DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,484,639

Trần Yên Hòa - Mẫu Hệ (Chương 6)

Friday, February 5, 20219:22 AM(View: 510)
Trần Yên Hòa - Mẫu Hệ (Chương 6)


Image result for cung chúc tân xuân

Mẫu Hệ

 

 

 mẫu hệ mới

 

 

Bạn Văn Nghệ

2015
(Tái bản, có sửa chữa)

 

 

Mẫu Hệ

Truyện dài

Tranh và trình bày bìa:

                                                                                                  Uyên Nguyên

Bạn Văn Nghệ

Tái bản

2015

 

 

Lời Mở

 

Ngó đất ngó trời
Ngó trước ngó sau
Ngó trên ngó dưới
Ngó quanh ngó quẩn
Chạnh lòng viết chơi

Chuyện là hư cấu

mọi nhân vật, không gian, thời gian trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng.


                                                                                    Chương Sáu
 
 
Nghỉ một ngày để lấy lại sức nhưng Nại Hiên có nghỉ được đâu. Nàng phải giặt cả mấy thau quần áo của các con, rồi lo dọn dẹp căn phòng nàng ngủ cho sạch sẽ một tí. Một mình bà Ngọ ở trong căn nhà rộng, bà lo không xuể nên bụi bặm bám lên một lớp mốc meo. Đến sáng hôm nay, Nại Hiên dự định sẽ vào trường trung học để xin đi dạy lại.

Nắng đã lên. Trời tháng sáu buổi sáng chưa tới bảy giờ mà nắng đã chói lóa. Gió thổi nhẹ nhàng qua mấy hàng cây trước nhà. Hàng cây mảng cầu đứng im khô rang. Hàng mảng cầu hàng năm vẫn cho sai trái, năm nay vì nắng khô hạn quá nên không có trái nào.

Nại Hiên bận chiếc áo dài màu tím than. Màu áo mà Soại đã mua cho nàng khi tiểu đoàn anh về huấn luyện ở Phú Bài. Soại ra Huế vào một tiệm vải ở đường Trần Hưng Đạo, thấy màu áo tím than hợp với nàng nên đã mua về làm quà cho vợ. Soại vẫn thích, và vẫn khen nàng xinh đẹp nhất khi bận chiếc áo này. Chiếc áo may sau ngày hai người cưới nhau, đến bây giờ cũng đã trên năm năm. Nại Hiên muốn bận chiếc áo mang hình ảnh của Soại để đi đến đâu nàng cũng thấy vững tâm hơn, như có anh bên cạnh. Nhưng chợt một ý nghĩ khác đến với nàng. Đã đổi đời rồi mà còn mơ mộng như ngày cũ sao?

Như ngày mới ra trường được đổi về dạy ở trường quận lỵ quê hương, nàng đã bận chiếc áo dài hồng rực rỡ khi đi trình diện nhiệm sở. Bây giờ, đã hết rồi thời đó, chính ở Sài Gòn trong những ngày qua, đi ra đường cũng không còn ai mặc một chiếc áo dài. Những chiếc áo sơ mi màu trắng bạc, màu cứt ngựa bộ đội, những quần tây bằng vải kaki rộng thùng thình của những nữ cán bộ miền bắc vào. Những mơ mộng thời trước chỉ là những phù phiếm, bây giờ phải sống hợp thời, vì miếng cơm manh áo. Cái ước vọng tột cùng của nàng là mong được đi dạy lại học lại, được đứng trên bục giảng để giảng cho học sinh của nàng bài vạn vật mà nàng đã giảng dở dang vì tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng bom. Và điều cốt lõi là tiền lương. Ba đứa con nàng lúc nào cũng cần cơm, sữa.

Nại Hiên vào phòng thay lại cái quần tây đen và cái sơ mi trắng dài tay. Nhìn vào gương thấy mình lạ đi một chút, trông có vẻ cứng cáp, già dặn hơn một chút. Như thế này là được rồi, vừa lịch sự vừa "hợp thời". Nàng muốn tô thêm trên môi một chút son, xoa lên má một chút phần hồng cho gương mặt tươi mát lên. Nhưng nàng lại rụt tay về. Có nên không? mình đỏm dáng quá nhiều khi lại mất điểm. Nhớ đến những gương mặt của các nữ cán bộ miền bắc mà nàng đã thấy ở Sài Gòn, nàng như đi thụt lùi lại. Thôi, dùng son phấn mà làm chi, như vậy là được rồi.

Nại Hiên nhờ mẹ trông coi ba đứa nhỏ. Nàng đứng trước bàn thờ Phật và bàn thờ cha lâm râm khấn vái. Tự nhiên trong lúc này đây nàng hết tin tưởng trong ý nghĩ mình, một cô giáo sư trung học đệ nhị cấp, bốn năm sư phạm và trải qua ba năm đứng lớp tận tụy với đám học trò. Thầy hiệu trưởng, các bạn đồng nghiệp và kể cả đám học trò vẫn thường khen nàng dạy hay, dễ hiểu, vì nàng giảng bài rất hấp dẫn, dù là một đề tài vạn vật khô khan. Bây giờ những thành tích ấy có còn được là cái giấy chứng nhận cho nàng được dạy lại? Nàng nhớ như in một câu trong thông cáo nàng nghe được ở đài phát thanh Sài Gòn "các nhân viên công chức chế độ cũ hãy trở về nhiệm sở làm việc, chính sách của cách mạng trước sau như một...". Câu nói đó cho nàng một niềm tin tưởng và nay, nàng đã quay về.

Nại Hiên bước thật nhẹ trên đường làng, ra đường quốc lộ đón xe vào trường, trong lòng thật hồi hộp.
Con đường vẫn là con đường cũ từ buổi ấu thơ, con đường đất đỏ dẫn nàng đi học, hai bên có những bụi gai dại. Nại Hiên đi bộ đến ngã ba và dự định đón xe lam vào trường.

Những ngôi nhà ngoài quốc lộ đều là của những người quen. Ngày trước nàng đi dạy học trên chiếc xe honda dame, gặp nàng ai cũng cúi đầu chào, chào cô út hay chào cô giáo. Bây giờ nàng nhìn những ngôi nhà cũ đó, có nhà gia đình đã bỏ đi, cửa đóng im ỉm, có nhà còn lại thì họ nhìn nàng rồi ngó lơ. Có lẽ họ sợ sự quen biết, sự chào hỏi, có thể làm họ bị liên lụy chăng? Nại Hiên chưa hiểu sâu xa đến chuyện này, con người mới đó mà sao có sự thay đổi nhanh chóng vậy? Nàng đứng bên đường ở ngã ba đợi xe lam. Không có ai chào hỏi nàng, dù là những người nàng biết. Xa lạ, xa lạ đến thế sao?


May mà Nại Hiên chờ khoảng đâu mười phút thì có một chiếc xe lam chạy đến, nàng dơ tay vẫy. Chiếc xe lam tấp vô lề. Xe đã chật quá rồi, nàng cố ngồi chen ở phía sau.

Người lái xe quay đầu lại hỏi:
- Cô đi đâu?
Nại Hiên trả lời:
- Bác cho tôi vào trường trung học.
Người lái xe nhìn kỷ nàng, rồi cười, nói nhỏ:
- Ủa, cô Hiên, cô về hồi mô vậy, tưởng cô đi thoát rồi chớ. Thôi lên băng trên này ngồi với tôi đi, chỗ ngồi dưới chật chội lắm.

Nại Hiên nhìn người lái xe, thì ra là bác Ngạc, cha của Bằng. Bằng là bạn học của nàng thời còn trung học. Bằng đi sĩ quan cảnh sát, không biết bây giờ Bằng ở đâu? Nàng đứng dậy xuống xe đi lên phía băng trên.

Nại Hiên hỏi bác Ngạc, vẻ mừng vui:
- Bác Ngạc đó hả? anh Bằng đâu bác?
Giọng bác Ngạc nhỏ xuống:
- Nó đi cải tạo rồi, trên Tiên Lãnh, đã ba tháng nay không có tin tức gì cả. Cô về đây một mình hả?
- Dạ, một mình với mấy đứa nhỏ, anh Soại ở trong Sài Gòn trình diện trong đó.
Bác Ngạc lại hỏi:
- Cô đi đâu đây?
- Vô trường trình diện coi thử có đi dạy lại được không bác.
Ông Ngạc thở dài:
- Tôi nghĩ cũng khó lắm, con Giang vợ thằng Bằng ở lại chớ đâu có đi di tản, mà xin dạy lại họ cũng không cho, nói là vợ sĩ quan ngụy. Nhưng cô cứ xin thử coi.

Xe chạy tới trường trung học, ngôi trường hiện lên trong màu nắng. Nại Hiên xa trường đã hơn năm tháng rồi, từ ngày nàng di tản. Hy vọng mình được nhận lại, vì là một trường quận lỵ rất cần giáo sư trung học đệ nhị cấp.

Nại Hiên xuống xe, trả tiền, ông Ngạc khoát tay, nói:
- Thôi khỏi cô, cho cô quá giang một lần, để lần khác đi.
Nàng nói cảm ơn rồi chào ông Ngạc, bước vào cổng trường.

Lạ, lạ như chưa bao giờ mình đã ở đây, đã dạo trên hành lang này, đã đứng trên bục giảng. Trường đang trong giờ học nên im lặng, ngoài tiếng giảng bài của các giáo sư. Cột cờ giữa sân đang bay bay lá cờ đỏ sao vàng. Nại Hiên thấy lạnh ở hai vai và sống lưng. Như là mình đi đến một nơi chốn nào khác chứ không phải là ngôi trường quê hương mà mình đã gắn bó suốt mấy năm. Bước lên hành lang, đi vô văn phòng. Một người đàn ông như là nhân viên trực, ngồi ở bàn ngoài cùng. Người đàn ông bận áo xanh màu cứt ngựa, quần kaki vàng, mang dép râu, khuôn mặt khô và nhọn, có để lún phún một ít râu mép, nhìn nàng và hỏi:

- Cô tìm ai?
Nại Hiên nói rất lễ phép:
- Thưa thầy, xin thầy cho tôi gặp thầy hiệu trưởng.
Người đàn ông nhìn nàng với vẻ soi mói, xong lại nói:
- Có chuyện gì vậy?

Nại Hiên trình bày hoàn cảnh mình:

- Thưa thầy, tôi trước là giáo sư dạy trường này, vì chiến tranh cho nên tôi chạy vào Sài Gòn, nay theo thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn, ai trở về nhiệm sở nấy, nên tôi về trình diện đây để xin dạy lại.
Người đàn ông nghe nàng nói, nhìn nàng một chặp nữa rồi chậm rãi lên tiếng:
- Cô ngồi đó đợi đi, để tôi vào trình với đồng chí hiệu trưởng.

Nói xong, ông đứng dậy đi vào phòng trong. Nại Hiên nhìn quanh văn phòng làm việc, bức ảnh HCM để râu dài được treo trên giữa tường, phía dưới có câu khẩu hiệu viết bằng chữ đỏ: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Từ ngày ở Sài Gòn đến nay, nàng đã thấy lá cờ và hình ảnh ông Hồ đã quen, nên nàng không còn dị ứng nữa.


Nại Hiên nhìn quanh trong văn phòng. Không có một ai. Có lẽ các thấy cô đang còn dạy ở lớp. Nàng muốn gặp một người bạn giáo sư quen biết cũ nào đó để hỏi chuyện. Thấy Tần đâu? thấy Võ đâu, thấy Quảng, thấy Tú... Các thầy hồi trước ai cũng bị động viên đi lính, ai cũng mang lon thiếu úy, trung úy, chắc là phải đi tập trung cải tạo rồi. Còn các cô giáo, cô Hòa, cô Hoàng, cô Lý, có còn dạy ở đây không? Hay đã di tản? Cuộc di tản vĩ đại chưa từng có trong lịch sử, đã để lại đàng sau biết bao nhiêu tang tóc v à hệ lụy. Nàng nhìn quanh mong cho đến giờ ra chơi để gặp lại một người bạn quen nào đó. Thời gian trôi qua thật chậm. Nàng không thấy ai bước vô văn phòng. Nàng thấy mình thật xa lạ.

Cũng khoảng mười lăm phút, người đàn ông khi nãy trở ra. Ông ngồi vào bàn mới lên tiếng:
- Cô vào đi, đồng chí hiệu trưởng chờ cô trong đó.

Nại Hiên đứng dậy bước vào phòng trong. Nàng xa nơi này chưa đầy năm tháng mà tất cả đã đổi thay. Ngày trước, phòng thầy Võ, hiệu trưởng, dành một căn phòng bên kia. Nay thì phòng hiệu trưởng được xếp vào chung với văn phòng làm việc, chỉ ngăn cách bởi những tấm cạc tông được đóng quanh, có một cánh cửa nhỏ mở ra, vào. Nại Hiên ngập ngừng do dự một chút, không biết có nên gõ cửa hay không đây? Người nhân viên trực đã báo là có mình vào trình diện, nhưng nàng cũng lịch sự muốn báo trước là nàng đã đến, nên đưa tay lên gõ lên cánh cửa mấy tiếng. Có tiếng sột soạt bên trong rồi tiếng nói cất lên:

- Vào đi, khỏi cần gõ cửa.

Giọng nói chắc nịch, pha lẫn giữa giọng Quảng Nam và giọng Bắc. Nàng bước vào, thấy người đàn ông ngồi sau một cái bàn dài. Người đàn ông hớt tóc ngắn, bận một cái áo màu xanh lá cây, chiếc quần bộ đội, mang đôi dép râu để lộ ra những ngón chân dài. Người đàn ông nhìn nàng không cười, đưa mắt đảo qua nàng một lượt có vẻ quan sát.

Nại Hiên nói:
- Thưa thầy Hiệu trưởng.
- Chào cô, cô có chuyện gì vậy?

Nại Hiên nói qua tiếng nén của hơi thở:

- Thưa thầy, tôi là Nại Hiên, trước dạy ở trường này, vì chiến tranh nên tôi di tản vào Sài Gòn, nay nước nhà đã thống nhất, tôi trở về trình diện và xin dạy lại.
Người đàn ông hơi mĩm cười, nhưng nụ cười được ghìm lại ngay. Ông nói:
- Cô cho tôi coi một số giấy tờ, dĩ nhiên đây chỉ là thủ tục. Tôi đã xem danh sách các giáo viên cũ ở trường. Tôi biết cô tốt nghiệp đại học sư phạm khoa sinh vật, phải không?
- Thưa thấy, dạ đúng.

Nại Hiên vừa nói vừa lục trong xách ra cái thẻ căn cước. Chỉ còn có vậy để xác nhận nàng. Còn những bằng cấp tốt nghiệp, trong cơn thất tán đã mất hết. Những giấy tờ trong lúc ra bãi biển An Hải đã rơi mất. Sau này nàng tìm kiếm, lục lọi trong tất cả những đồ đạt mang theo, không còn một thứ gì.

Nàng đưa cái thẻ căn cước. Người hiệu trưởng khoát tay:
- Thôi, khỏi cần.
Rôì ông nhấn mạnh:
- Cô nên biết là nay cách mạng đã chiến thắng hoàn toàn, kể cả Saì Gòn là nơi tạm coi là an toàn nhất. Cô đã bỏ trường để di tản theo địch, nay cùng đường cô trở về đây mà xin dạy lại. Cô nên nhớ rằng đội ngũ giáo viên của nhà nước ta, ngoài việc chuyên môn là giảng dạy cho học sinh, còn là nền tảng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy rằng trên đã có lệnh thu dụng lại những giáo viên chế độ cũ, nhưng mà...tôi biết cô đầu óc chưa được khai thông đâu, nên cô phải qua một lớp học tập bồi dưỡng về chính trị bốn tuần lễ ngoài Tam Kỳ, cô dự học xong lớp đó rồi về đây tôi sẽ xét cho cô.

Ông nói một thôi dài và khi ngưng lại ông mới rút trong tập sơ mi màu xanh ra một tờ giấy, ông ghi tên Nại Hiên vào khoảng để trống rồi ông ký phía dưới. Xong ông đưa cho nàng và nói.

- Cô cầm tờ giấy giơí thiệu này về, đem ra ngoài phòng giáo dục thị xã, hỏi khi nào có lớp bồi dưỡng, cô theo học khóa đó, xong lấy giấy chứng nhận vào đây cho tôi biết.
Nàng cầm lấy tờ giấy và muốn hỏi thêm vài điều, những điều nàng cần biết về những người bạn đồng nghiệp cũ, nhưng nàng lại thôi. Nại Hiên bỏ tờ giấy vào trong bóp và đứng dậy chào ông Hiệu Trưởng:
- Xin chào thầy.
- Chào cô.
Ông không đứng dậy đưa nàng cũng không nói thêm lời nào. Căn phòng vẫn im phắt.

Bước lên xe lam trở về nhà, lúc này Nại Hiên mới chợt thấy ra con đường trước mặt không suôn sẻ như nàng tưởng. Nàng vẫn cho rằng chuyện dạy học là tấm lòng, là sự thương yêu học sinh, tận tụy với nghề nghiệp, cùng với mảnh bằng Đại Học Sư Phạm là được. Bây giờ nàng như đứng trước một bức tường thành. Tư Tưởng, Chính Trị. Thì ra, bao nhiêu năm người ta đã đổ máu, đã tạo nên bao chết chóc thảm khốc cũng vì cái tư tưởng chính trị đó sao? Nàng thở dài, nhìn những người khách cùng ngồi trên chiếc ghế xe lam, mặt mày người nào cũng tối tăm, buồn thảm.


Nại Hiên vừa bước đến sân nhà thì ba đứa con nàng chạy ra bu quanh mẹ. Anh Thư nói:

- Me đi rồi, em Nghi ở nhà phá em Chi không cho em Chi ngủ.
Đông Nghi liếng thoắn kể:
- Bà ngoại cho con củ khoai lang, chị Thư đánh mất của con me.
Nàng thấy vui trong lòng vì mấy đứa con đều vui chơi, quấn quít bên nàng. Nàng bước vô nhà nghe mát dịu cả người vì đã đi ngoài trời trưa nóng bức. Bé Anh Chi được ngủ trên tấm phản ngựa được lau thật kỷ, sạch sẽ. Nàng im lặng đi vào phòng thay cặp đồ mặc ở nhà thì bà Ngọ từ dưới bếp đi lên, bà hỏi:
- Con Hiên về đó hả? vào trường có kết quả gì không con?
Nại Hiên không muốn làm cho mẹ buồn, mẹ thất vọng, nên nàng nói nửa vời:
- Con cũng chưa biết nữa, thấy hiệu trưởng nói phải qua một lớp bồi dưỡng về chính trị.

Bà Ngọ đến ngồi trên một cái trường kỷ bằng gỗ kê giữa nhà, thường vẫn dùng để tiếp khách, bà nhỏ nhẹ: - Tao nghĩ cũng khó, nhà mình toàn làm bên quốc gia cả, bây giờ caí gì họ cũng nhìn vô lý lịch.


Nại Hiên đi ra chái bếp chỗ kê lu nước lạnh, lấy gáo múc nước rửa mặt. Nước lạnh làm nàng tỉnh táo ra. Nhìn gương mặt mình qua làn nước, hình bóng lao xao, nàng tự dưng thấy cô đơn quá. Xong nàng trở vào ngồi một bên cái trường kỷ, đối diện với mẹ, nàng nói:

- Con vào trường gặp ông hiệu trưởng, thầy bà gì mà bận áo bỏ ra ngoài quần, mang dép cao su trông chẳng giống ai. Ông cho cái giấy giới thiệu ra ngoài phòng giáo dục thị xã Tam Kỳ học bồi dưỡng, xong rồi về ổng sẽ xét. Nghe nói ổng ở đâu trên Kỳ Sanh tập kết ra bắc mơí về hả mẹ?

Bà Ngọ nói:

- Thì nó là thằng Tám Thọ đó chứ ai. Hồi cha đi kháng chiến làm ở Ủy Ban Hành Chánh xã, nó làm du kích cũng thường hay lui tới đây với cha, đến năm năm tư nó đi tập kết. Nay nó về, nghe nói nó có đi Trung Quốc học hành gì đó nên được làm hiệu trưởng. Tao biết nó hồi còn nhỏ, chứ bây giờ nghe nói, chứ chưa gặp lần nào.
Nại Hiên ngồi nghe, nàng tưởng tượng lại lúc gặp ở phòng Hiệu Trưởng ban sáng. Tám Thọ, cái tên nghe cũng biết là “cách mạng” rồi. Chợt nàng nhớ đến đôi dép râu Tám Thọ mang, để lòi mấy ngón chân đen kịt ngọ ngoẹ phía dưới bàn chân và hàm răng ám vàng thuốc lá. Bà Ngọ nói tiếp:
- Anh Lôc chồng chị Loan mày cũng từ bắc về thăm nhà đây tháng trước, nó hỏi thăm con Hồng, thằng Tư, thằng Thọ bây giờ ở đâu? Tao cũng trả lời qua loa là ở Sài Gòn. Nghe nói bây giờ nó về, làm đâu ngoài phòng thông tin thị xã Tam Kỳ đó.
Nại Hiên nghe mẹ nói mà lòng thật dửng dưng, thật ra những người này nàng cảm thấy như không có quan hệ gì với mình. Anh Lộc là chồng của chị Loan, chị ruột của nàng, chị mất đã mấy năm nay vì một cơn bạo bệnh. Những đứa con chị đã lớn, đã đi làm ăn mỗi đứa một nơi. Anh Lộc đi tập kết từ năm 1954. Đã hai mươi mốt năm, lúc đó nàng còn bé tí. Hồi đó, ai cũng theo kháng chiến, cả cha nàng cũng vậy. Bây giờ anh Lộc trở về với một gia đình riêng ở ngoài Bắc. Chị Loan đợi chờ suốt mười mấy năm. Rồi trong cơn bạo bịnh chị đã chết bỏ lại một đàn con năm đứa. Bây giờ anh Lộc trở về. Mọi chuyện thật là xa lạ. Nếu bây giờ nàng gặp lại anh Lộc ở đâu đó, nàng cũng chẳng biết là ai.
 

* * *
 
Đã ba ngày qua, Nại Hiên sống trong cảm giác buồn bã, bồn chồn. Nàng lẩn quẩn trong những suy nghĩ không đầu không đuôi. Bây giờ ra trình diện học khóa bồi dưỡng ngoài thị xã nàng sẽ ở đâu? ăn uống ra làm sao? Chuyện này ngày xưa thật là dễ dàng, bây giờ sao thấy khó khăn quá. Ngày xưa, nơi chốn đó, thị xã Tam Kỳ, nàng đã sống, đã ăn học ở đó gần bảy năm trung học.

Hồi mới vào lớp đệ thất, cha nàng gởi nàng trọ nhà ông Nhật, tài xế cho ông quận Đặng. Ngôi nhà ở ngã ba, từ đó đến trường trung học chỉ có mấy trăm bước thôi. Nàng ở trọ tại đây và ăn cơm tháng. Mỗi tối nàng lên căn gác để học, làm bài rồi ngủ luôn trên gác với chị Bông. Chị Bông là con riêng của bác Nhật gái, chị lớn hơn Hiên bốn, năm tuổi gì đó. Bác Nhật trai có vợ trước đã chết nên gá nghĩa với bác Nhật gái được mấy năm nay. Hai người chưa có con riêng.

Buổi tối, chị Bông cùng học bài với Nại Hiên trên cái bàn tròn kê sát cửa sổ. Hai chị em như đôi bạn thân. Chị có sắc đẹp trung bình nhưng cơ thể chị thì nẩy nở đầy đặn, căng tròn nhựa sống, nhất là hai vú chị săn chắc và to. Buổi tối ở nhà, chị bận chiếc áo sơ mi trắng, không bận cọt xê, nên hai đầu vú chị lấp ló sau làn vải mỏng trông hấp dẫn lắm. Chính Nại Hiên là con gái mà còn muốn nhìn nói chi đến đàn ông. Buổi tối hai chị em ngủ trên chiếc giường hẹp. Chị thường ôm Nại Hiên, chị vòng tay choàng qua người nàng ôm chặc lấy bờ vai. Cặp vú chị cạ vào cánh tay làm nàng nghe nhột nhạt, kèm theo hơi thở của chị dồn dập, Nại Hiên nghe lòng mình dậy lên một nổi xốn xang.

Một hôm, đang trong giấc ngủ, nàng nghe một tiếng động nhẹ, nàng chợt tỉnh, hé mắt ra nhìn, có một bóng đen đến gần kề chiếc giường. Bóng đen đứng thật im lặng, khi không thấy động tỉnh, bóng đen ngồi xuống cạnh giường và đưa tay xoa lên ngực chị Bông. Chị Bông co người lại rồi hất cái cánh tay kia ra. Nhưng cánh tay đó không sợ hãi lại tiếp tục đặt lên ngực chị Bông và xoa nhẹ. Lại thêm một bàn tay nữa đặt lên ngực bên kia. Nại Hiên vẫn nằm hé mắt nhìn trong màn đêm tối, nàng nghe như hơi thở mình bị đọng lại. Bóng đen vẫn hai tay ôm lấy ngực chị Bông mà xoa bóp.

Chị Bông nằm ngửa người ra, có hơi thở gấp. Bóng đen cúi xuống hôn chị, một tay vẫn xoa ngực, còn một tay đưa xuống phía dưới. Tiếng chị Bông thở mỗi lúc một dồn dập hơn kèm theo tiếng ú ớ. Cuối cùng khi người đàn ông leo lên mình chị thì chị dùng chân đạp cái bóng đen rời khỏi giường rớt xuống sàn gỗ. Một tiếng động khô khốc trong đêm tạo nên một âm thanh thảng thốt. Bị đạp văng xuống sàn, bóng đen đứng dậy và rút xuống cầu thang gác. Nại Hiên hé mắt nhìn trong bóng đêm mờ mờ, cái bóng lùn thấp giống như là của bác Nhật trai. Rồi chị Bông nấc lên khóc rấm rức. Nại Hiên nằm im nghe tiếng nức nở nho nhỏ của chị mà chợt rùng mình, thương cảm cho chị. Nàng cũng cố giữ im lặng coi như mình đang say ngủ không hay biết gì.

Nàng đem chuyện buổi tối ở nhà bác Nhật kể cho anh Đạt nghe. Một tuần sau đó anh Đạt tìm nhà khác cho nàng trọ học. Lúc này nàng dời về nhà cụ Lãm, ở gần trường trung học Trí Đức. Nơi đây là một căn nhà rộng, bà trợ Lãm đã về hưu, chuyên nấy cơm tháng cho học sinh xa nhà đến trọ học. Nàng yên tâm trọ học ở đây suốt một thời trung học.

Câu chuyện của chị Bông bị người cha dượng hiếp không biết do đâu mà bỗng dưng bùng ra dữ dội ở thị xã. Người ta đồn rằng bác Nhật trai đã ngủ với con gái của vợ mình và tin đồn ngày càng lan rộng ra xa. Ở một thị xã bé nhỏ, một tin gì xảy ra là từ đàng dưới lan truyền đến đàng trên, không ai không biết. Chị Bông đang theo học đệ ngũ trường Trí Đức, có nhiều nam sinh nhìn chị bằng đôi mắt nửa như đùa cợt, nửa như thương hại. Những câu nói bóng gió về bác Nhật vẫn lưu truyền trong đám đông. Nại Hiên nghĩ về đêm hôm đó như một đêm kinh hoàng trong trí nhớ nhỏ bé của nàng.

Bây giờ đã xa gần mười năm. Trở lại thị xã nàng sẽ trọ ở đâu, ăn ở đâu? Ở đây nàng và các con còn ăn uống lấp liếm, đắp đổi qua ngày với mẹ, chứ đi xa thật là một trở ngại vô cùng. Mà học bồi dưỡng những một tháng chứ có ngày một ngày hai đâu.
Con đường trước mặt muốn khai thông là nàng phải theo học khóa bồi dưỡng chính trị. Khóa nầy như một căn bản cho mọi công nhân viên chức hiểu được chế độ mới là gì. Muốn sống và làm việc trong guồng máy đó thì phải chấp nhận.
Nàng chợt nghĩ đến bà nội của mấy đứa con nàng, bà mẹ Soại. Bà đang sống một mình ở một nơi cách thị xã khoảng tám cây số. Nàng có thể mang mấy đứa con về thăm bà rồi nhờ bà coi hộ, rồi hàng ngày nàng sẽ đi xe đạp xuống thị xã để theo học khóa bồi dưỡng. Nghĩ rồi nàng vào bàn với mẹ, bà Ngọ nghĩ cũng xuôi nên cho Nại Hiên về bên nội.

***
 
Bà Khải, mẹ Soại là một người đàn bà nhà quê lam lũ. Bà sống với cánh đồng, với thửa ruộng, với đám khoai từ thuở còn là con gái. Bà đã trải qua bao nhiêu chế độ. Chế độ nào bà cũng là người dân tay lấm chân bùn bình thường. Nhưng rồi hai đứa con trai của bà lớn lên đi lính, đóng ở cùng nơi chi xứ, bà lo lắng cho hai đứa con trai nên bà cũng mong cho phe quốc gia được thắng trận. Nhưng không may cho bà, phe Quốc gia thua trận, các con bà thất tán mỗi đứa mỗi nơi. Bà một mình trong căn nhà tranh lạnh lẽo. Đứa con gái lớn có nhà gần chợ Quán, thỉnh thoảng ghé thăm mua cho bà con cá, miếng thịt. Còn thì bà cứ rau dưa hàng bữa. Bà sống âm thầm như một cái bóng.

Từ ngày tháng ba, những người trên núi về đây lập chính quyền, kêu gọi dân chúng đi dân công phá mìn, khai thông đồn bót. Những người bạn với Soại, cùng sĩ quan như Soại, đều bị bắt, dẫn lên núi, nhốt đâu trên Tiên Lãnh, một nơi tuốt trên núi cao rừng rậm. Bà lo cho hai con bà, thằng Giang, thằng Soại, tụi nó chạy vào Sài Gòn có bình an không? có thoát được cảnh đi gỡ mìn, lấp hầm chông như ở đây không?

Bà thương mấy đứa cháu nội của bà còn nhỏ dại quá, đứa nào cũng còn quá bé bỏng mà mẹ nó làm nghề giáo không biêt có đảm đương, nuôi nổi tụi nó không? Tuy nhiên, bà còn giận con vợ thằng Soại lắm. Ngày bà ra Đà Nẵng thăm hai vợ chồng nó, nó cứ cầm cái chổi quét nhà, hể bà để cái món đồ gì của bà ở đâu, khi bà lấy đi thì nó cầm cái chổi mà quét, coi bà như một bà nhà quê dơ dáy. Bà đã gom hết áo quần của bà lại, rồi đi ra bến xe để về lại trong quê. Sau đó Soại có về xin lỗi bà nhưng bà chỉ giận con vợ nó thôi chứ bà đâu có giận đứa hai con trai mà bà đã đứt ruột đẻ ra, và bà cũng biết là tụi nó cũng thương bà hết mực.

Bây giờ là tháng sáu ta, gió hiu hiu thổi trong những lùm tre tạo ra những âm thanh rì rào êm ả. Mặt trời chói lóa, toả sáng cả một không gian rộng lớn. Những con chim giồng giộc làm tổ treo lòng thòng trên những ngọn cây cao, chim giồng giộc cất tiếng kêu vang cả một góc vườn. Một buổi sáng miền quê yên tỉnh.

Bà Khải đang lom khom tưới những luống cải bà mới gieo hôm kia. Tánh bà không ở không được. Từ một cô thiếu nữ ở nông thôn, bà quần quật ngoài đồng ruộng suốt cả ngày, bà quen với công việc đồng áng nên nay cũng gần bảy mươi tuổi rồi mà bà không ngồi không. Không làm việc này bà cũng làm việc nọ, kiếm thêm miếng rau cải ăn cho nhẹ bụng. Bà lo chăm sóc mấy luống cải mới gieo. Chung quanh vườn, tiếng chim kêu ríu rít trong những tầng lá rậm, chim chuối, chim sâu, chim chìa vôi, chất mào, quành quạch, nhảy nhót trong ánh nắng chan hòa buổi trưa. Bà Khải chợt nghe tiếng xe đạp chạy vào trong sân và tiếng trẻ con tíu tít.
Con Anh Thư nói:
- Chào bà nội, con mới về.

Rồi tiếng con bé Đông Nghi tiếp theo:

- Bà nội, bà nội.
Nại Hiến bước xuống khỏi chiếc xe đạp thồ, một tay nàng bế Anh Chi, một tay mở ví lấy tiền trả tiền xe. Xong nàng mới chào bà Khải:
- Thưa mẹ, con mới về.
Bà Khải dừng tưới rau, thả chiếc gàu xuống đất, rồi bước vào sân. Bà vui vẻ nói:
- Nhà Thư về đó hả, vậy mà tau lo quá, không biết mẹ con bay bây giờ ở đâu? Có chuyện gì không? sao lại về đây con?
Nại Hiên muốn nói hoàn cảnh của mình, của các con, của Soại, nhưng thấy bây giờ chưa tiện nên nàng nói lãng ra:
- Vô nhà đi mẹ, đứng ngoài này nắng quá.
- Thì con vô trước đi, để tau rữa chân đã rồi vô sau.

Nại Hiên đi vào trong nhà, nàng kéo cánh cửa bằng tre từ trên sập xuống, loại cửa này có từ xưa lắm rồi, được đan bằng tranh, cột từ phía trên, khi mở cửa thì chống lên, khi đóng thì sập xuống. Nàng bước vào trong, căn nhà tối thui và ẩm. Cái bàn thờ bên giữa, đèn sáng hiu hắt lộ hình ảnh ông Khải, tấm hình được vẽ, lấy mẫu từ tấm hình căn cước khi ông chết để lại. Nàng cũng thấy lòng mình cũng lạnh nguội như mùi ẩm thấp của căn nhà. Nàng chống cửa lên và mở cửa sổ cho gió thông vào. Căn nhà, khu vườn, nàng nghe Soại kể nhiều lần, trong ký ức về một mảnh vườn đẹp, có hồ nuôi cá, có cây dừa dăng bóng, cây dâu đất chín vòng đỏ cả gốc, cây bòng, cây chanh. Nàng đã về đây hồi chiến tranh một lần với Soại, lúc đó căn nhà bị xe thiết giáp ủi sập, chỉ còn là một cái nền nhà loang lỗ. Căn nhà này bà Khải mới dựng lại trong ba tháng nay, để có chỗ, theo bà, mà chui ra, chui vào.


Cái lạnh của căn nhà làm Nại Hiên ái ngại. Mình sẽ ở đây sao? Các con mình rồi sẽ ngủ ở đâu, ngoài một cái giường dành cho bà Khải. Căn nhà không có gì cả, trống trơn, rồi lấy gì sống đây?

Bà Khải rửa chân xong, bước vô nhà, bà vẫn đi chân đất, chỉ khi có khách khứa hay có đi đâu xa, mà mới mang giày hoặc dép chứ ở nhà là bà đi chân trần. Quen rồi, mang dép vào nghe nó vướng vướng làm sao. Bà ngồi xuống chiếc giường rồi nói với Nại Hiên:
- Tau nghe tụi bay bình yên là tau mừng, mi cũng chạy vô Sài gòn rồi trở ra hả, đời chi nghe cực quá he!

Nại Hiên nói:

- Con về được một tuần rồi mẹ. Anh Soại ở lại trình diện trong đó, anh Giang cũng vậy, mấy anh con cũng ở trong đó chứ không ai dám về ngoài nầy, ai cũng sợ về địa phương. Con thì ở bên ngành giáo dục, nghe thông cáo bảo về dạy học lại nên con dẫn mấy đứa về, vào trường xin thì ông Hiệu trưởng ổng biểu phải đi học bồi dưỡng chính trị ở Tam Kỳ một tháng, nên con phải về đây nhờ mẹ.
- Nhờ cái chi?
- Thì con gởi mấy đứa nhỏ ở đây, con đi học bồi dưỡng một tháng, con mượn chiếc xe đạp của chị Kim sáng đi chiều về, được không mẹ?
Bà Khải ôn tồn:
- Con cứ coi nhà này như nhà con vậy, có chi đâu, mẹ với cha sống với nhau hơn năm mươi năm, bao nhiêu dành dụm cũng cố gắng dành cho các con, nhưng không may chiến tranh làm tiêu tan cả. Căn nhà này cũng chỉ còn trơ cái nền, mẹ mới làm lại để có chỗ chui ra chui vào. Bây giờ thằng Soại đi học tập, con về đây ở với mẹ là mẹ mừng lắm, sớm hôm mẹ con có nhau, có mấy cháu mẹ cũng vui, có cơm ăn cơm có cháo ăn cháo.

Nại Hiên nghe bà Khải nói là thấy lòng mình dịu lại, nàng tự trách mình ngày trước khi nàng sống ở Đà Nẵng với Soại, mỗi lần bà ra thăm con, thăm cháu, có nhiều điều vì nàng kỹ tính quá làm cho bà buồn giận, bỏ về quê. Nàng vẫn đinh ninh trong lòng bà sẽ giận nàng chuyện đó. Nay nàng trở về trong sự thất thế như thế này, nếu bà xua đuổi thì nàng cũng không có gì phiền trách, tính đàn bà thường hay nhớ dai, nhưng nay nàng đã trút đi được cái lo ấy. Nại Hiên cầm lấy bàn tay nhăn nheo của bà Khải, nàng lí nhí trong miệng:

- Con cảm ơn mẹ, anh Soại đi cải tạo con mong ảnh về sớm, nếu được ảnh về đây, con đi dạy có chút lương, ảnh về làm ruộng thêm mình sống qua ngày cũng được, mẹ ha?
- Con nói vậy mẹ cũng vui, mong cho các con có cái ăn, cái mặc, chứ đời mẹ già rồi sống sao cũng được.
Nại Hiên không dám nói thêm, sợ động đến tấm lòng của bà Khải, hai đứa con đi lính và nay cả hai cũng đang trong diện tập trung. Nàng đứng dậy, nói nhỏ:
- Hôm nay con nấu cơm cho mẹ nhé, mẹ ngồi nghỉ đi, con biết chỗ để gạo rồi. Nấu cơm và luộc rau lang ăn mẹ nghe, con lâu rồi không ăn rau lang cũng thèm lắm.

Nàng xuống bếp nhúm lửa, vo gạo. Cái nhà bếp là một chái tranh che ra ngoài, một đống tro ủ than lửa đỏ, một cái bộ kiềng ông táo bằng sắt đặt trên bếp than, bên ngoài là vò nước lạnh, có cái gáo dừa móc trên một cành cây, mấy cái nồi, niêu, soong, chảo, mắc linh tinh trên tấm phên tre. Cuộc sống thật bình dị, nếu chấp nhận thì cũng dễ dàng.


Chị hai Kim, chị của Soại, nghe tin Hiên dẫn cháu về thì tất tả đạp xe vào thăm. Dáng chị tất bật trông rõ khổ. Chồng chị đi lính địa phương quân làm việc ở chi khu, nay đang đi dân công gỡ mình đâu trên rừng núi Phước Long. Anh nhắn về là công việc không có gì nặng nhọc và nguy hiểm cả, nhưng chị vẫn lo. Cả Hựu cũng đi lính chi khu, giải phóng về, cả Hựu ra trình diện bị đưa đi phá đồn bót, gỡ mình, cũng trên miệt Tiên Phước, chẳng may gặp mình nổ tung banh xác. Mà đâu có kêu kiện được ai. Thời buổi giao mùa đen trắng chưa rõ, lòng người cũng sống theo thời, gió chiều nào xuôi chiều đó cho yên.

Nay nghe tin Nại Hiên về, chị liền vô thăm để hỏi thăm tin tức của Soại. Một lòng nhất quyết không cho Soại về đây trình diện, dù sao trong Sài Gòn cũng đỡ hơn ở quê.

Chị Kim để xe đạp ở ngoài cổng rồi hấp tấp đi vào trong nhà. Bà Khải đang ngồi ăn trầu ở trên chiếc chỏng tre kê ngoài mái hiên. Nơi đây, bà thường nằm nghỉ buổi trưa. Gió mát hiu hiu, nhiều lúc bà ngủ luôn một giấc đến chiều. Tuổi già, bây giờ bà sống an phận, trồng rau rác trong vườn để lấy rau ăn. Buổi chiều bà đi ra chợ Quán bán thuốc rê kiếm chút tiền lời mua cá thịt. Còn gạo, nước mắm, than củi thì có chị Kim lo. Bà cũng an phận, chứ ngồi nhà mà nhớ hai thằng con trai đang đi cải tạo ở nơi chốn nào bà không biết, cũng làm bà buồn khổ nát lòng ra. Thì đi ra ngồi ngoài chợ buôn bán chút đỉnh, nhìn người qua kẻ lại cho vui, chớ ngồi nhà, nghĩ đến con là bà khóc.

Nghe toếng xe đạp chạy ngoài đường, bà Khải biết chị hai Kim vào, bà nhìn ra thì chị hai Kim đã vào đến sân nhà. Từ ngoài, chị Kim nói lớn vào trong:
- Mẹ con con Hiên về đó hả? Về được đây là mừng rồi, chứ nghe nói ở Sài Gòn, Long Khánh đánh nhau dữ dội, chị lo quá.

Nại Hiên đang lui cui dưới bếp, nàng đang vo gạo nấu cơm. Khi bắc nồi cơm lên ông lò xong, nàng lau tay rồi đi lên nhà trên.

Nại Hiên nói:
- Chào chị hai, em và mấy cháu về trong ngoại tuần nay, hôm nay mới về thăm bà nội.
Chị hai Kim hỏi dồn:
- Em về còn thằng Soại, thằng Giang ra sao? Nghe nói họ chiếm Sài Gòn 30/4, chị lo quá, không biết tụi bay chạy vào đó có bình yên không?
Nại Hiên nói với vẻ dè dặt:
- Em về vì ở trong đó nghe thông cáo ở đài phát thanh nói công nhân viên chức ai về nhiệm sở cũ sẽ được thu dụng lại, em nghĩ mình đi dạy có tội tình gì đâu nên em về. Em đã trình diện trong trường em, ông hiệu trưởng bảo em phải đi học khóa bồi dưỡng về chính trị rồi mới xét.

Chị Kim tỏ vẻ lo lắng:

- Em cứ theo học đi, nhưng chị nghĩ cũng khó. Cô Lan, vợ anh Biền, đại uý cảnh sát, ảnh đi học tập ở Tiên Lãnh, cô Lan ở nhà đi học bồi dưỡng xong về mà họ cũng không cho đi dạy lại. Thành phần mình bây giờ khó lắm.
Nại Hiên vẫn còn chút tin tưởng nên cố gắng trả lời, nàng nói như nàng đang cổ động tinh thần cho chính mình.
- Dù gì thì em cũng về rồi, họ bảo sao mình làm vậy, em nghĩ là em chỉ đi dạy chứ có tham gia chính trị chính em gì đâu, với lại em có bằng Đại Học Sư Phạm.

Chị Kim không muốn bàn ra làm cho Nại Hiên lo lắng thêm. Chị nói:

- Chị nói vậy thôi chứ em đi học bồi dưỡng cứ đi. Bây giờ em tính sao?
- Em tính em đi học dưới Tam Kỳ bốn tuần lận, em nhờ mẹ coi dùm mấy cháu cho em, chị cho em mượn chiếc xe đạp, em sáng đi chiều về, cũng cực nhưng em cố gắng, chứ biết làm sao!
Chị Kim:
- Đi về hàng ngày cũng cực lắm, nhưng mà em đã quyết như vậy thì cũng được, xe đạp chị có hai chiếc, em cứ lấy một chiếc mà đi.

Nghe chị Kim nói vậy, Nại Hiên cũng thấy nhẹ người. Một chiếc xe đạp bây giờ còn quý giá hơn chiếc honda ngày trước nhiều, nếu không có chiếc xe đạp thì nàng cũng chẳng biết xoay xở ra làm sao, mà mua một chiếc xe đạp bây giờ cũng rất khó, tiền bạc đâu có để mà mua.

Chuyện trò xong Nại Hiên xuống bếp nấu cơm tiếp. Chị Kim chạy ra chợ mua miếng thịt heo nhỏ, bà Khải ra vườn hái đọt lang vào luộc. Bữa cơm đạm bạc nhưng ai ăn cũng ngon miệng, có rau lang luộc chấm nước mắm cá nục và ăn với thịt heo ba chỉ. Nồi cơm trắng nấu bốn lon gạo mà ba người lớn và hai đứa con nít đã ăn hết sạch. Cơm ngon thì ngon nhưng nghĩ đến sức ăn như thế này, trong thời buổi gạo châu củi quế, làm ra bát cơm để ăn được cũng khó lắm.

***
 
Nại Hiên thức dậy từ sáng sớm. Nàng lo nấu cơm và dọn dẹp nhà cửa, lo cho bà Khải và ba đứa con bữa ăn sáng. Nàng lấy lon Guigoz bới cho mình một lon cơm và một khúc cá chiên, để nàng ăn buổi trưa. Hôm nay, Nại Hiên định xuống Phòng Giáo Dục để hỏi thủ tục theo học khóa huấn luyện bổ túc chính trị, bao giờ khai giảng?. Dù gì nàng cũng phải đi hỏi. Đây là một cái cầu nối duy nhất để nàng bước tiếp con đường dạy học. Nếu muốn đi dạy lại thì phải qua cây cầu này. Nàng tự nhủ lòng như thế.

Nàng đã quyết định phấn đấu, vượt qua những khó khăn để được đi dạy lại. Nàng nghĩ đó là con đường duy nhất cho nàng có thể nuôi ba đứa con, chứ đi ra buôn bán hay làm ruộng, làm sao nàng làm nỗi. Để tiện việc ăn uống và không quá tốn kém, nàng quyết định bới cơm theo ăn trưa. Thời buổi này mà lấy tiền đâu ăn cơm quán. Trong giờ nghỉ trưa, nàng sẽ đem cơm ra ăn. Nàng mang theo một lon guigoz đựng nước sôi để nguội. Như vậy là nàng đã quá tiết kiệm. Qua khóa học, may mà được đi dạy lại, nàng có chút lương hàng tháng, nàng sẽ mua gạo gởi lại cho bà Khải, vì nàng biết bà Khải đã già, chẳng còn làm ra được gì nhiều, ăn miếng cơm của bà lúc này nàng nghe đắng chát, nhưng biết làm sao hơn.

Nại Hiên lựa một cái quần tây cũ, màu nâu đậm, ống quần vừa phải không rộng lắm và cũng không chật quá. Chiếc áo sơ mi màu xanh da trời. Như vậy là được rồi. Từ hồi “giải phóng” đến nay, nàng chưa bao giờ được mặc một lần chiếc áo dài, nên nàng cũng thèm thuồng được mặc lắm, những chiếc áo dài nàng còn giữ treo đầy trong tủ. Nhưng nay, tự dưng, trong hoàn cảnh này, đi trình diện để theo học khóa bồi dưỡng, nàng vẫn thấy mặc áo dài không còn hợp thời nữa. Áo dài bây giờ đã thành một món hàng xa xỉ phẩm, mốt thời thượng quá lố, mặc nó vào tự nhiên cảm thấy lạ lẫm, như là quá phong lưu, quá đài các và phi lao động.

Chiếc xe đạp của chị Kim cho mượn là chiếc xe đạp sườn đầm sơn màu xanh đậm. Đàng sau baga chị kẹp thêm hai thanh gỗ dài để chở hàng. Nại Hiên tháo hai thanh gỗ ra và buộc cái xách trong đó đựng cơm nước của nàng lo cho bữa ăn trưa. Nàng kiểm tra lại bánh xe đạp có đủ độ cứng chưa. Nàng xem lại cái yên xe, cái yên đã sờn rách, các ốc vít gắn trên yên xe đã long, nàng phải lấy dây cao su bó chặt lại nên cái yên cộm lên. Nhưng dù sao nàng cũng yên tâm ngồi đạp xe hơn là ngồi trên cái yên quá lõng lẽo.

Nại Hiên chuẩn bị xong xuôi, nàng trở vào trong nhà dặn dò Anh Thư và Đông Nghi:

- Hai con ở nhà với bà nội, me đi xuống thị xã có chút việc chiều mẹ mới về, hai con không được phá nghe, me về nghe bà nội mách lại là bị ăn đòn đó nghe.
Hai đứa con gái vừa mới thức dậy, vẫn còn ngái ngủ nên gật đầu cho có lệ. Biết me đi thị xã nên con Anh Thư dặn dò thêm:
- Chiều me về mua cà rem cho con nghe.
- Ừ, me sẽ mua quà về cho các con.
Nại Hiên nhìn vào trong buồng thấy bà Khải còn đang ngủ với bé Anh Chi, dù vậy nàng vẫn chào:
- Thưa mẹ con đi.

Nàng bước ra sân, dắt chiếc xe đạp ra khỏi cổng rồi mới leo lên xe. Vì mới đi lại xe đạp, cũng hơn trên mười năm, từ ngày gia đình nàng sắm chiếc Honda dame, nàng không đi xe đạp nữa, nên nàng lái lạng quạng lúc đầu. Đường trong xóm buổi sáng vắng người nên cũng đỡ lo. Khi đạp xe đến đường tỉnh lộ, nàng thấy tay lái mình mới nhuần nhuyễn đôi chút. Buổi sáng sớm nên ít người đi lại trên đường, một vài chiếc xe đạp thồ chạy ngược chiều, một vài người quang gánh đi chợ Chiên Đàn sớm. Trời se lạnh, gió mát thổi rì rào trên các lùm cây. Một đêm đã qua và một ngày mới bắt đầu.

Nàng đạp xe vô đến Kỳ Hương là thấy mình đã quá mệt, mồ hôi mồ kê chảy ra ướt cả vạt áo sau lưng. Nại Hiên thở mạnh, cố dấn bàn chân đạp mạnh lên pedal xe. Chiếc xe đã cũ nên nặng trình trịch. Nại Hiên quẹo xe theo hướng tòa hành chánh tỉnh cũ. Cách đây hơn khoảng năm tháng thôi, khu vực này là tỉnh lỵ Quảng Tín. Có mấy lần nàng đã đến đây, đến với Soại bằng trên chiếc xe jeep của anh, trong những lúc anh đi công tác liên lạc Trung Đoàn với Tiểu Khu. Anh đã chở nàng đến đây và bảo nàng vào quán cà phê ngồi đợi anh. Anh quay lại một vài tiếng sau đó, rồi hai người cùng đi ăn phở hoặc mì Quảng. Nơi này, với nàng tuy đã biết qua, nhưng nay thì rất lạ. Chỉ cách đây trên năm tháng, đây là nơi các ty, sở của tòa hành chánh tỉnh. Bây giờ đã đổi chủ. Nơi nào của đơn vị quân đội cũ nay đều đổi tên “Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” với màu chữ vàng trên nền đỏ chói.

Nại Hiên loay hoay trên đường lên tòa hành chánh. Nàng nhớ lời hướng dẫn của ông hiệu trưởng trong trường hôm nọ. Phòng Giáo Dục bây giờ là Cơ Sở Học Chánh ngày trước. Nại Hiên đi theo trí nhớ của những năm tháng cũ, khi nàng ra trường sư phạm về trình diện ở Sở Học Chánh. Những hàng cây dương liễu, bạch đàn, trồng hai bên đường theo gió reo vi vu. Một cơn gió mát thổi qua làm nàng thấy khoẻ lại đôi chút. Đạp xe trên đoạn đường tám cây số, qua hai cây cầu bị gãy đổ phải dắt xe men theo bờ ruộng đi quanh. Bây giờ đã đến đây rồi, phải tiếp tục con đường đang đi, không thể quay lại được. Dù thế nào đi nữa nàng cũng phải cố gắng.

Nại Hiên mừng quýnh lên khi từ đàng xa nàng thấy tấm bảng màu xanh đậm có hàng chữ "Phòng Giáo Dục". Nàng đạp xe mau hơn, đôi mắt nháo nhác tim chỗ để xe, nàng dựa xe vào bậc thềm xi măng rồi khóa xe cẩn thận lại. Nàng bỗng bật cười khan. Chiếc xe đạp cà tàng thế này mà bây giờ quý quá, không có nó là không làm gì được, mất là không có tiền đền cho chị Kim. Khóa xong xe nàng bước lên thềm đi đến Phòng Giáo Dục.
Văn phòng chỉ có hai người làm việc. Cách trang trí thô sơ, giản dị. Những cái bàn gỗ với những xấp hồ sơ. Trên tường là tấm hình ông Hồ với chòm râu bạc và câu châm ngôn kẻ màu vàng trên tấm vải đỏ: Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do.
 
 
Trần Yên Hòa
(còn tiếp)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, April 16, 20217:46 AM(View: 93)
-Trần Quang Soại. -Có mặt. -Ra khỏi hàng, hôm nay anh được phép ở nhà thăm gặp, anh có thân nhân lên thăm. Soại bàng hoàng khi nghe lời nói của quản giáo Giản. Chuyện bất ngờ quá trong suốt hơn ba năm tập trung cải tạo. Trong đám “con bà phước” ở đây, Soại là người đầu đàn.
Wednesday, March 31, 20217:45 PM(View: 269)
Theo sự chỉ dẫn của chị Kim, Nại Hiên đi mua mấy cái rổ tre, mấy cái thúng. Đó là những vật dụng để nàng đi buôn hang xáo. Chị Kim nói: -Em đạp xe lên vùng trên, vô mấy xóm quê,
Saturday, March 20, 202110:07 AM(View: 350)
Buổi chiều thứ bảy trại được nghỉ không đi lao động. Long Khánh đã vào mùa khô. Tết đã đi qua. Mùa hè đã đến. Nóng rang người. Không khí ẩm, khô khốc. Đám cải tạo vẫn chưa được thăm nuôi lần nào dù đã gần một năm tập trung.
Wednesday, March 10, 20219:35 AM(View: 374)
Văn phòng trường trung học chỉ có ba người thường xuyên có mặt. Ông hiệu trưởng tám Thọ tức Nguyễn Văn Thọ ngồi trong bàn bên trong. Ông Ngân, giám thị, ngồi bàn bên ngoài và Nại Hiên, thư ký, ngồi bàn ngoài cùng. Hàng ngày, Nại Hiên đến lúc bảy giờ sáng.
Saturday, March 6, 20218:51 AM(View: 371)
Buổi sáng đám quản giáo, vệ binh ùn ùn kéo vào doanh trại ra lệnh tất cả cải tạo viên gọn gàng đồ đạc, rồi ra ngoài sân tập họp. Niệm nói với Soại: -Chuyện gì nữa đây, mình ở đây đã hơn ba tháng. Chắc có thay đổi, hay họ sẽ cho mình về?