DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,321,408

Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Friday, May 6, 201612:00 AM(View: 7004)
Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Nét Sổ Ngang Hung Bạo




Image result for nhà thơ huy tưởng
nhà thơ huy tưởng



30 Tháng Tư


Đó là thời điểm không thể nào phai mờ trong tâm trí của những người Việt Nam, mà còn là vết thương hay phát súng kết liễu rạng ngời, tùy theo cách nhìn của mỗi phía, thắng hay bại cuộc. Nói khác hơn, đó là bước thay biến lớn lao trong dòng sử lịch của đất nước, trong đó có lịch sử của học thuật, của văn chương…

30 Tháng Tư, đó là nét sổ ngang hung bạo và cay nghiệt. Áp dồn nhau sát chân tường, sát biển cả! Hai bên đều có những “cố gắng” gượng gạo để tạm khống chế và sinh tồn, để cùng cố bước qua lằn ranh vô hình kỳ thị và ngờ vực. Nhưng vô vọng: bước hoài vẫn không sao vượt qua!

Sự bùng vỡ (thầm lặng) tất yếu phải có để giữ gìn và tự vệ, để ngăn chặn sự bức hại nham nhở do thời khí chính trị gây nên. Những trận gió mùa có pha trộn chất độc hại cũ càng, ngày một nhợt nhạt mất hiệu quả, thì trái lại, sự trong lành dần dà được hiển lộ, được phục sinh dù chưa tươi tắn, vẫn còn chút ủ ê vì năm tháng nhiều bụi bặm, nhiều phế nhiễu khó lòng tránh khỏi.

Nêu câu hỏi về những khác biệt và ranh giới giữa trước và sau 1975, hoặc trong và ngoài nước trước thời và không gian, thật ra đây chỉ là vấn đề giả vấn đề, bởi chưng đã có quá nhiều tổng hợp, phân tách và so sánh trước nay rồi, chúng ta không phải nhọc công trở lại.

Biến cố cũng chỉ là biến cố đối với những bản lĩnh vững vàng, kiên định. Ràng buộc, có chăng cũng chỉ là những ràng buộc cá nhân, ước thuận theo nhu cầu riêng tư hẹp hòi, theo từng thời điểm cần thiết (…) Nhưng những phong trào, những tuyên hô cũng khiến cho đôi bên thăm dò, học hỏi và nghe ngóng từ nhiều phía, ra công tìm hiểu và thử nghiệm. Công việc này gây khó khăn cho những cây bút trong nước. Trước, họ phải vận dụng hai tai để nghe ngóng từ nhiều phía; sau, họ vấp phải những thói quen đã được lập trình đến nỗi thấm thậm vào trong máu tự bao đời, cảm xúc về cái mới khiến họ bỡ ngỡ, lạ lẫm, dẫn đến những bất cập thô tháp hoăc bùng vỡ giả tạo, tình trạng của 2 thập niên sau biến cố. Người viết ở ngoài nước thì, vướng bận với hội nhập, với mưu sinh. Khi trở về với văn chương, dồn nhiều thời gian cho sao lục, phục hồi những giá trị cũ tản mạn, rải rác khắp nơi vô cùng cam khó, sáng tác thì hầu như chỉ đọng lại với đề tài thuyền nhân và khóc thương cho quá khứ oai hùng đằng đẵng hờn oán, dành một quãng dài cho quá khứ. Song hành theo đó, lác đác những tác giả sinh sau “biến cố” cất tiếng nói lấp lánh như tiếng hạc trong trăng. Chúng ta ngước lên và khấp khởi niềm vui thoáng chốc !

Trong nước, cũng có những vùng vẫy đáng trân trọng, những cá nhân hay tập thể có bản lĩnh, tự tin và can đảm rất đáng được chờ đợi. Nhưng ồn ào là những tác phẩm dễ dãi được viết bởi những người rất trẻ, nhanh và nghiêng về giải trí, nhẹ hẫng. Tôi thật không thích thú gì trong việc tóm tắt tình hình sách vở, như thế.

Giữa một gò đống lợn cợn đầy hồ nghi như thế, dòng chữ của câu hỏi: “Biến cố này đã(và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam?”Tôi e rằng to tát quá, và khiên cưỡng sao ấy, hoăc tôi tay không đủ rộng để ôm hết vào cho trả lời thích đáng (?).

Nhìn lại mình, tôi tự cảm thấy thật sự bất lực, đôi khi hèn yếu, nên đó cũng là một trong nguyên do khiến tôi bỏ viết mấy mươi năm, và có ý định từ biệt cõi văn chương. Tôi thấy mình, và cả Thơ Ca quá yếu ớt, thiếu trọng lượng trước một thời thế kiềm hãm đầy ách tắc, tai ương.

Tôi thà cam phận sống lặng lẽ mà sạch sẽ, vẫn hơn.

Và, làm sao trả lời cho thỏa câu hỏi “NẾU…” của Bạn ?

Đời sống, rồi lịch sử luôn cho thấy, từng trang sử lịch của mỗi thời đại, theo đó, sẽ sản sinh ra những nghệ sĩ, những nhà học thuật, những nhà Thơ… của chính thời đại ấy, cất tiếng nói và trượt trên dòng chảy cùng trào lưu tiến hóa phía trước…

Văn học miền Nam Việt Nam chỉ thực sự khởi động từ những năm của thập niên 60. Và chỉ 15 năm ngắn ngủi thôi, đã đem về một gia tài đáng kể, trong khi phải lầm lụi xây dựng, phải chinh chiến liên hồi.

Chúng ta hôm nay, có đến 40 năm, bốn mươi năm… hoang vắng, nghèo nàn và gỉ sét như những chiếc loa phường cũ kỹ mưa nắng dãi dầu!

Tiếp nối bốn mươi năm “hòa bình” như thế, tôi thực khó hình dung được những bước đi vạm vỡ mà vững chắc có nền tảng của lớp lớp những nhà học thuật miền Nam, vừa thu nhiếp vừa hòa nhập, sáng tạo với thế giới…

Còn về tôi ư?

Bốn mươi năm trước khóc hết nước mắt cho bao người thân bỏ xác trên biển cả!

Bây giờ, Bốn mươi năm sau, khóc vì cá, vì chim, vì biển chết theo!

Và cái gì sẽ chết nữa?

Chắc chắn “NẾU…”, thay vì những bài Thơ đẹp, sẽ chẳng phải viết những dòng đầy nước mắt, thắt lòng cho đất nước, cho đồng bào, cho… như vừa mới:

Tháng Tư!

Tháng Tư rơi như nước mắt

Tháng Tư đọng khô khuôn mặt điệu-buồn-phương-nam

Chúng tôi sẽ lớn lên

Chúng tôi sẽ già cỗi

Chúng tôi chết mất tăm tro bụi

Chúng tôi tan hình trên cõi thế quạnh hiu…

Nhưng điệu buồn và nước mắt tình yêu

Còn lăn và còn lăn mãi

Và vết thương thì lớn dần. lớn dần theo sử lịch

Lớn dần theo ngữ điệu rồng tiên

Vết thương cất cao lời tống tiễn

Một cơ đồ thống thiết gọi nhau đi…!



Huy Tưởng
(từ: damau)





*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, May 26, 20208:39 AM(View: 233)
- Ông gì ơi, ông người Việt hử? Câu hỏi khàn khàn bất ngờ phát ra từ mấy thân hình chăn trùm kín đầu nằm trên ke làm tôi giật bắn mình. Ngoảnh lại, tôi thấy một mái tóc bù xù ngóc lên khỏi tấm vải dày kẻ ô vuông đã có vài lỗ thủng và một hàm răng trắng nhe ra trong nụ cười làm quen trên gương mặt xám, xương xẩu. Tôi gật. - Chả là tôi nghe tiếng hai ông từ biệt nhau. Ông bạn già nằng nặc đưa chân tôi tới tận trạm metro gần nhà. Bịn rịn mãi lúc chia tay, tôi lỡ mấy chuyến tàu. Hai thằng tôi hoạ hoằn mới gặp nhau. Xa thì không bao nhiêu, đường đi cũng thuận tiện, khốn cả hai đều ngại, tuổi già nó thế. Ông bạn ở ngoại ô, về mặt hành chính là tỉnh lỵ La Courneuve, một bidon ville của Paris, người Pháp gọi thế, mặc dầu nó chẳng có gì dính dáng tới một cái bi đông nào hết. Vùng này về đêm lâu nay không an toàn. Rải rác vẫn có những vụ cướp bóc ngẫu hứng của những con nghiện ma tuý và dân nhập cư từ những nước hậu cộng sản. Càng về khuya, tàu càng thưa. Trong lúc chờ tàu,
Saturday, May 23, 20208:25 AM(View: 251)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì. Đã thế, trên trán cũng có một vết sẹo gần giống hình lưỡi liềm, do mảnh đạn M79 nổ gần xớt qua hồi đánh nhau ở Quảng Trị. Thế là Quang được gắn cái biệt danh “bản phủ”. Mà nghe chừng Quang cũng khoái với cái danh xưng ấy. Đến đâu nói chuyện cũng xưng xưng “bản phủ”. Để “bản phủ” quyết cái này, để “bản phủ” quyết cái kia… Cán bộ công nhân viên các cơ quan ban nghành xung quanh thì thấy, kể gọi Quang là “bản phủ” cũng đúng. Vì ngày nào Quang chả thăng đường xét xử. Dân làng Ngọc thì tuy trong bụng không ưa “bản phủ” tí nào, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra nể nang. Điều này có nguyên nhân rất sâu xa.
Wednesday, May 20, 20208:27 AM(View: 339)
Có tin đồn ông Thiệu muốn tẩu tán toàn thể số vàng dự trữ của quốc gia. Chuyến bay bị hủy bỏ, nghe đâu tới 16 tấn vàng, không lấy ra khỏi ngân hàng được, vì bị phó thủ tướng đặc trách kinh tế Nguyễn Văn Hảo chặn lại. E rằng lời hứa của ông Thiệu: “Tôi từ chức thì quân đội có thêm một người nữa” lại cũng cuội mà thôi. Bà Thiệu đã tẩu tán được bao nhiêu đồ cổ rồi, bây giờ ông Thiệu muốn gom một mớ nữa. Cú này ông chơi trội, ông mang vàng của cả nước đi, ông bán máu suốt tám năm làm Tổng thống, bà Thiệu lại phúc hậu, đâu có biết buôn bán như bà Khiêm. Ông bận làm Tổng thống, giao cái vụ vàng trắng, vàng đen cho tướng Quang, giao vụ gạo, thuốc trụ sinh cho tướng Nghi, bà Thiệu thì chỉ được các anh Tỉnh trưởng đàn em, biếu cái gì cầm cái ấy, đâu có kế hoạch như bà Khiêm, đâu có giang sơn một cõi như bà Viên. Ông bán máu xương, vàng đen, vàng trắng vất vả mãi mới có số vàng gửi trong ngân khố, đó là tài sản của công ty “danh tướng Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang”, bây giờ ông mang đi.
Monday, May 18, 20201:52 PM(View: 344)
Trong ít hôm vừa qua, cộng đồng mạng người Việt huyên náo hơn mức bình thường. Một YouTube được đưa ra, trong đó người thực hiện và trình bày đánh giá Chu Văn An, một nhà giáo dục được tôn kính từ thế kỷ 14 là “rất tệ,” là “tối,” rồi đưa tới một lời miệt thị rất nặng, “thằng cha đó là một thằng cà chớn.” Phản ứng lập tức đến từ rất nhiều phía, bộc lộ một niềm phẫn nộ tới cùng độ. Trong những phản đối ấy có một vài quá đáng, tuy lăng mạ mạnh mẽ nhưng chưa vạch được rõ người đưa ra lời phê phán đã sai ở những điểm nào. Giữa hàng trăm, hàng ngàn lời buộc tội, người viết những dòng này đọc được một lời bênh. Nhưng người bênh có một điểm sai, tưởng Chu Văn An làm đến chức Tể tướng và có quyền rất lớn trong triều Trần. Để đạt được một nhận định vô tư và khách quan, bài này xin được duyệt lại sử sách Việt Nam các đời trước, xem tiền nhân đã chép về Chu Văn An ra sao, cùng tìm hiểu thêm xem trong thời của ông (qua bốn triều vua Trần Minh tông, Hiến tông, Dụ tông, Nghệ tông), Chu Văn An đã
Sunday, May 17, 20209:12 AM(View: 347)
Lời của ông Thiệu mỗi lúc mỗi làm buốt giá đầu óc. Phải, chúng tôi đâu có thiếu máu xương, chúng tôi có nhiều máu xương nữa là khác, và ông Thiệu chẳng bao giờ tiếc món hàng rẻ mạt này. Ông Thiệu, ông Kỳ, ông Khiêm, ông Viên và nhiều “danh tướng” nữa, đã đem máu của người miền Nam rải đầy trên đồi núi, trên ruộng đồng, trên sông rạch. Máu mà tiết kiệm làm gì? Phải bắn cho hết đạn đại bác 105 ly để bà Khiêm có vỏ đạn bằng đồng bán cho Nhật Bản, phải giữ cho được những lăng tẩm cũ của miền Nam, để cho bà Thiệu thu thập được các đồ cổ của tiền nhân, máu phải đổ ra chan hòa cho xứng tài danh tướng vừa có văn vừa có võ của ông Viên, ông ở trên chóp của cái thang quân đội, ông đứng giữa những tranh chấp chính trị, ông Viên là người thanh liêm, nhưng bà Viên thì sao? Bà có đỡ đầu cho đàn em cật ruột của bà không? Có đứa nào thậm thụt cửa sau tư dinh không? Do đó máu thì chúng tôi không thiếu. Hỡi những “danh tướng” của miền Nam, các ông Thiệu, Khiêm, Kỳ, Viên, Quang, Toàn… và nhiều danh tướng