DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,343,281

Nguyễn Đạt - Căn nhà mộng mị

Sunday, July 12, 20207:30 AM(View: 208)
Nguyễn Đạt - Căn nhà mộng mị
                                                     Căn nhà mộng mị

15 ngôi nhà kì lạ, độc đáo và hiếm có nhất thế giới - Tạp chí Kiến ...

Bạn bè từng cho rằng, Đăng có những ngày tháng hoang vu thơ mộng tại Đà Lạt. “Tôi nào chọn để sống như vậy; hoàn cảnh nó đưa đẩy để tôi sống như vậy mà thôi.” Đăng nói thế, nhưng tôi cho rằng hoàn cảnh cũng do anh tạo ra. Hoàn cảnh gì bức bách đến nỗi anh đột ngột rời Sài Gòn lên Đà Lạt, trước ngày vào quân đội theo lệnh gọi nhập ngũ của Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Cái bị to xù của Đăng chỉ chứa hai bộ quần áo, hai cái áo ấm; thêm quyển sách duy nhất, Le Grand Meaulnes của Alain-Fournier. Trong ví ở túi quần có thẻ căn cước, thẻ sinh viên đã hết hạn từ lâu, và tờ giấy lệnh gọi nhập ngũ. Trong túi áo có cái ống vố hiệu Ropp, ai đó tặng anh đã quá lâu, anh không nhớ rõ. Và, dĩ nhiên trong túi áo hoặc túi quần, số tiền anh có không nhiều hơn một tờ giấy bạc năm trăm đồng.

Năm trăm đồng, nhuận bút được xem là cao, cho bài thơ đầu tiên của anh đăng trên tuần báo Nghệ Thuật, tờ báo văn nghệ uy tín số một ở Sài Gòn lúc đó. Vậy mà anh lại hỏi người đăng cho anh bài thơ và đề nghị trả nhuận bút cao như thế: Chỉ có năm trăm hả anh? Người ấy, nhà thơ / nhà văn Viên Linh hẳn nhiên rất bực. Viên Linh bảo anh chàng Đăng làm thơ hay thì hay thật, nhưng có vẻ khinh bạc. Anh nghe nhận xét đó, nói với một người bạn: “Tôi nào biết nhuận bút như thế là cao hay thấp; chỉ vì thấy số tiền không đủ để lên Đà Lạt sống ít ngày trước khi nhập ngũ, nên tôi mới hỏi ông anh như vậy.” Anh gọi nhà thơ / nhà văn tài hoa, và nhà làm báo văn nghệ số một ở Sài Gòn lúc ấy, Viên Linh, là Ông Anh Thi Sĩ. Tôi biết Đăng tôn quý ông anh thi sĩ Viên Linh rất mực. Với Đăng, thi sĩ là số một, là thượng tầng của cõi đời này.

*

Ở Đà Lạt dài lâu, nhưng tôi không biết những ngày tháng hoang vu thơ mộng của Đăng tại đây thế nào, như bạn bè của chúng tôi đã nói. Tôi chỉ thảng hoặc gặp anh; thường là gặp trong quán Cà-phê Tùng, cái quán chuyên nghiệp cà-phê lâu đời nhất ở Khu Hòa Bình, trung tâm của thành phố cao nguyên.

Đăng có lối phục sức ưa nhìn; nhiều bạn còn gọi anh là người theo chủ nghĩa hình thức. Có lần tôi ngắm cái áo thun trên người anh, cái cổ áo rất đẹp, nhớ mang máng, hoặc có thể tôi đã tưởng tượng, rất giống cái áo của Modigliani, nhà danh họa Ý đẹp trai và bụi đời. Anh liền kéo ngược cái áo khoác ngoài lên cao, để hở phần dưới của áo thun; nó đã thủng rách lỗ chỗ khắp cả, từng bị chuột cắn muốn nát hết rồi cũng nên. “Tôi vẫn mua đồ cũ ở chợ Đà Lạt; cái áo thun mặc ở trong thì chỉ cần mỗi chỗ cổ áo còn nguyên vẹn là được,” anh nói.

Tôi hỏi thăm chỗ Đăng ở, anh bảo chỉ cần một chỗ ngủ trong đêm, bất kể chỗ nào. Anh thường ghé nhà một người bạn, Nguyễn Quang Huy, người bạn có tâm hồn trong sạch nhất trần gian, anh nói vậy. Mỗi lần vào nhà Huy, anh tìm lối trèo lên căn gác gỗ, ngủ tại đó tới mờ sáng lại tìm lối xuống; cả nhà Huy không ai biết vụ việc thường ngày diễn ra cả tháng như vậy, dĩ nhiên trừ Huy.

Một lần gặp sau, Đăng cho biết đang trú ngụ trong căn nhà tồi tàn rách nát có một không hai tại thành phố, phía sau chùa Linh Sơn, phía trên thung lũng trồng rau của nông dân Đà Lạt.

“Anh thuê trọ ở đấy hả?”
“Tôi cũng có ý đó, nhưng người cho tôi trú ngụ bảo tôi không cần phải thắc mắc cái chuyện nhỏ nhặt ấy. Khi nào kẹt chỗ ngủ thì vào căn nhà này mà ngủ. Cứ như vậy, tôi tới căn nhà này như căn nhà của mình. Ở căn nhà tồi tàn rách nát nhất thành phố mà tôi thấy vô cùng thoải mái; thấy có vẻ một nơi chốn huyền ảo, hoang đường nữa là đằng khác. Một nơi chốn như trong Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Gọi nó là căn nhà mộng mị cũng được, như chính chủ nhân căn nhà này gọi vậy.”

Tôi đã gặp nữ chủ nhân căn nhà này, tại quán cà-phê Tùng. Chị ấy có lẽ còn trẻ hơn tôi năm, bảy tuổi, nhỏ hơn Đăng cũng chừng bấy nhiêu. Tôi quen gọi là chị tất cả phụ nữ tuổi tác như vậy; hoặc nhiều hơn hay kém hơn cũng thế. Chị hỏi tôi lâu nay có gặp anh không.
“Thế anh ấy không về căn nhà ở thung lũng trồng rau cải bắp, phía sau chùa Linh Sơn?”

Chị lắc đầu nhẹ, lắc đầu liên tục; tóc xoay cũng nhẹ theo liên tục, phủ lòa xòa trước mặt. Khuôn mặt đẹp, sắc sảo và hơi lạnh lùng; nói vắn tắt là khuôn mặt sắc lạnh, và như vậy tôi thấy càng khêu gợi nhục cảm. Tôi dù ngạc nhiên nhưng không hỏi, sao chị biết tôi quen Đăng? Chị ghé cà-phê Tùng có lẽ chỉ để hỏi tin tức về Đăng, rồi rời quán ngay sau đó. Nghe chị hỏi vài tiếng ngắn gọn, tôi không thể nhận biết chị là người vùng miền nào qua giọng nói. Có lẽ chị là người xứ Huế, tôi có cảm giác như vậy.

*

Tôi gặp lại Đăng sau cái vụ gọi là tổng-tiến-công-và-nổi-dậy của Việt Cộng tại thành phố Đà Lạt.
“Tôi chả biết cô ấy có cảm xúc gì không. Tôi hôn cô ấy hai lần, cả hai lần cô ấy chỉ im lặng. Vậy thôi. Căn nhà như thể bỏ hoang, nếu căn cứ vào những đồ vật chẳng đáng kể gì trong đó. Có cái giường sắt kiểu nhà binh, hay nó đúng là giường sắt nhà binh; nệm đã cũ rách, tuy nhiên sạch sẽ.”

“Cái giường sắt nhà binh là loại gường đơn, hai người ngủ chung trên cái giường ấy?”

“Chả ngủ chung ngủ chạ gì hết. Lúc nào về căn nhà để ngủ, tôi cũng thấy cô ấy ngồi trên cái ghế đẩu duy nhất, cặm cụi viết lách gì đấy trong cuốn sổ dày cui, khổ nhỏ. Cuốn sổ mở đặt trên một bên đùi, nghĩa là để hở nguyên một bên đùi, cô ấy cúi đầu xuống viết và viết. Thỉnh thoảng cô ấy ngước đầu lên, suy nghĩ, rồi lại cúi đầu xuống viết tiếp. Cứ như vậy, có lẽ suốt đêm. Nhìn dáng cô ấy, với hai chân để song song, đầu cúi tóc xõa, tôi thấy rất đẹp, muốn vẽ bức tranh như vậy. Nhưng lúc ấy tôi chả có giấy bút để vẽ. Cô ấy bảo tôi buồn ngủ cứ đi ngủ, cái giường vẫn chỉ để không mà thôi. Tôi vốn dĩ ít ngủ, nằm xuống giường đọc mãi hoài quyển sách duy nhất tôi luôn mang đi theo bất cứ nơi nào. Có lẽ cô ấy từng đọc Le Grand Meaulnes rồi, nghĩa là cô ấy có học thức, đọc được cả Pháp ngữ. Tôi hỏi cô ấy đọc quyển truyện này chưa, cô ấy gật đầu, bảo: bây giờ tôi hết thời để ưa thích cuốn truyện này nữa.”

“Bạn biết được gì nhiều hơn, sau thời gian ở chung với chị ấy?”

“Tôi nhớ câu nói của cô ấy, khi bằng lòng cho tôi vào ở chung trong căn nhà: chấp nhận người khác vào ở chung nhà, không phải là để người khác soi mói công việc riêng tư của mình. Nên tôi phải tôn trọng việc riêng của cô ấy, không vi phạm điều lệ mặc nhiên đó. Có lúc tôi hỏi tên cô ấy, cô ấy hỏi lại tôi: có quan trọng lắm không, khi anh biết tên tôi?”
Tôi đành im lặng.
“Bạn có khi nào nghĩ chị ấy là Việt Cộng?”
“Có chứ. Biết cô ấy là Việt Cộng thứ thiệt từ khuya rồi.”

*

Đấy cũng là lần cuối cùng tôi gặp Đăng tại Đà Lạt. Sau đó một thời gian, tôi biết tin tức về anh qua người bạn từ Huế vào thành phố cao nguyên. Người bạn cho biết, Đăng thuộc diện bất phục tùng lệnh gọi nhập ngũ khóa 2/69 của Trường Bộ Binh Thủ Đức, bị bắt rồi đưa ra Vùng Một Chiến Thuật. Sau đó Đăng tình nguyện gia nhập một thứ lính thuộc dạng biệt kích ngoài đó, là Đại Đội Hắc Báo. Người bạn lắc đầu:
“Ông có biết chuyện gì đã xảy ra với Đăng không? Anh chàng trở thành kẻ liều lĩnh vì thất tình, chứ tình nguyện đi thứ lính dữ dằn như Đại Đội Hắc Báo chỉ dành cho kẻ chán đời, không còn sợ chết mà thôi. Tôi từng nghe anh chàng kể câu chuyện tình của mình, xảy ra trong căn nhà mộng mị tại Đà Lạt.”

“Tôi có gặp cô ta, cũng như từng biết căn nhà mộng mị ấy. Nhưng tôi nghĩ anh ta không thất tình vì yêu chủ nhân căn nhà ấy đâu.”
“Chính Đăng kể tôi nghe, cô ấy đã yêu một người bạn của Đăng, là tác giả của cuốn nhật ký có tên là Nhật Ký Người Chứng ấy mà.”

Tôi giật mình, tác giả Nhật Ký Người Chứng cũng là bạn của tôi, Thái Lãng. Và tôi nhớ lại, sau ngày Ba Mươi tháng Tư đen, nữ chủ nhân căn nhà mộng mị trở thành cán bộ, phụ trách cái gọi là ủy ban mặt trận tổ quốc tại thành phố Đà Lạt; Thái Lãng đại diện giới văn nghệ sĩ của Đà Lạt, ra Hà Nội họp đại hội trung ương gì đó.

Đăng bây giờ ở đâu, tôi không biết. Cô gái Việt Cộng, chủ nhân căn nhà mộng mị hẳn nhiên đã nghỉ hưu nếu còn tại thế, và Thái Lãng đã qua đời tại Hoa Kỳ từ mấy năm rồi. Tất cả đều biến mất cùng căn nhà mộng mị trên thung lũng cải bắp, phía sau chùa Linh Sơn – Đà Lạt.


                                                                   Nguyễn Đạt

                                                                                      *
                           Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, August 5, 202011:13 AM(View: 86)
Anh nói, Chỉ có em dại mới yêu anh, anh vừa già, vừa nghèo! Tôi ngẫm nghĩ, chẳng hiểu anh có nghèo thật không ? Tôi đoán chừng anh không nghèo lắm đâu
Sunday, August 2, 20208:06 AM(View: 124)
Đêm qua tôi nằm ngủ ở Mỹ để mà nghe Huế mưa. Huế rơi từng sợi sương, Huế rớt từng sợi tơ vương, Huế rụng từng sợi chỉ ướt trước khi mưa đổ nước đầy sông Hương.
Friday, July 31, 202010:41 AM(View: 150)
Mười một giờ đêm, khách đã bắt đầu lục đục ra về, anh và em đã bắt đầu ngáp vặt, (chúng mình thân nhau quá mà, điều này đâu còn phải là cái để gọi là “xúc phạm” nhau như hồi mới quen cách đây hai năm!).
Wednesday, July 29, 20207:32 PM(View: 171)
Những lùm cây cao xé rách ánh nắng. Nhủ̃ng luồng gió lộng cắt giảm cỏn nóng chói mắt đi ngang phủỏng trỏ̀i Mỹ. Gió bão tủ̀ Đông Âu tấp vào Hoa Kỳ tuần trủỏ́c đã kiệt sức, nay chỉ còn thoi thóp thổi.
Tuesday, July 28, 20208:37 AM(View: 148)
Quân dội Pháp âm thầm rút lui khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, và Nam định lúc nào và bất ngờ, người dân không hay biết, khi biết được thì chỉ còn lại doanh trại chống rỗng, hoang phế,