơ làm hộ lý tranh nhau bế bồng, khen tôi xinh đẹp, quý tướng. Cha tôi là con một chủ đồn điền trồng nho giàu có ở miền Nam nước Pháp. Mẹ tôi là con gái họ Ngô ở làng La Khê, một trong tứ quý địa ở ven kinh thành Thăng Long xưa. Ông ngoại tôi đi lính sang Pháp đánh trận từ hồi thế chiến lần thứ nhất (1914- 1918). Sau khi giải ngũ, cụ được Chính phủ Pháp trợ cấp một khoản tiền về quê tậu ruộng, xây nhà mái ngói hiên tây, vườn sau ao trước, sống đời thanh sạch được dân làng nể trọng. Nhờ thế, mẹ tôi được ra Hà Nội học trường Tây rồi làm việc ở tòa Công sứ. Cha mẹ gặp và yêu nhau say đắm nên tôi là kết quả cuộc tình lãng mạn khác màu da ấy. Cuối năm 1953, khi tôi vừa đầy tháng thì cha nhận lệnh phải về Pháp, hẹn sẽ quay lại đón hai mẹ con sang đó. Thế rồi chiến tranh kết thúc. Hà Nội được giải phóng, mẹ tôi có nhà ở phố Sinh Từ bị tịch thu