DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,321,354

Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Friday, May 6, 201612:00 AM(View: 7002)
Huy Tưởng - Nét Sổ Ngang Hung Bạo

Nét Sổ Ngang Hung Bạo




Image result for nhà thơ huy tưởng
nhà thơ huy tưởng



30 Tháng Tư


Đó là thời điểm không thể nào phai mờ trong tâm trí của những người Việt Nam, mà còn là vết thương hay phát súng kết liễu rạng ngời, tùy theo cách nhìn của mỗi phía, thắng hay bại cuộc. Nói khác hơn, đó là bước thay biến lớn lao trong dòng sử lịch của đất nước, trong đó có lịch sử của học thuật, của văn chương…

30 Tháng Tư, đó là nét sổ ngang hung bạo và cay nghiệt. Áp dồn nhau sát chân tường, sát biển cả! Hai bên đều có những “cố gắng” gượng gạo để tạm khống chế và sinh tồn, để cùng cố bước qua lằn ranh vô hình kỳ thị và ngờ vực. Nhưng vô vọng: bước hoài vẫn không sao vượt qua!

Sự bùng vỡ (thầm lặng) tất yếu phải có để giữ gìn và tự vệ, để ngăn chặn sự bức hại nham nhở do thời khí chính trị gây nên. Những trận gió mùa có pha trộn chất độc hại cũ càng, ngày một nhợt nhạt mất hiệu quả, thì trái lại, sự trong lành dần dà được hiển lộ, được phục sinh dù chưa tươi tắn, vẫn còn chút ủ ê vì năm tháng nhiều bụi bặm, nhiều phế nhiễu khó lòng tránh khỏi.

Nêu câu hỏi về những khác biệt và ranh giới giữa trước và sau 1975, hoặc trong và ngoài nước trước thời và không gian, thật ra đây chỉ là vấn đề giả vấn đề, bởi chưng đã có quá nhiều tổng hợp, phân tách và so sánh trước nay rồi, chúng ta không phải nhọc công trở lại.

Biến cố cũng chỉ là biến cố đối với những bản lĩnh vững vàng, kiên định. Ràng buộc, có chăng cũng chỉ là những ràng buộc cá nhân, ước thuận theo nhu cầu riêng tư hẹp hòi, theo từng thời điểm cần thiết (…) Nhưng những phong trào, những tuyên hô cũng khiến cho đôi bên thăm dò, học hỏi và nghe ngóng từ nhiều phía, ra công tìm hiểu và thử nghiệm. Công việc này gây khó khăn cho những cây bút trong nước. Trước, họ phải vận dụng hai tai để nghe ngóng từ nhiều phía; sau, họ vấp phải những thói quen đã được lập trình đến nỗi thấm thậm vào trong máu tự bao đời, cảm xúc về cái mới khiến họ bỡ ngỡ, lạ lẫm, dẫn đến những bất cập thô tháp hoăc bùng vỡ giả tạo, tình trạng của 2 thập niên sau biến cố. Người viết ở ngoài nước thì, vướng bận với hội nhập, với mưu sinh. Khi trở về với văn chương, dồn nhiều thời gian cho sao lục, phục hồi những giá trị cũ tản mạn, rải rác khắp nơi vô cùng cam khó, sáng tác thì hầu như chỉ đọng lại với đề tài thuyền nhân và khóc thương cho quá khứ oai hùng đằng đẵng hờn oán, dành một quãng dài cho quá khứ. Song hành theo đó, lác đác những tác giả sinh sau “biến cố” cất tiếng nói lấp lánh như tiếng hạc trong trăng. Chúng ta ngước lên và khấp khởi niềm vui thoáng chốc !

Trong nước, cũng có những vùng vẫy đáng trân trọng, những cá nhân hay tập thể có bản lĩnh, tự tin và can đảm rất đáng được chờ đợi. Nhưng ồn ào là những tác phẩm dễ dãi được viết bởi những người rất trẻ, nhanh và nghiêng về giải trí, nhẹ hẫng. Tôi thật không thích thú gì trong việc tóm tắt tình hình sách vở, như thế.

Giữa một gò đống lợn cợn đầy hồ nghi như thế, dòng chữ của câu hỏi: “Biến cố này đã(và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam?”Tôi e rằng to tát quá, và khiên cưỡng sao ấy, hoăc tôi tay không đủ rộng để ôm hết vào cho trả lời thích đáng (?).

Nhìn lại mình, tôi tự cảm thấy thật sự bất lực, đôi khi hèn yếu, nên đó cũng là một trong nguyên do khiến tôi bỏ viết mấy mươi năm, và có ý định từ biệt cõi văn chương. Tôi thấy mình, và cả Thơ Ca quá yếu ớt, thiếu trọng lượng trước một thời thế kiềm hãm đầy ách tắc, tai ương.

Tôi thà cam phận sống lặng lẽ mà sạch sẽ, vẫn hơn.

Và, làm sao trả lời cho thỏa câu hỏi “NẾU…” của Bạn ?

Đời sống, rồi lịch sử luôn cho thấy, từng trang sử lịch của mỗi thời đại, theo đó, sẽ sản sinh ra những nghệ sĩ, những nhà học thuật, những nhà Thơ… của chính thời đại ấy, cất tiếng nói và trượt trên dòng chảy cùng trào lưu tiến hóa phía trước…

Văn học miền Nam Việt Nam chỉ thực sự khởi động từ những năm của thập niên 60. Và chỉ 15 năm ngắn ngủi thôi, đã đem về một gia tài đáng kể, trong khi phải lầm lụi xây dựng, phải chinh chiến liên hồi.

Chúng ta hôm nay, có đến 40 năm, bốn mươi năm… hoang vắng, nghèo nàn và gỉ sét như những chiếc loa phường cũ kỹ mưa nắng dãi dầu!

Tiếp nối bốn mươi năm “hòa bình” như thế, tôi thực khó hình dung được những bước đi vạm vỡ mà vững chắc có nền tảng của lớp lớp những nhà học thuật miền Nam, vừa thu nhiếp vừa hòa nhập, sáng tạo với thế giới…

Còn về tôi ư?

Bốn mươi năm trước khóc hết nước mắt cho bao người thân bỏ xác trên biển cả!

Bây giờ, Bốn mươi năm sau, khóc vì cá, vì chim, vì biển chết theo!

Và cái gì sẽ chết nữa?

Chắc chắn “NẾU…”, thay vì những bài Thơ đẹp, sẽ chẳng phải viết những dòng đầy nước mắt, thắt lòng cho đất nước, cho đồng bào, cho… như vừa mới:

Tháng Tư!

Tháng Tư rơi như nước mắt

Tháng Tư đọng khô khuôn mặt điệu-buồn-phương-nam

Chúng tôi sẽ lớn lên

Chúng tôi sẽ già cỗi

Chúng tôi chết mất tăm tro bụi

Chúng tôi tan hình trên cõi thế quạnh hiu…

Nhưng điệu buồn và nước mắt tình yêu

Còn lăn và còn lăn mãi

Và vết thương thì lớn dần. lớn dần theo sử lịch

Lớn dần theo ngữ điệu rồng tiên

Vết thương cất cao lời tống tiễn

Một cơ đồ thống thiết gọi nhau đi…!



Huy Tưởng
(từ: damau)





*


 

 

Acacia Pharmacy

 

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, May 11, 20201:13 PM(View: 245)
Sau cùng xe tôi cũng qua được dòng sông cuồng nộ đó. Biết bao giờ tôi quay lại được bến sông này. Xe bò từng thước trên bãi cát, có lúc bánh quay tít, xe vẫn đứng yên một chỗ, mọi người xúm vào đẩy, cát bắn vào mặt đau rát, không một ai lơi tay, chiếc xe lết từng đoạn, từng đoạn, sau cùng cũng lên đến mặt đường. Đúng lúc đó địch pháo vài trái ngắn ngủi, nổ vu vơ giữa rừng chồi. Không ai bị thương, nhưng ảnh hưởng của vài trái pháo này thật lớn. Nó cho mọi người biết địch có mặt ở đây. Không biết chúng sẽ tấn công lúc nào. Cây cầu nhỏ, ván gỗ, trụ xi măng, sườn sắt, bề ngang vừa đủ một xe lớn. Cây cầu bắc ngang dòng nước chảy xiết, dòng nước người ta đã khơi về từ sông Ba, nó chảy song song với con đường vài cây số thì tới đập Đồng Cam, cái đập đã mang lại sự phì nhiêu cho những cánh đồng phía tây nam tỉnh lỵ Tuy Hoà. Đoàn xe ngừng lại tại đây, xe tôi cách xe đầu đoàn chừng một cây số, cứ vài phút tôi lại thấy những xe sang sông sau ùa tới. Xe tôi đậu
Monday, May 11, 20207:53 AM(View: 253)
Ì ạch mãi rồi đoàn người cũng tới được đoạn đường đất đỏ, chỉ còn năm, bảy cây số nữa sẽ vào Phú Bổn, xưa người ta gọi đây là Cheo Reo. Những chiếc xe dẫn đầu hẳn đã lọt vào thị xã, đoàn xe giảm tốc độ, ngang hông đoàn xe, những chiếc xe Suzuki, Honda hai bánh tuần tự lướt qua. Hầu như không có một chiếc xe hai bánh nào chở một người, phần lớn chở hai, đôi khi tôi bắt gặp một người lính lái, dĩ nhiên người vợ ngồi đằng sau ôm theo một đống hành lý, đứa con nhỏ ngồi trên bình xăng, kỳ lạ thay người lính vẫn vắt vai khẩu súng, bụi đường còn đọng trên khóe mắt của những em nhỏ, vệt nước mắt chảy dài trên má. Một cột khói bốc cao từ phía thị xã, kế đó là một tiếng nổ lớn. Rồi hàng loạt, địch pháo vào Phú Bổn. Chúng không cần bắn vào đoàn di tản, chúng bắn vào chỗ mà đoàn di tản sẽ đến. Con đường còn dài, còn quá nhiều chỗ lý tưởng cho những nút chặn, những cuộc phục kích. Pháo vẫn nổ trong thị xã, đoàn người trên xe túa ra, người lớn, trẻ con khóc như ri. Họ ùa ra các cây lớn bên
Thursday, May 7, 20208:59 PM(View: 362)
Rời phòng họp Bộ Tư lệnh Quân đoàn II, tôi như ngợp trong một cơn địa chấn. Gió thổi tạt vào mặt toàn cát và bụi. Những ngọn cỏ hồng trong sân trực thăng của Bộ Tư lệnh ngã rạp về một phía. Tôi không còn tỉnh táo, không cất nổi tay chân, cả người bải hoải, chung quanh tôi mọi người vội vã. Họ là sĩ quan đơn vị trưởng các đơn vị biệt lập đồn trú trong thị xã Pleiku. Họ vừa cùng tôi tham dự phiên họp kinh hoàng này. Tôi cũng không muốn về nhà, mấy người bạn chắc giờ này vẫn xoa mạt chược. Kể từ hơn hai tháng nay, khi tôi phải thuyên chuyển khỏi Đà Lạt, vợ con tôi đã về Quy Nhơn với bên ngoại, tôi lên đây một mình tá túc cùng vài người bạn. Mới bốn giờ chiều, nắng hôm nay cũng vàng màu bệnh hoạn. Giờ này chắc không còn ai ở ngoài Biển Hồ. Chắc không còn ai dưới chân pho tượng Quán Âm trên đỉnh đồi. Không, chắc hẳn thế nào cũng có vài người lưới tép với những chiếc xuồng được biến chế bằng móp của họ khuấy động khoảng nước xanh êm ả trên mặt hồ. Không biết giờ này, những gì đã xảy đế
Sunday, May 3, 202010:29 AM(View: 658)
Khu doanh trại Trảng Lớn rộng mênh mông, những căn nhà tiền chế Mỹ bỏ lại đều dùng để chứa những nguời trình diện tập trung. Có đâu cũng ngót mấy ngàn người. Nơi đây, ngày đầu tiên, ai cũng muốn tắm cho mát nhưng một dãy lán dài, khoảng trên mười căn nhà, chứa khoảng bốn, năm trăm anh em trình diện mà chỉ có một cái giếng. Giếng nước sâu xuống tận đáy, lại mùa hè nữa, nên nuớc còn rất ít. Anh em chen lấn nhau lấy nuớc, tiếng kêu la, tiếng cười đùa, rồi tiếng chữi thề, hòa lẫn vào nhau tạo thành một chuổi âm thanh hỗn độn. Soại nằm bên Niệm và Dương. Niệm là dân tác chiến, khóa 2/68 Thủ Đức, người miền Nam, tính tình xuề xòa, dễ chịu. Dương nguời bắc di cư, tốt nghiệp truờng Võ Bị, đại đội trưởng ở một sư đoàn bộ binh. Dương nói năng lém lĩnh. Mới đầu, anh nghe Dương nói chuyện, tự giới thiệu cái lò Võ Bị của mình, Soại muốn đổi chỗ nằm khác. Anh nhìn quanh quất, không thấy chỗ nào còn trống nên anh thôi. Anh không thích những nguời nói nhiều và khoe khoang quá trong lần tiếp xúc đầu
Friday, May 1, 20208:51 AM(View: 389)
Tiếng xe gắn máy, từ-Sàigòn-vừa-ra-tới, ai-đã-mang-về, vừa thoáng qua trên quãng phố khuya lạnh căm, nơi bấy nay chỉ thỉnh thoảng một chiếc Volga của một vị ủy viên lạnh lùng chạy vút qua. Đêm Thủ đô, cuộc chiến đã ngừng nhưng ám ảnh của tan thương hoạn nạn còn dài dặc, mông lung trong tiếng gió khuya. Lịch sử chuyển mình, từ ánh lửa hồng đêm đầu tiên khởi chiến chống Pháp; từ những chiều hoang tàn một khu phố nằm dưới làn bom B52 Mỹ, tro khói chiều, lửa cháy qua đêm. Đêm nay, 1975, một đêm mùa đông Hà Nội, bỗng ai đó mở nghe một bài nhạc của một nhạc sĩ Miền Nam Cộng Hòa. Tiếng hát ngọt ngào tha thiết, lời ca lạ lẫm, nhưng tâm sự chan hòa; rộng trải tự do, thăm thẳm tình người; chừng bao la một thổn thức cháy lòng. Những động tĩnh đầu tiên ấy, bỗng trở nên những tín hiệu nhiệm mầu, báo tin rằng “Ở đâu đó có một Miền Cứu rỗi!” Lần lượt một người, rồi người người vào Nam. Thấy tận mắt, sờ tận tay. Của cải mang về. Người có bà con trong Nam thì được nhiều quà biếu, những đồng