DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,804

Đào Hiếu - Vòng Tay Người Khác (Chương 10, hết)

Tuesday, July 30, 201911:52 AM(View: 242)
Đào Hiếu - Vòng Tay Người Khác (Chương 10, hết)

Vòng Tay Người Khác


Image result for vòng tay người khác của đào hiếu


10.


Buổi diễn cuối cùng ở thị trấn, trời tạnh ráo. Người đến xem rất đông nên không khí hào hứng. Khi chàng nhạc sĩ nói lời từ giã thì đám đông lặng im. Một em bé chạy đến ôm lấy chân anh, anh bế nó lên, lấy tay lau nước mắt cho nó rồi vẫy tay chào.

Khi chiếc xe ngựa lăn bánh đi rồi mọi người vẫn còn đứng nhìn theo cho đến khi nó khuất mất sau rặng cây dưới dốc.

Những người trên xe ngồi lặng thinh. Buổi trưa yên tĩnh, nắng đục, không khí se se lạnh, mây trắng bàng bạc khắp nơi, con chim hót trong núi nghe buồn bã, cô quạnh. Tiếng hót bay lên thinh không, vang tận những đám mây. Tiếng vó ngựa cứ lóc cóc lóc cóc gõ trên đường đất đỏ một nhịp đều đặn ngái ngủ. Có ai đó cất tiếng hát một bài lữ hành theo nhịp chạy của vó ngựa. Người đàn ông mở mắt quan sát cảnh vật chung quanh.

Chiếc xe ngựa dừng lại. Mọi người nhảy xuống xe. Người đàn ông bắt tay các bạn trẻ của mình và nói:

- Tạm biệt.

- Tạm biệt anh. Chúng ta sẽ gặp lại.

- Cám ơn các bạn, người đàn ông nói, chúc các bạn lên đường may mắn.

- Chúc anh may mắn.

Người đàn ông rẽ theo lối mòn đi khuất vào những rẫy bắp. Tiếng vó ngựa lại gõ lóc cóc trên đường.

Ông đến vườn cà phê của Huệ lúc giữa trưa và ăn bữa cơm đầu tiên ở đó với người gác vườn già. Ông lão cũng đã chuẩn bị xong dụng cụ. Ngày hôm sau hai người tiến hành đào lỗ để trồng các cây che đất (plantes de couverture) cho mùa nắng tới và cứ cách ba hàng cà phê lại trồng một hàng vông không gai để che bóng mát cho cà phê.

Buổi trưa Huệ thường đem trái cây và đường đến biếu hai người khi họ ăn cơm trong túp lều tranh ở góc vườn. Chị ngồi xới cơm cho họ ăn, có khi chị cùng ăn với họ. Người đàn ông rất ít nói chuyện, ông ta chỉ nói khi nào thật cần thiết, và thường câu trả lời của ông cũng chỉ vỏn vẹn vài ba tiếng. Ông ta như một con thú cô độc, khép kín và im lặng. Cái tên Trần Cung chỉ được biết đến sau một tuần ông đến ở đây. Ngoài cái tên ra, ông không nói gì thêm về mình. Ông ta chỉ làm việc, làm việc và làm việc. Buổi sáng ông ta dậy rất sớm, xách nước tưới hoa, nhóm bếp nấu ấm trà rồi cùng ông già ra vườn cà phê. Ông làm việc liên tục đến giữa trưa, nghỉ một lát để ăn cơm rồi lại làm việc đến chiều.

Buổi tối là lúc ông sống đơn độc nhất. Có lúc ông ngồi một mình uống trà bên bếp lửa, có lúc bỏ đi mất dạng trong cây lá đến khuya mới về. Con chó đã quen hơi ông, mỗi lần ông về, nó chồm lên mừng rỡ và Huệ ngủ trong phòng riêng vẫn có thể biết được lúc nào Trần Cung trở về. Chị nhìn qua khe cửa thấy cái bóng ông đi qua khoảng vườn nhỏ sau nhà. Nhiều lúc ông dừng chân có vẻ như chờ đợi nhưng rồi bỏ đi rất nhanh. Huệ không sợ ông, nhưng chị thương xót. Cái vẻ lầm lũi câm lặng và cam chịu ấy gợi lên điều gì bất hạnh, u uất. Nhiều lần chị muốn đẩy cánh cửa sổ gọi ông và hỏi ông đôi điều nhưng có một nỗi ngại ngùng nào đó đã ngăn trở chị.

Một đêm Huệ thức giấc lúc gần hai giờ sáng. Trăng sáng quá làm chị tỉnh ngủ hẳn. Chị ngồi dậy, bước ra ngoài sân nhìn về phía góc vườn thấy trong lều có ánh lửa liền theo lối mòn đi ra. Lão gác vườn đã ngủ say, tiếng lão ngáy đều đặn nhưng Trần Cung thì vẫn ngồi đó, bên ngọn đèn dầu.

Huệ hắng giọng để ông khỏi bất ngờ, Trần Cung nhìn ra thấy bà chủ, vội bước ra khỏi lều.

- Ông không ngủ được à? Huệ hỏi.

- Không.

- Sao suốt ngày ông không nói tiếng nào? Người ta bảo ông từ đoàn hát rong tới đây, phải không?

- Phải.

- Ông làm xiếc phải không?

- Phải.

Huệ nói:

- Không phải. Không phải ông làm xiếc, mà ông vẽ. Trước đây ông là một họa sĩ phải không?

- Không. Tôi chỉ là người thợ cắt chân dung bằng giấy thủ công trong Sở Thú.

- Tôi không tin, Huệ nói gần như giận dỗi. Tại sao ông lại giấu mình như thế? Tại sao khuôn mặt ông lại bị tàn phá như thế?

- Tôi bị đậu mùa.

- Tôi không tin. Vì chính tôi đã nhìn thấy một điều gì đó trong mắt ông ngay từ lần đầu tiên ông đến đây xin việc. Hãy nói đi. Ông là ai vậy?

Người đàn ông lặng thinh, chậm chạp rót nước trà đậm vào cái tách bằng đất nung và đưa cho Huệ. Huệ không cầm tách trà mà nhìn chăm vào bàn tay của Trần Cung. Chị hỏi:

- Bàn tay của ông, sao tôi thấy quen thuộc quá. Hãy nói đi.

Đột nhiên Huệ nắm lấy bàn tay người đàn ông.

- Hãy nói đi, Huệ van xin. Hãy nói với em đi! Chẳng lẽ giữa ông và em không từng có mối liên hệ nào sao?

Lúc ấy người lính già thức dậy, ông trở mình, ho lên một tiếng và hỏi:

- Ai đấy?

Huệ buông tay người đàn ông ra, bước tới cửa lều:

- Tôi đây. Tôi thấy có ánh lửa, sợ bác quên tắt bếp nên ra thăm chừng.

Lão già nói lầm bầm gì đó mấy tiếng rồi ngủ tiếp. Trần Cung nói:

- Bà trở vào đi. Bà lầm rồi đấy. Chúng ta không hề quen nhau bao giờ.

Huệ nhìn trân trối vào mặt người đàn ông. Ánh trăng làm cho khuôn mặt chị sáng lên vẻ dịu dàng giữa khuya. Trần Cung không dám nhìn thẳng vào khuôn mặt ấy, ông quay đi nhưng Huệ đã gọi:

- Khoan đã? Hãy nói đi! Ông đến đây với mục đích gì?

- Làm thuê.

- Không phải. Một đứa trẻ con cũng biết rằng không phải như thế.

Người đàn ông quay lại, ngồi xuống một gốc cây ngay dưới chân Huệ. Tán lá ở trên cao in bóng xuống mặt đất lốm đốm sáng. Ông nói:

- Bà có thể không tin tôi đến đây để làm thuê. Nhưng xin bà hãy tin rằng tôi không có mục đích xấu.

Huệ nhìn đăm đăm vào mặt người đàn ông, tự nhiên chị thấy khuôn mặt ấy xa lạ và một nỗi sợ hãi xâm chiếm chị. Huệ cảm thấy như mình đang ở trong một giấc mơ và cái con người đang ngồi trước mặt mình chỉ là ảo giác. Dường như người đàn ông cũng cảm nhận được tâm trạng đó. Ông cúi mặt xuống, nói:

- Bà vào đi. Xin lỗi đã làm bà sợ.

Rồi ông đứng lên, lững thững đi vô lều. Ánh đèn tắt phụt, căn lều tối om. Huệ hoảng hốt lùi lại. Rồi quay đầu chạy vào nhà.

°

Ngày hôm sau người đàn ông trồng một luống hoa lài ở ngay bên dưới cửa sổ của Huệ. Huệ không hề bảo ông ta làm điều đó nhưng chị không phản đối, chị đứng tựa cửa sổ nhìn ông ta làm việc.

- Ông lấy giống ở đâu vậy?

- Bên bờ suối.

- Sao ông không hỏi ý kiến tôi?

Trần Cung ngừng tay, ngẩng lên, nói:

- Nếu bà không thích thì tôi sẽ nhổ đi.

- Nhưng sao ông biết rằng tôi rất thích hoa lài?

- Tôi thấy bà thường để những vòng hoa lài trên gối khi đi ngủ.

- Đó là thói quen của tôi ngày trước. Sao ông biết được?

- Tôi hay tưởng tượng như thế. Có khi không đúng.

Ông ta nói xong, cầm lấy cái cuốc chim và bỏ đi.

- Anh Duy! Huệ gọi một cách thảng thốt.

- Con gọi ai thế?

Bà mẹ vừa đến và ngạc nhiên nhìn vẻ mặt của cô con gái. Bà lại hỏi:

- Ông ta làm gì vậy?

- Con nhờ ông ta trồng một ít hoa lài.

- Công việc của ông ta sắp xong chưa?

- Độ một tuần nữa. Ông ta sắp đi rồi đấy má ạ.

Bà cụ đốt thuốc lá hút rồi nói:

- Huệ à, hôm qua má đi chợ thấy tụi hát rong nó trở lại. Lần này có thêm một con khỉ nhỏ và một con vẹt biết nói.

Huệ không nghĩ đến đoàn hát rong nhưng trong đầu chị vang lên một câu nói: ông ấy sắp đi rồi, sắp đi rồi.

°

Chiếc xe ngựa chạy thong thả trên con đường đất. Thực ra đó chỉ là một lối mòn nhỏ chạy ngoằn ngoèo giữa hai bờ cây chồi rậm rạp như duối, chim chim, ngâu. Phía bên kia là những vườn cà phê mênh mông trải dài đến những cánh rừng thưa sẫm màu hơn. Con đường nhỏ lẩn khuất trong cây lá và trong sự tĩnh mịch thiêng liêng của buổi trưa se lạnh. Con chim bìm bịp kêu trong khóm tre già, tiếng nó khàn khàn như tiếng mụ phù thủy trong chuyện cổ tích, nhưng nó chỉ rúc lên một hồi rồi im bặt, vó ngựa lại lóc cóc khua trong gió rì rào rì rào. Huệ buông lỏng dây cương. Lối mòn cứ chạy lăng quăng phía trước đầu ngựa, lúc lẫn khuất trong chòm cây lúc lại hiện ra dưới nắng, cái màu đỏ quạch của nó ửng lên giữa cây lá tình tứ.

- Hây, hây!

Con ngựa lồng lên, chạy nước kiệu lớn, xe xóc làm rơi vòng hoa lài trên đầu chị xuống đường nhưng chị không hay biết. Mái tóc dày như rừng của chị bay lất phất. Huệ chồm người lên, quất ngựa bằng nhánh lá ngâu. Những chiếc lá nhỏ dày và láng rụng lả tả xuống đường.

Một nỗi vui tràn trề chợt đến. Dường như nó tỏa xuống từ những đám mây bàng bạc trên đầu hay từ tiếng chim hót ngoài bìa rừng vọng lại?

- Hây, hây!

Ngựa đột nhiên chạy chậm lại. Một người đàn ông ăn mặc nâu sòng đứng bên lề đường đưa tay chặn nó lại.

- Rú, rú, rú!

Con ngựa dừng lại.

- Chào bố già. Huệ buông dây cương, nhìn Trần Cung.

- Chào bà chủ. Đoàn hát rong có gì lạ không?

- Họ đợi bố đấy. Sao bố chưa đi?

Trần Cung nhảy phóc lên, ngồi cạnh Huệ và dành lấy dây cương:

- Bà muốn tôi đi lắm hả!

- Ừ, ông xong hợp đồng rồi mà.

- Thế thì tôi sẽ đi ngay chiều nay.

- Sao ông không đi ngay bây giờ đi?

- Vì tôi còn để ở nhà bà một cái túi vải. Ừ mà bà đã thanh toán tiền cho tôi hết chưa?

Huệ ngửa mặt, nhìn mây nhìn trời, nói một cách hờ hững:

- Xin lỗi, tôi quên mất điều đó.

Trần Cung bỗng chồm lên, giựt mạnh dây cương.

- Hây, hây!

Ông phát mạnh một cái vào mông con ngựa làm nó giật mình phóng tới, chạy như gió cuốn. Ông bật lên cười ha hả, mái tóc dài của ông bay rối loạn trong gió, cả vạt áo nâu sồng cũng bay dạt đi trong nắng trưa quáng mắt. Chiếc xe nghiêng ngả, hai cái bánh gỗ nghiến trên đường đất rào rào. Huệ níu chặt lấy thành xe nhưng cố chịu đựng.

- Ông điên, hả?

- Không. Tôi chỉ nóng lòng muốn ra đi.

- Ông đi ngay bây giờ à?

- Bà muốn như thế mà.

- Ông không biết hôm nay là ngày gì à?

- Ngày gì?

- Ngày mười chín tháng bảy.

Trần Cung lại chồm tới phát vào mông con vật, hỏi một cách lơ đãng:

- Đó là ngày gì vậy?

- Ông không nhớ là ngày gì à?

- Không.

Huệ giựt lấy dây cương trong tay người đàn ông, kìm con ngựa lại. Xe giảm tốc độ và đứng lại giữa đường.

- Tại sao? Trần Cung hỏi:

- Ông không biết ngày mười chín tháng bảy là ngày gì à?

- Chắc đó là ngày cưới của bà?

- Gần như thế. Ngày xưa tôi có yêu một người họa sĩ và đó là ngày chúng tôi hôn nhau lần đầu tiên. Ngày đó tôi không thể nào quên được.

Trần Cung đốt thuốc lá, ông nhìn rừng cây và lơ đãng nhả khói. Huệ đột ngột nhảy xuống xe, bỏ chạy. Ông cũng nhảy xuống đất, chạy theo. Huệ đã đến nơi mé rừng và biến mất trong những đám lá.

Khi người đàn ông chạy đến nơi thì thấy Huệ đang gục đầu vào một thân cây. Chị khóc nức nở. Trần Cung đứng lặng im bên cạnh, không nói một lời.

Huệ chợt ngẩng mặt lên, lau nước mắt và nói:

- Tại sao tôi lại nói chuyện đó với ông? Tôi thật là lố bịch. Xin lỗi đã làm một trò hề trước mặt ông.

- Bà không có lỗi gì cả. Trần Cung nói. Chính tôi là người có lỗi. Nhưng tôi sẽ lầm lỗi hơn nếu tôi tìm cách ở lại đây. Tôi là một người tàn tật. Tôi biết rằng tôi đang gợi cho bà nhớ một điều gì đó của quá khứ, tôi không biết đó là điều gì nhưng chắc chắn nó làm cho bà đau khổ. Tôi sợ phải làm cho bà đau khổ thêm nữa. Có lẽ bà nên quên đi quá khứ, cũng như tôi, tôi sẽ cố quên đi quá khứ của mình.

- Quá khứ của ông như thế nào?

Trần Cung quay lại nắm lấy tay Huệ:

- Bà hãy nhìn vào mặt tôi đi. Tôi không còn là tôi nữa. Một người chồng ghen đã rạch nát nó bằng một mảnh vỡ của chai bia. Bà hãy nhìn đi. Quá khứ của tôi như thế đó.

Huệ kêu lên một tiếng thảng thốt và ngã vào lòng người đàn ông. Ông ôm lấy chị, mà không dám hôn. Chị cũng ôm lấy ông, dụi mặt vào ngực ông, nước mắt ràn rụa. Và cũng giống hệt ngày trước, chị kêu lên như con thú bị thương, cắn lấy ngực ông, mắt nhắm nghiền lại.

Ở ngoài đường, con ngựa hí vang lên, nện vó xuống mặt đường lóc cóc. Ông dụi mặt mình vào mớ tóc dày như rừng của người đàn bà và tìm lại được mùi cỏ dại ngày xưa.

- Huệ ơi. Anh yêu em lắm. Anh không thể nào quên em được. Anh đi tìm em khắp nơi chỉ để được nhìn thấy em trong khoảnh khắc. Nhưng giờ thì anh phải đi.

- Anh dỗi em, hả?

- Không.

- Thế thì tại sao anh phải đi?

Tiếng ngựa lại hí vang. Người đàn ông nói:

- Vì anh ở lại chỉ làm khổ em thêm mà thôi.

Ông cúi xuống bế Huệ lên, len qua những đám lá đi ra chỗ xe đậu. Huệ ôm lấy cổ ông.

Khi hai người đã ngồi trên xe rồi, Huệ nói:

- Anh bảo rằng anh ở lại chỉ làm khổ em thêm, nhưng nếu anh bỏ đi thì em sẽ còn khổ hơn gấp trăm lần. Anh có hiểu điều đó không?

- Em tưởng rằng anh không khổ sao? Anh đã đi lang thang tìm em khắp nơi, như một thằng ăn mày, nhưng đó là vì anh nhớ em, nhớ day dứt, điên cuồng mà phải đi tìm chứ thực ra anh đã nghĩ kỹ rồi Huệ à. Chúng ta không thể sống đời với nhau được đâu.

- Tại sao không, Huệ nói một cách sôi nổi. Em muốn đi theo anh. Duy ơi em muốn được mãi mãi ở bên anh. Có phải đoàn hát rong thường nghỉ đêm ở trên đồi cỏ không?

- Ừ, ở đó.

- Vậy thì tối nay anh đợi em ở đó nhé. Em sẽ đến. Tại sao suốt đời em lại phải chịu giam mình trong xó rừng nầy? Tại sao em lại không thể sống cuộc đời giang hồ với người em yêu? Anh hãy trả lời đi!

Ngựa chạy chậm. Trần Cung buông lỏng dây cương, cúi mặt.

- Em thực sự muốn đi cùng anh sao?

- Thực mà. Huệ níu lấy vai áo Trần Cung. Tối nay anh đợi em trên đồi cỏ nhé?

Người đàn ông ôm Huệ vào lòng. Vó ngựa cứ gõ lóc cóc, chậm rãi, đều đặn trên con đường đất. Mặt trời đã chếch về phía tây, bóng hai người đổ dài xuống vạt cỏ, bóng con ngựa cũng đổ dài xuống vạt cỏ. Ngoài xa, chung quanh, tất cả đều im lặng. Chỉ có tiếng vó ngựa lóc cóc.

Giá như tiếng lóc cóc này cứ ngân mãi đến một ngàn năm.

°

Buổi tối tạnh ráo và đầy sao. Đoàn hát rong không nhóm lửa nhưng ánh sao cũng làm cho mặt đất và bầu trời sáng lên. Người nhạc sĩ ngồi hát một mình, những người khác thì im lặng. Thung lũng phía dưới lác đác ánh đèn. Những ánh đèn sáng, nhấp nháy như những đôi mắt nhìn vào đêm. Đôi mắt nào là của người đã một đời yêu ta? Trần Cung ngồi bó gối. Tiếng hát trầm ru đồng đội, tiếng hát ve vuốt, an ủi, đầm ấm. Con khỉ nhỏ ngồi trong lòng người đàn ông, nó cũng im lặng nhìn trời cao và lắng nghe. Chỉ có con vẹt đang ngủ trong lều vải là có vẻ bứt rứt. Cứ một lát nó lại day trở và kêu lên:

- Ai đó? Ai đó?

Con ngựa cũng day trở, nó thở phì phì, tiếng lục lạc rung lên trong tĩnh mịch. Trần Cung ngước nhìn bầu trời. Vì sao Véga ở đâu? Đó là vì sao sáng nhất của bầu trời sao ta không tìm thấy?

°

Lúc xế chiều Huệ đã sắp sẵn mọi thứ trong một chiếc xách tay nhỏ. Trong bữa ăn chị nói chuyện với má rất vui vẻ. Bà đã có rượu uống nên không có gì để phàn nàn. Người lính già cũng uống rượu, ông càng uống càng lầm lì, càng khắc khổ. Huệ rủ má:

- Đi dạo với con một lát.

- Không. Má buồn ngủ lắm.

- Má không chờ nghe cải lương sao?

- Không. Hôm nay má uống nhiều quá. Má đi ngủ đây.

Huệ đưa má về phòng, ngồi quạt cho bà giây lát. Bà ngủ rất nhanh, ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Chị nghĩ, cuộc đời nó xoay vần như một bánh xe luân hồi. Ngày xưa mẹ đã từng ngồi quạt cho mình ngủ, còn bây giờ đến phiên mình, rồi mai mốt lại con cái mình… Huệ thấy yêu mẹ hơn bao giờ hết nhưng trước phút chia ly, tuyệt nhiên chị không hề luyến tiếc. Lòng chị thanh thản, nhẹ nhõm và vui sướng, giống như một kẻ ly hương đã lâu bây giờ có dịp trở lại quê nhà. Có một lúc Huệ chợt nghĩ đến lũ con đang đi học trên thành phố nhưng lòng tự bảo: rồi ta sẽ có dịp trở về thăm con. Ta đi nhưng lòng ta vẫn nhớ đến con.

Huệ dứt khoát đứng dậy, cầm lấy cái xách tay.

Con chó berger theo tiễn chị.

Nhưng khi đến cổng rào, nó vụt chạy, và sủa vang lên. Lúc ấy Huệ nghe có tiếng máy xe và ánh đèn pha chiếu xuyên qua kẽ lá trong vườn. Con chó kêu lên mừng rỡ.

Chiếc xe Jeep dừng lại ngay cổng và một rừng tiếng reo dậy lên:

- Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Cả ba đứa bé đều nhảy xuống xe, vây lấy mẹ. Huệ bế đứa nhỏ nhất lên, ôm siết con vào lòng. Cô bé hôn như mưa lên cổ lên mặt mẹ và thỏ thẻ:

- Mẹ ơi, con yêu mẹ nhất đời.

Huệ bị vây kín bởi những vòng tay thơ dại. Huệ bị chìm đắm giữa một ngàn nụ hôn và những lời thỏ thẻ âu yếm.

- Con nhớ mẹ lắm.

- Mẹ cũng nhớ các con lắm. Các con vào chào ngoại đi.

Đàn trẻ ríu rít, níu tay mẹ chạy, con chó cũng chạy theo, kêu lên mừng rỡ. Huệ vừa chạy với con vừa nghĩ: thôi, thế là hết. Duy ơi, xin anh tha lỗi cho em. Chị hình dung ra cái dáng ngồi âm thầm của Duy mà không ngăn được giọt nước mắt, nhưng chị quệt nó đi, cố thoát ra khỏi tâm trạng ảm đạm ấy. Chị gọi to:

- Thúy ơi, lại đây con.

Và chị bế lấy đứa bé gái nhỏ nhất. Chị ủ con vào ngực mình chạy theo lũ nhỏ. Chị cảm thấy hơi ấm dịu dàng của thân thể con truyền vào ngực mình và cái mùi thơm thơ dại của đôi má bầu bĩnh.

Bà ngoại cũng chạy ra đón các cháu. Niềm vui như cái pháo bông nở xòe trong căn phòng rộng.

Người chồng ôm một đống quà bước vào phòng. Ông xếp các thứ trên bàn, thắp lên mấy ngọn nến.

- Con mua tặng má chiếc khăn len này. Hàng của Thái đấy má ạ. Còn đây là quà của em.

Đó là chiếc áo ngủ màu hồng nhạt mỏng tang. Huệ cầm nó trong tay và nói cám ơn. Chị phụ với chồng dọn các thức ăn, bánh ngọt và trái cây lên bàn. Bà má hỏi:

- Hôm nay là ngày gì vậy?

Dũng nói:

- Trong dịp Hè con chở các cháu về đây chơi ít lâu. Thôi, mời vào bàn đi. Các con ngồi đây, ngồi yên nhé.

Tụi nhỏ nhao lên:

- Con thích ngồi với mẹ.

- Con cũng thế.

Huệ ôm lấy các con, rưng rưng nước mắt.

°

Chiếc xe độc mã lại lóc cóc khua trên con đường đất chạy qua những vườn cây. Lũ trẻ nhỏ ngồi sau xe hát líu lo, đứa nào cũng cầm những bó hoa dại. Cứ mỗi lần gặp một đám hoa mọc bên đường là chúng bảo mẹ ngừng lại để hái. Chúng lội trong cỏ, đi lăng quăng như những con thỏ con, nô giỡn nhau, tiếng cười trong như nắng. Những bó hoa dại đủ màu rực rỡ. Huệ thì vẫn ngồi trên xe ngẩn ngơ nhìn rừng cây. Thiên nhiên im lặng, hình như nó không chú ý tới chị, hình như nó cũng đang nhìn ngắm đàn trẻ nhỏ và đang mỉm cười với chúng. Trời đất, nắng và cây cỏ đang vui nên không chú ý đến nỗi buồn thầm lặng của người đàn bà.

Huệ bế con lên xe và ra roi cho ngựa chạy. Lũ nhỏ chọn những cánh hoa đẹp nhất cài trên tóc mẹ, trên áo mẹ. Rồi chúng ngắm nghía, chúng vuốt ve chị.

- Mẹ ơi! Mẹ là bà tiên.

Huệ bế các con để ngồi hai bên mình và cho ngựa đi nhanh hơn một tí. Chiếc xe vòng qua một khúc quanh lớn, bọc theo các nương rẫy thì đến một khu rừng chồi ngập nắng. Bông trang nở đỏ rực khắp nơi và từng đàn bướm trắng, vàng, sặc sỡ bay rợp trời. Bọn trẻ đứng cả dậy reo lên:

- Bướm! Bướm! Ôi bướm nhiều quá!

Huệ lại cho xe dừng lại.

- Bắt bướm cho con đi mẹ.

- Không bắt được đâu con ạ.

- Sao lại không bắt được hả, mẹ?

- Vì mình không có cái vợt.

- Hồi nào mẹ làm cho con cái vợt nhé.

- Ừ, nếu con ngoan thì mẹ sẽ làm cho con.

Huệ giựt cương cho xe tiếp tục lăn bánh, nhưng bọn nhỏ lại reo lên:

- Ô kìa, có trái gì kia, mẹ ơi.

- Đó là trái lồng đèn đó. Không ăn được đâu.

Một con chim chào mào nghe động, từ trong bụi lồng đèn bay vụt lên, lũ nhỏ lại reo hò thích thú.

Huệ cho xe chạy vòng qua đồi cỏ, theo đường trôn ốc đi dần lên cao. Chị kìm ngựa lại, cột dây cương vào thành xe rồi nhảy xuống đất. Bọn trẻ con cũng nhảy theo, chạy tung tăng khắp nơi.

Huệ đứng lặng nhìn bếp lửa đã tàn, vài mẩu bánh mì và mấy bao thuốc lá rỗng không vươn vãi trên cỏ. Huệ ngồi xuống, dùng một que củi khô khơi dậy đống tro tàn. Chị sẽ tìm được gì trong đám bụi xám xịt lạnh lẽo ấy?

Chị cứ khơi mãi, khơi mãi đống tro thầm lặng, hai hàng nước mắt chảy dài trên má.

Lũ trẻ con đã hái thêm được những cành hoa dại màu tím than, chúng chạy ùa đến bên mẹ, nhưng bỗng chúng dừng lại, lặng thinh một lúc rồi rụt rè hỏi:

- Mẹ ơi, tại sao mẹ lại khóc?




ĐÀO HIẾU

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, January 30, 201112:00 AM(View: 15168)
Chương XI: Hoài Thanh Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Saturday, January 15, 201112:00 AM(View: 10213)
Xuân Diệu nói: “Những câu thơ như thế phải đọc cho Mạnh nghe. Mình đọc được cho Mạnh nghe cũng thấy thích. Bài “ Hoa anh ơi!” là một lời thơ đi suốt. Cả bài thơ là một lời đi suốt”
Saturday, November 27, 201012:00 AM(View: 8165)
Có một sinh viên cao học (DT), khoảng ngoài ba mươi tuổi, vốn là giáo viên ở một tỉnh miền trung, tha thiết nhờ tôi hướng dẫn làm luận văn. Trong suốt quá trình làm luận văn, tôi hoàn toàn không nhận biết gì về tình cảm của cô đối với tôi (chắc đã có những biểu hiện nào đấy, nhưng tôi không để ý
Monday, November 8, 201012:00 AM(View: 8814)
Cho nên thời nào cũng vậy những tác gia văn học lớn, những sự kiện văn học lớn thường xuất hiện chủ yếu ở ngoài Bắc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Thơ mới lãng mạn( 1932-1945), Tự lực văn đoàn, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… vv… Những cây bút xuất sắc của Sài Gòn trước 1975 phần lớn cũng là người miền Bắc, miền Trung di cư vào.
Saturday, October 23, 201012:00 AM(View: 10866)
Tôi không có ý định viết hồi ký về những năm tù đầy của tôi khi tôi trở lại đời sống bình thường. Con người sinh ra là để chịu đựng mọi hệ lụy. Từ đầu đường oan nghiệt, tôi khởi sự khóc và tôi sẽ gục ngã ở cuối đường oan nghiệt. Từ đấy, theo tôi, là những cái mộ u cao hơn, nhiều chông gai hơn những cái mộ u khác dốc dài sau đó. Vượt qua hay chẳng vượt qua thì rồi cũng chết. Có những cái chết thật vô tích sự và mục rả như có cây tàn tạ. Có những cái chết được phục sinh.