DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,293,395

Những nghi án trong văn học sử Việt Nam - Tran Yen Hoa

Sunday, October 10, 201012:00 AM(View: 17118)
Những nghi án trong văn học sử Việt Nam - Tran Yen Hoa

TRẦN YÊN HÒA

 

Những nghi án


trong Văn Học Sử Việt Nam

 

Có những tác phẩm thơ ca để lại cho chúng ta bây giờ có tên là Khuyết Danh, điều đó cũng là một điều đáng buồn khi tác giả đã để hết lòng mình tạo ra tác phẩm, mà không muốn ghi tên mình hay không giám ghi tên mình, vì xã hội phong kiến có rất nhiều ràng buộc, có thể đem đến nhiều hệ lụy cho tác giả, nếu tác phẩm đó, các vua chúa hay quan quyền nghĩ ra một điều gì sai trái trong tác phẩm, thì tác giả có thể bị kết án ngay.

Các tác phẩm ghi là Khuyết Danh (không có tên tác giả) trong văn học, là các truyện bằng chữ nôm. Nhiều truyện cổ, không phải là không có giá trị, văn phong không phải toàn chất phác như người ta tưởng lầm; nhiều câu, nhiều đoạn văn rất hay, ý sâu xa.

Các tác phẩm đó có thể kể là:

- Trê cóc

- Trinh thử

- Lục súc tranh công

- Nhị Độ Mai

- Hoa điểu tranh năng…

Những tác phẩm này thường là lấy chuyện con vật để nói sang người, hoặc chuyện thần tiên xa lơ xa lắc, nhưng cơ bản vẫn là đem lại Chân, Thiện, Mỹ đến cho mọi người. Cái gì thật thì thật, mà cái gì giả thì giả.

Như nội dung truyện Trê Cóc làm ví dụ sau đây:

“"Có con cá Trê đẻ trứng bên mương nước, trung no ra nong noc, chàng (hay nàng) Cóc thấy nong noc giống mình, bèn nói là con của mình. Trê với Cóc cải nhau, ai cũng nói là con của mình, cải hoài không ai thắng ai, nên phải đem trình quan trên để xét xử. Quan xem chuyện, rồi phán, cứ hãy chờ, đến ngày nong noc nở thì biết ngay là con của Trê hay Cóc. Quả thật, đến ngày nong noc nở ra con trê con, nhảy xuống nước bơi mất. Cóc chỉ còn biết ôm hận vì sự nhận bừa của mình."

Những truyện này, đến bây giờ, cũng là bài học cho những ai đạo văn, đạo nhạc, đạo thơ của người khác.

 

GIA HUẤN CA

Gia Huấn Ca được nhiều học giả giới thiệu từ hơn 70 năm nay. Nhưng tác giả của nó thì vẫn chưa biết chắc là ai.

- " Tập Gia Huấn Ca (bài hát dạy người nhà) vẫn truyền là của ông Nguyễn Trãi soạn ra, nhưng không được chắc lắm.

* Theo giáo sư Dương Quảng Hàm có nhận xét như sau:

Lời văn (Gia Huấn Ca) bình thường giản dị, lưu loát êm ái. Nếu tập ấy thật của Nguyễn Trãi soạn ra, thì văn nôm ta về đầu thế kỷ thứ XV cũng không khác nay mấy, chỉ thỉnh thoảng có một vài chữ nay ít dùng ".

(Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu (1941), Xuân Thu tái bản, tr. 271).

* Theo giáo sư Nghiêm Toản thì:

" Gia Huấn Ca gồm mấy bài ca dạy vợ, con, vợ khuyên chồng, khuyên dạy học trò sửa đức, chăm học. Lời văn bình dị, trôi chẩy, viết trên sáu dưới tám, có khi xen câu bảy chữ; thỉnh thoảng một vài chữ ngày nay ít khi dùng đến, chứng tỏ là một tập văn cổ, song không biết có phải đích thực ông Nguyễn Trãi soạn không?

Dù sao thì truyền từ Nguyễn Trãi cho tới bây giờ, tác phẩm ắt đã bị người đời sau sửa đổi nhiều chữ, nhiều câu, chứ không thể nào giữ vẹn cả trăm phần đúng như nguyên tác ".

(Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu (1949), Khai Trí, 1968, tr. 121).

Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì:

-"Những nhà sách ở phường Hàng Gai xưa có khắc một bản Gia Huấn, đề là Nguyễn tướng công Gia huấn, hay là Nguyễn Trãi gia huấn. Tục truyền rằng đó là những bài ca, ông đã đặt ra để dạy con cháu trong gia đình (...).

Nội dung các bài ca lại còn cho ta biết rằng: Văn viết trong thời còn loạn, chưa có vị vua chính đáng cầm quyền. Vậy có thể là do Nguyễn Trãi soạn hồi đầu Minh thuộc (1406-1417). Tuy nhiên, các chữ cổ, thường thấy trong những bài chắc chắn soạn đời Lê, ở đây thấy rất ít. Vả trong một vài nơi có nói đến các thứ đánh bạc như tổ tôm, tam cúc, chắn, đố mười. Không biết những trò chơi ấy đã có đời Nguyễn Trãi hay chưa?

Nói tóm lại, ta không có chứng gì nhận chắc quyết lời tục truyền rằng tập Gia Huấn này là của Nguyễn Trãi. Nếu thật là của ông soạn ra, thì sự sao đi chép lại bởi người đời sau, và nhất là đời Nguyễn, đã làm cho phần văn cổ đã bị chữa đi nhiều rồi".

(Hoàng Xuân Hãn, Thi Văn Việt Nam (1951), Giáo Dục, 1998, tập 3, tr. 59-60).

Theo giáo sư Đinh Gia Khánh thì:

 " Ngoài ra lại có một số tác phẩm nôm tương truyền là của Nguyễn Trãi, nhưng chưa thể khẳng định rằng đúng là của ông. Đó là tập Gia Huấn Ca và hai bài thơ nôm (bài Tự thán và bài Ghẹo cô hàng chiếu) ".

(Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Văn Học Việt Nam, Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1978, tập 1, tr. 348).

- Gần đây, xuất hiện một bản Gia Huấn Ca bằng chữ nôm, của nhà Quan Văn Đường, khắc in năm Đinh Mùi, niên hiệu Thành Thái (1907). Bản này ghi " Lê triều Nguyễn tướng công Gia Huấn Ca " ở trang đầu và " Nguyễn tướng công Gia huấn " ở trang cuối.

- Theo giáo sư Vũ Văn Kính, nhận xét về Gia Huấn Ca bản Quan Văn Đường như sau:

"Phần ai là tác giả Gia Huấn Ca (bản Quan Văn Đường) và thân thế và sự nghiệp của tác giả xin để dành lại cho các nhà nghiên cứu và nếu có hoàn cảnh thuận tiện chúng tôi cũng sẽ viết về những điểm đó".

(Vũ Văn Kính, Gia huấn ca, Trường Hán Nôm Nguyễn Trãi, 1994).

Nói tóm lại, từ trước đến nay, chưa có học giả nào đưa ra bằng chứng có tính thuyết phục để công nhận hay phủ nhận dứt khoát Nguyễn Trãi là tác giả Gia Huấn Ca.

Vì sao các học giả lại thận trọng, nói đúng hơn là lúng túng như vậy?

Có lẽ chỉ vì cái tên "Nguyễn Trãi gia huấn" đã chỉ rõ Nguyễn Trãi, còn cái tên "Lê triều Nguyễn tướng công" làm người ta liên tưởng đến Nguyễn Trãi. Ngoài ra, Gia Huấn Ca (GHC, theo bản của nhà Quan Văn Đường) lại có nhiều câu giống Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi:

Bữa thường dù dưa muối mặc lòng (GHC)

Bữa ăn dầu có dưa muối (QATT)

Ở bầu tròn ở ống thì dài (GHC)

Ở bầu thì dáng ắt nên tròn (QATT)

Ắt đã tròn bằng nước ở bầu (QATT)

Ngồi ăn mãi non mòn núi lở (GHC)

Làm biếng ngồi ăn lở núi non (QATT)

Làm biếng hay ăn lở non (QATT) ...

khiến cho các học giả nghĩ rằng Nguyễn Trãi là tác giả Gia Huấn Ca.

Nhưng đồng thời, Gia Huấn Ca lại có nhiều chữ, nhiều thành ngữ quen thuộc của ngày nay như "giàu vì bạn, sang vì vợ ", "khôn ba năm, dại một giờ", "giàu ba họ, khó ba đời", "vắt cổ chày ra nước", "miếng khi đói gói khi no". Thậm chí có cả "một bồ dao găm" v.v. làm cho các học giả phải nghi ngờ, không tin chắc rằng Nguyễn Trãi là tác giả Gia Huấn Ca.

Đáng ngạc nhiên hơn nữa là Gia Huấn Ca có nhiều câu giống Kiều của Nguyễn Du.

Tấc son tạc lấy chữ trinh làm đầu (GHC)

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu (Kiều)

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào (GHC)

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào (Kiều)

Kẻ lộn chồng trốn chúa cũng nhiều (GHC)

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng (Kiều) v.v.

Rõ ràng có ảnh hưởng qua lại giữa Gia Huấn Ca và Kiều.

Chẳng lẽ Nguyễn Du lại chép thơ nôm của người khác? Hay là Gia Huấn Ca đã bắt chước Kiều? Vì Nguyễn Du là hậu sinh của Nguyễn Trãi mà làm sao có chuyện đó được.

Như vậy thì: Tác phẩm Gia Huấn Ca được người đời truyền tụng và cho là của Nguyễn Trãi, nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng.

 

CHINH PHU NGÂM KHÚC

Ai là Dịch giả: Đoàn Thị Điểm hay Phan Uy Ích?

Từ lâu, chúng ta vẫn thường đọc bản dịch Chinh Phu Ngâm qua các sách đã được công bố là bà Đoàn thị Điểm chính là dịch giả Chính Phụ Ngâm Khúc của tác giả Đặng Trần Côn, viết bằng chữ Hán.

Tuy nhiên theo sự tìm tòi, khảo cứu của nhà văn Nguyễn Văn Xuân và học giả Hoàng Xuân Hãn với những tài liệu tìm được, đã chứng minh rằng bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc chính là của Phan Huy Ích.

Theo Nguyễn Đạt trong một bài viết trong báo NV thì:

“Một công trình biên khảo của học giả Hoàng Xuân Hãn, người đã tìm tòi, thu thập ở khắp nơi, ở nhiều nước, các bản Hán-Nôm liên quan tới tác phẩm bản dịch Chinh Phụ Ngâm. Và học giả Hoàng Xuân Hãn đã dùng phương pháp khảo chứng cổ tịch để sắp xếp 7 bản "Chinh Phụ Ngâm" khác nhau, chứng minh bản "Chinh Phụ Ngâm" vẫn lưu hành mà người ta bảo rằng dịch giả là Đoàn Thị Điểm, thật sự là của dịch giả Phan Huy Ích. Cùng với học giả Hoàng Xuân Hãn, nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân cung cấp tài liệu, xác cứ: Theo các ấn bản năm 1804 và 1815, triều vua Gia Long, thì bản dịch chữ Nôm "Chinh Phụ Ngâm" của Phan Huy Ích, như bản dịch vẫn lưu hành bấy lâu nay, vốn tên là "Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Tân khúc". Và nguyên tác chữ Hán được Đặng Trần Côn viết ra trước đó trên nửa thế kỷ.”

Khoảng đầu thập niên bảy mươi, giáo sư Nguyễn Văn Xuân đã viết về sự khám phá của mình, Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Tân Khúc là một trong những tác phẩm để lại cho nhà văn nhiều kỷ niệm. Lần đầu tiên, ông đã phát hiện trong đống sách của một gia đình nghèo, có xuất xứ từ gia đình bà Chúa Nhất, dòng vua Thành Thái, lẫn trong các sách chữ Nôm có cuốn Chinh Phụ Ngâm Diễn Âm Tân Khúc, có tựa của một nhà xuất bản vào năm Gia Long thứ 14 (1815) và nguyên tựa của dịch giả. Ông cho rằng cuốn sách này là một thực tế độc lập mà cũng là một bổ sung - cho cuốn Chinh Phụ Ngâm bị khảo của học giả Hoàng Xuân Hãn (Minh Tân, Paris, 1953) là một khám phá mới về ngành nghiên cứu văn học theo văn bản học. Và ông đã xác quyết dịch giả đích thực là Phan Huy Ích và tên tác phẩm là Chinh Phụ Diễn Âm Tân Khúc chứ không phải là Chinh Phụ Ngâm.

Điều này đã gây ra sự tranh cãi không ít trên văn đàn miền Nam, từ trước 1975, và đến nay gần như vẫn còn bỏ ngõ.

Nhật Ký Trong Tù

“Nhật Ký Trong Tù”, nguyên văn chữ Hán là Ngục Trung Nhật Ký là một tập thơ, ký tên tác giả là Hồ Chí Minh. Tác phẩm này được xác định: viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian ông Hồ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà giam ở Quảng Tây, Trung Hoa.

Nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, có ghi bốn chữ "Ngục trung nhật ký" (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép.

Tác phẩm Nhật Ký Trong Tù đã được chính quyền cộng sản Việt Nam xuất bản nhiều lần, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, Hán, Đại Hàn, Nhật Bản...

Tập thơ "Nhật Ký Trong Tù" đã được một số nhà phê bình đánh giá. Theo BBC, nhà phê bình Đặng Tiến nói: Tác phẩm này không có giá trị cao về nghệ thuật và tư tưởng.

Nghi Vấn Ai Là Tác Giả

- Hồ Chí Minh xác định ông ta sáng tác tập thơ khi ông ta ở trong tù vào khoảng thời gian 1942-1943.

- Nhà xuất bản Hà Nội in ra tập thơ nhưng xóa đi ngày tháng trong bản gốc. Bản gốc ghi Nhật Ký Trong Tù làm từ năm 1932-1933.

Điều này có thể đưa ra những nhận xét sau:

- Một, HCM là tác giả, nhưng cố tình viết sai ngày tháng. Vì sao lại như thế? HCM không ở tù ở Trung Hoa năm 1932-1933. Vậy tại sao làm như vậy?.

- Hai, HCM quên, viết lầm trên bản gốc. Chuyện này không đáng tin cho lắm. Có ai mà viết lầm cả một thập niên?

- Ba, HCM ở tù giữa 1942-1943, chôm tập thơ tập thơ của một bạn tù ghi 1932-1933, và vì ăn cắp, bất minh, nên lòi ra cái sơ hở của mình, và tham lam, nên cố nhận là của mình.

Giáo sư Lê Hữu Mục khẳng định trong tập:

"Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký", được xuất bản do Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, năm 1990. Trong tài liệu này, G.S. Mục phân tích ngày tháng và các đặc điểm khác, rồi kết luận tác giả tập thơ không phải là HCM.

So sánh những bài “vè” của Hồ Chí Minh trong thời gian sau khi Hồ Chí Minh lên làm chủ tịch nước với một số bài trong “Nhật Ký Trong Tù” ta thấy có sự khác xa nhau về văn phong.

Thế mà cộng sản Việt Nam cố tình ép nhân dân phải tin “Nhật Ký Trong Tù “ là của ông Hồ.

Sau đây là những chứng minh của Giáo Sư Lê Hữu Mục, Hồ Chí Minh không phải là tác giả tập “Nhật Ký Trong Tù”

Xin giới thiệu vài nét sơ lược về Giáo Sư Học Giả Lê Hữu Mục:

Học giả Lê Hữu Mục là Gs Đại học Văn khoa và Sư phạm, Tiến sĩ thủ khoa Văn chương Việt Nam dành cho các Gs đại học 1970. Ông còn là nhà biên khảo, phê bình văn học, nghiên cứu triết học và tôn giáo và là nhạc sĩ nữa. Ngoài khoảng trên 20 tựa sách, những bài diễn văn, bài báo, ông đã viết cuốn "Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký" (1989-90) gây nhức nhối cho Cộng sản Việt Nam. Cuốn sách này ông ra sức tập trung ý chí và khả năng hoàn thành chỉ trong một tháng. Sở dĩ ông phải viết nhanh như vậy để kịp phá vỡ huyền thoại HCM, "Nhân vật Văn hóa Quốc tế mà Tổ chức UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc) dự định tôn vinh.

Với phương pháp dùng textology (văn bản học), hệ thống hóa lại, tìm ra những mâu thuẫn và sai lầm rất vững vàng, tác giả đã minh chứng rằng : HCM là kẻ đạo văn. Chúng ta đã biết người CS dùng bất cứ phương tiện nào dù xấu xa, vô nhân, vô đạo, vô luân nhất để đạt đến mục tiêu. Mượn đầu heo nấu cháo, lợi dụng xương máu Dân lành để nhận công của đảng mình, chưa đủ, họ còn muốn Hồ Chí Minh làm Anh hùng Văn hóa Quốc tế nữa. Nhóm bồi bút Viện Văn Học Hà Nội dựa trên sự mạo nhận của Hồ Chí Minh, ăn cắp văn của người khác, để thổi phồng tập thơ nhật ký lên một cách lố bịch và trơ trẽn..

Giáo sư Lê Hữu Mục kể:

"Sau khi tôi bị tù về tội vượt biên, trong trại tù lập một tủ sách, có cuốn nhật ký đó, tôi mượn về đọc vì có in chữ Hán trong đó. Những bạn tù người Hoa (Trung Hoa) đọc xong và họ ngạc nhiên lắm. Họ nói giọng văn thơ này là của người Tàu, không phải lối viết, lối nói của người Việt, chúng tôi thấy quen thuộc lắm. Họ nói đúng ý tôi làm tôi càng chú tâm phải đọc kỹ. Rõ ràng trong sách có tên ông già Lý người Tàu, ai cũng để ý đến ông già này. Phải chăng chính ông già không rõ lý lịch này mới là tác giả đích thực của tập thơ ?

Vì Hồ Chí Minh không biết làm thơ, cũng chẳng phải là nhà văn học, văn hóa gì cả. Ông ta chỉ là kẻ ăn cắp thơ.

Giáo sư Lê Hữu Mục kể tiếp:

"Khi cuốn sách của tôi ra mắt độc giả, chắc chắn là giới văn nô cộng sản bên kia đại dương cũng đọc. Họ bồn chồn, nhức nhối phải tìm cách đối phó. Họ tập trung chất xám lại ra một cuốn sách dày gấp bốn sách của tôi để tìm cách chứng minh là Bác của họ cũng biết làm thơ. Nhưng trước sau gì cũng giấu đầu hở đuôi.

Trước sau gì chỉ là một vụ bịp, một tấn kịch đóng rất vụng. Hồ Chí Minh úp mở nhận là thơ của mình. Đám nô bộc văn nghệ cung đình dùng ống đu đủ thổi phồng lên rất lố bịch. Một chứng cớ không thể chối cãi là ngoài bìa sách ghi năm tác giả bị tù là 29-8-1932 đến 10-9-1933. Trong khi Hồ Chí Minh đã bị Quốc Dân Đảng bắt và cầm tù ở bên Tầu sau gần 10 năm, vào năm 1942 - 1943 thôi. Trong Tổng Tập Văn học của Hà Nội tại tập 38 trang 507 có in lại hình bìa, nhưng lại xóa bỏ ngày tháng tù của nguyên bản. Rõ ràng có sự che giấu, khuất tất. Ngay Gs Đặng Thái Mai, bố vợ Võ Nguyên Giáp cũng thắc mắc về soạn niên cuốn nhật ký. Ông là nhà giáo nổi tiếng, một học giả, lúc đó đang nhận nhiệm vụ hiệu đính lại cuốn thơ. Ông đặt câu hỏi thẳng với Hồ Chí Minh là ai dám đề năm tháng kỳ quặc là năm 1932 - 1933, đây lại là tác phẩm của lãnh tụ cao nhất nước? Hồ Chí Minh không trả lời. Sau này bí thế quá, ViệnVăn Học trả lời vắn tắt rằng: Đề năm 1932 - 33 là sai, phải là năm 1942 - 43 mới đúng. Rằng Hồ Chí Minh ghi như thế để đánh lừa quân cai ngục của Tàu. Cách trả lời rất vắn tắt, gượng ép, không có lời giải thích minh bạch, thỏa đáng.

Thực đúng như nhiều người đã khẳng định: Hồ Chí Minh không có tư tưởng, chỉ có khẩu hiệu thôi. Mấy khẩu hiệu đó ai cũng có thể nói được, chế ra được : Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết; Không có gì quý hơn độc lập tự do; Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, thì đứa con nít lên 5 tuổi cũng nói được. Hồ Chí Minh còn "đạo" câu "Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người, Lương Y như Mẹ Hiền”, của Tầu ngày xưa.

Lật tẩy "Nhật Ký Trong Tù"

Sử liệu của CSVN đều ghi là sau khi Hồ Chí Minh về đến Hà Nội (1954), một ngày kia có một người Tày (Nùng ?) từ Việt Bắc về Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, dâng cho Hồ Chí Minh một gói nhỏ và thưa rằng : "Trình Bác, khi Bác lưu lại nhà cháu, Bác đã nhét trên mái hiên nhà cháu gói này. Mới đây khi sửa lại mái hiên, nhìn thấy nó cháu biết là của Bác, nên đưa về dâng lại Bác." Hồ Chí Minh mừng rỡ la lên : "Ôi! Mừng quá! Mừng quá! Đây là cuốn thơ Nhật Ký Trong Tù của Bác, tưởng đã lạc mất lâu rồi nay lại tìm thấy. Cám ơn chú." Sau đó Hồ Chí Minh đưa cho thuộc hạ dịch ra tiếng Việt, xuất bản hàng triệu cuốn và bắt toàn dân học.

Qua đoạn trên, ta thấy Hồ Chí Minh chính là “siêu bịp, siêu đạo” thơ của người khác rồi cho là của mình. Nghi Aùn Văn Học đến đây chỉ giải thích được một nửa, là Hồ Chí Minh không phải là tác giả tập thơ “Nhật Ký Trong Tù”. Còn tác giả chính thì chắc là chết từ lâu, không biết của ai?

 

Các Tác Giả “Cầm Nhầm”

Trong nền văn học nghệ thuật trong nước ngày nay, chúng ta cũng thấy có một số tác giả “cầm nhầm” tác phẩm của người khác rồi cho là của mình hoặc tinh vi hơn thì bắt chước cốt truyện, cách hành văn…

Như Tập truyện Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư cũng bị một ông đại tá cộng sản bắt chước viết giống y chan, đến khi báo chí phanh phui ra, đám văn công cộng sản bèn lấp liếm bênh vực cho là “những tư tưởng lớn gặp nhau.”

Nhạc phẩm Tình Thôi Xót Xa

Nhạc sĩ Bảo Chấn, một nhạc sĩ được đánh giá cao ở Việt Nam, đã bị phanh phui là “đạo nhạc” của một nữ nhạc sĩ Nhật Bản, đó là bài “Tình Thôi Xót Xa” với lời nhạc “từ khi quen em, anh đã biết bối rối…”

Thế mà ông nhạc sĩ này vẫn chối bai bãi, cho rằng nhạc phẩm đó là của ông, đến khi bà nhạc sĩ Nhật Bản lên tiếng đòi kiện ông ra tòa về tội “đạo nhạc” thì ông mời gải

đầu gải tai xin lỗi, từ sau em xin chừa.

Nhạc sĩ Vũ Hoàng “đạo nhạc” sử ca

 Nhạc sĩ Vũ Hoàng đã sử dụng ca khúc (cả nhạc và lời) có tên “Về Đất Lam Sơn” của tác giả Lê Minh để gửi tham gia cuộc vận động sáng tác và sưu tầm sử ca do Nhà văn hóa Thanh niên TPSG và Trung tâm Văn hóa TP.SG phối hợp tổ chức hồi tháng sáu vừa qua.

Theo tác giả Lê Minh, ông sáng tác ca khúc Về Đất Lam Sơn năm 1993 và phổ biến trong băng cassette Sử Ca Việt Nam do Trung tâm băng nhạc Quê Hương - quận 3, TP.SG- phát hành cùng năm, ca khúc này do ca sĩ Tô Thanh Phương trình bày.

Tuy nhiên, khi phát hiện tác phẩm của mình xuất hiện trong tập nhạc gồm các tác phẩm tham gia cuộc vận động sáng tác và sưu tầm sử ca mới đây, ông liên lạc với Vũ Hoàng và ông nhạc sĩ "đạo" này đã "khăng khăng cho rằng chính mình là tác giả ca khúc Về Đất Lam Sơn, với chứng cứ là một bản nhạc chép tay của Vũ Hoàng". Sau đó, ông Lê Minh và một người bạn đã đưa ra chứng cứ là băng cassette Sử Ca Việt Nam nói trên, ông Vũ Hoàng mới thừa nhận (bằng bản tường trình viết tay) mình đã sử dụng ca khúc của tác giả Lê Minh để gửi tham dự cuộc Vận động sáng tác sử ca.

Trao đổi với báo chí, ông Lê Minh cho biết hiện chỉ yêu cầu ban tổ chức và đơn vị phát hành sách đính chính tên ông trên ca khúc Về Đất Lam Sơn trong các bản sách còn trên kệ trong các nhà sách, "và trong lần tái bản cần in lại cho đúng", ông Minh nhấn mạnh.

Nhạc sĩ Phạm Đăng Khương - thành viên ban tổ chức cuộc vận động sưu tầm và sáng tác sử ca - cho biết ban tổ chức sẽ trao đổi với doanh nghiệp Thành Nghĩa để điều chỉnh lại sự việc này, bằng cách dán tên tác giả Lê Minh lên tên nhạc sĩ Vũ Hoàng trong các sách đã in, và sẽ in đúng tên tác giả trong lần tái bản.

Vũ Hoàng là một nhạc sĩ tên tuổi, đã phổ bài thơ Phượng Hồng, thơ của Đỗ Trung Quân mà giới trẻ rất yêu thích. Một nhạc sĩ cũng tạm cho là có tầm vóc như thế mà còn “đạo” nhạc của người khác thì cũng hết chỗ nói.

 

KẾT


Qua những nghi án vừa kể trên, tôi nghĩ việc tìm hiểu tác giả đích thực của một tác phẩm được nhiều người biết đến là một chuyện cần làm, đó là một việc làm của những “người lương thiện, người tử tế”, như học giả Hoàng Xuân Hãn, nhà văn Nguyễn Văn Xuân, giáo sư Nghiêm Toản, giáo sư Lê Hữu Mục đã làm, để làm sáng tỏ sự việc, chứ đâu phải là cố tình giết chết Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm, hay Hồ Chí Minh đâu.

Tôi nghĩ mình cũng nên công bằng trong mọi cái nhìn, nếu không rạch ròi, sáng tỏ, minh bạch, thì sau này con cháu chúng ta sẽ nối tiếp nghi ngờ.


 

TRẦN YÊN HÒA

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, November 4, 201012:00 AM(View: 10664)
Ý định tấn công các chùa chiền và ban hành thiết quân luật từ nửa đêm ngày 20/8 không được giữ bí mật hoàn toàn như người ta thường nghĩ. Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần đã cho nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ biết về Thiết quân luật trước nhiều giờ.( FRUS, 1961-1963, III:595n2) Một ký giả Mỹ cũng tự nhận được “mật báo” từ một viên chức nào đó tại Dinh Gia Long, nên đã tới chùa Xá Lợi trước khi xảy ra cuộc tấn công. Và, thực ra, từ hơn nửa tháng trước, đích thân ông Nhu đã răn đe trong cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Reuters là sẽ phá tan chùa Xá Lợi
Thursday, November 4, 201012:00 AM(View: 9947)
Biến cố gây xúc động nhất là cuộc tự thiêu của Thượng tọa Quảng Đức ở Sài Gòn ngày 11/6/1963. Có thể nói lần đầu tiên mới có một cuộc đấu tranh tinh xảo đến thế. Bởi vậy, Mỹ không ngừng áp lực Diệm phải giải quyết cuộc khủng hoảng. Do áp lực Mỹ, từ giữa tháng 5/1963, Diệm đã gặp lãnh tụ Phật Giáo để thảo luận về 5 đòi hỏi ngày 10/5. Tuy nhiên, chế độ chỉ muốn kéo dài thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc tranh đấu. Họ Ngô không muốn nhận trách nhiệm vì cho đó là nhược điểm.
Thursday, November 4, 201012:00 AM(View: 11407)
Trong cuốn Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, do nhà Văn Hóa xuất bản năm 1994 tại Houston, Texas, tôi đã dành một chương khá dài cho cuộc tranh đấu năm 1963 của Phật giáo miền Nam. Báo cáo của Phái đoàn điều tra LHQ tại Sài Gòn từ 24/10 tới thượng tuần tháng 9/1963. [United Nations, General Assembly, Official Records, Agenda Item 77, “The violation of Human rights in South Vietnam;” Doc. A/5630, 7/12/1963. [Sẽ dẫn UNGA Doc. A/5630]. Trong phần Phụ Bản có tài liệu 3 thứ tiếng Việt, Mỹ và Pháp do Việt Tấn Xã thực hiện...
Tuesday, November 2, 201012:00 AM(View: 30203)
Mặt khác, đối với anh em văn nghệ tại chỗ (nhất là những người không biết lý lịch của ông) thì ông lại tỏ ra mình là một ngự sử văn đàn, một nhà văn cách mạng chánh hiệu con nai vàng, vì thế ông phê phán người này, lên lớp người kia, lúc nào cũng đưa quan điểm lập trường chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân...ra làm thước đo, hù doạ mấy anh em nhà văn trẻ, nhà văn chế độ cũ đang được "lưu dung". Còn đối với các nhà văn nổi tiếng tài năng khác như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu... thì ông mạt sát họ bằng ngôn ngữ dao phay, mã tấu... Sau này, khi đã ngoài bảy mươi tuổi, ông vẫn chứng nào tật nấy, vẫn giở giọng chuyên chính ra truy đuổi những nhà văn tài năng đã được đưa vào Từ điển Văn học như Dương Nghiễm Mậu.
Tuesday, November 2, 201012:00 AM(View: 12844)
Trong sự “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” những ngày tháng cuối đời, triết gia Trần Đức Thảo có đưa ra được một ý tưởng sáng sủa về cái đẹp: “… ý thức trong lời kêu gọi chính nó đặt ra sự đòi hỏi… cái đẹp trong sự hoàn thiện những quá trình nghiệm sinh” (achèvement des processus vécus) (1). Trong khi có những tác giả, trong cơn tuyệt vọng, muốn nôn mửa trên bàn nhậu cũng như trên trang giấy, thì những nỗ lực của những nhà văn đưa cái đẹp vào nhằm “hoàn thiện những quá trình nghiệm sinh”, độc giả riêng tôi hết sức quí trọng. Cái đẹp “ở đâu cũng có, vấn đề là mình có nhìn thấy và biết chia sẻ hay không?” (Nguyễn Xuân Hoàng)